BÀI TIỂU LUẬN MÔN BẢO MẬT : VẤN ĐỀ XÁC THỰC THÔNG TIN VÀ CHỮ KÝ SỐ - Pdf 20

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM
BÀI TIỂU LUẬN MÔN BẢO MẬT
TÊN ĐỀ TÀI : VẤN ĐỀ XÁC THỰC THÔNG TIN VÀ CHỮ KÝ SỐ

GIẢNG VIÊN: TH.S TRƯƠNG VĂN THÔNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
TRẦN MINH VŨ – 09261231
1
MỤC LỤC
TÊN ĐỀ TÀI : VẤn đỀ xác thỰc thông tin và ChỮ ký sỐ 1
1
MỤC LỤC 2
I.Vấn đề xác thực thông tin: 3
A.Phân loại xác thực 3
B.Các nhân tố xác thực 4
C.Xác thực mạnh nhiều yếu tố 4
D.Một vài công cụ xác thực 5
II.Chữ ký số: 10
A.Khái quát về chữ ký điện tử 10
B.Vấn đề an toàn của chữ ký điện tử 11
C.Ứng dụng 13
D.Cơ sở hạ tầng về mật mã khóa công khai 15
2
I. Vấn đề xác thực thông tin:
Xác thực (Authentication protocols) là một hành động nhằm thiết lập hoặc
chứng thực một cái gì đó (hoặc một người nào đó) đáng tin cậy, có nghĩa là, những
lời khai báo do người đó đưa ra hoặc về vật đó là sự thật. Xác thực một đối tượng
còn có nghĩa là công nhận nguồn gốc của đối tượng, trong khi, xác thực một người
thường bao gồm việc thẩm tra nhận dạng của họ. Việc xác thực thường phụ thuộc
vào một hoặc nhiều nhân tố xác thực (authentication factors) để minh chứng cụ
thể.

chứng minh thư (ID card), chứng chỉ an ninh (security token), chứng chỉ phần
mềm (software token) hoặc điện thoại di động (cell phone)
Những gì người dùng biết (Something the user knows): chẳng hạn, mật
khẩu, mật khẩu ngữ (pass phrase) hoặc số định danh cá nhân (PIN)
C. Xác thực mạnh nhiều yếu tố
Hình thức xác thực dựa vào những gì thực thể biết (mã định danh PIN, mật
khẩu ) bộc lộ nhiều hạn chế, vì trí nhớ của con người là có hạn, không thể cùng
một lúc nhớ được quá nhiều thông tin. Hơn thế nữa, những thứ mà người dùng biết
để đăng nhập hệ thống là những thứ được sử dụng lại nhiều lần mỗi khi xác thực,
có thể vì một lý do nào đó thông tin này bị nghe trộm hay lộ ra ngoài và kẻ xấu rất
dễ lợi dụng những sơ hở đó để giả danh người dùng nhằm thực hiện những hành vi
bất hợp pháp. Những hệ thống xác thực như vậy được gọi là xác thực yếu, cần
phải có một giải pháp an toàn hơn việc sử dụng đi sử dụng lại nhiều lần một cách
đăng nhập. Một tổ hợp của những phương pháp trên được kết hợp để sử dụng,
chẳng hạn, thẻ ngân hàng kết hợp với số định danh cá nhân PIN. Trong những
trường hợp này, thuật ngữ được dùng là xác thực hai nhân tố (two-factor
authentication).
Trong lịch sử, vết lăn tay được dùng là một phương pháp xác minh đáng tin
nhất, song trong những vụ kiện tòa án gần đây ở Mỹ và ở nhiều nơi khác, người ta
đã có nhiều nghi ngờ có tính chất căn bản, về tính đáng tin cậy của dấu lăn tay.
Những phương pháp sinh trắc khác được coi là khả quan hơn (quét võng mạng
4
mắt và quét vết lăn tay là vài ví dụ), song có những bằng chứng chỉ ra rằng những
phương pháp này trên thực tế dễ bị giả mạo.
Trong ngữ cảnh của dữ liệu máy tính, nhiều phương pháp mật mã đã được
xây dựng như chữ ký số và phương pháp xác thực bằng thử thách-trả lời
(challenge-response authentication). Đây là ví dụ về vấn đề không thể giả mạo
được nếu chìa khóa của người khởi thủy không bị thỏa hiệp. Rằng việc người khởi
thủy hay bất cứ ai ngoài kẻ tấn công biết (hoặc không biết) về một sự thỏa hiệp
nào đấy là một việc chẳng có dính dáng gì hết. Không ai có thể chứng minh được

này là văn bản số). Việc giả mạo và sao chép lại đối với văn bản số là việc hoàn
toàn dễ dàng và không thể phân biệt được bản gốc với bản sao. Vậy một chữ ký ở
cuối văn bản loại này không thể chịu trách nhiệm đối với toàn bộ nội dung văn
bản. Một chữ ký thể hiện trách nhiệm đối với toàn bộ văn bản phải là chữ ký được
ký trên từng bit văn bản.
Chữ ký số có thể được kiểm tra nhờ dùng một thuật toán kiểm tra công khai.
Như vậy, bất kỳ ai cũng có thể kiểm tra được chữ ký số.
Chứng chỉ số
Chứng chỉ số là một “chứng nhận” khóa công khai của thực thể nào đó. Nó
bao gồm khoá công khai của thực thể và các thông tin định danh của thực thể. Hai
thành phần này gắn kết với nhau thông qua chữ ký của nhà phát hành chứng chỉ.
Chứng chỉ số đảm bảo một cách chính xác đối tượng với những thông tin
định danh tường minh trên, nó sở hữu một khoá bí mật tương ứng. Dựa vào điều
kiện trên mà đối tượng có thể truy cập vào các hệ thống xác thực, hoặc thực hiện
các kết nối an toàn.
Chứng chỉ số chỉ có ý nghĩa khi nó đựơc ký bởi nhà phát hành chứng chỉ
(Certificate Authority - CA). Bởi nếu không có chữ ký của nhà phát hành chứng
chỉ thì không có mối liên hệ giữa khoá công khai của thực thể và thông tin định
danh, đồng nghĩa chứng chỉ số vô giá trị. Như vậy chứng chỉ số phải tồn tại trong
một hệ thống mà ở đó nhà phát hành chứng chỉ là một nhân tố quan trọng. Mặt
khác chứng chỉ cũng có thời gian sử dụng nhất định nên nó cần được thu hồi khi
cần thiết và trạng thái thu hồi của chứng chỉ cũng phải được công bố rộng rãi cho
toàn bộ hệ thống thông qua danh sách thu hồi chứng chỉ (CRL - Certificate
Revocation List).
6
Trong mô hình xác thực bằng chứng chỉ. Người sử dụng có thể xác thực anh
ta bằng cách trình cho hệ thống chứng chỉ của chính mình. Thông qua chữ ký của
nhà phát hành chứng chỉ trên khoá công khai và các thông tin định danh, anh ta có
thể chứng minh rằng mình đang sở hữu một khoá riêng tương ứng. Khoá riêng
thường có giá trị rất lớn và thường được lưu trong các file được bảo vệ bởi mật

trở lại máy tính user. Lúc này máy tính user sẽ phản hồi lại username và password
được mã hóa. Server xác thực sẽ so sánh phiên bản xác thực user được lưu giữ với
phiên bản mã hóa vừa nhận, nếu trùng khớp, user sẽ có quyền truy cập. Bản thân
password không bao giờ được gửi qua network. Phương thức CHAP thường được
sử dụng khi user logon vào các remote servers của công ty chẳng hạn như RAS
server. Dữ liệu chứa password được mã hóa gọi là password băm (hash password).
Một gói băm là một loại mã hóa không có phương cách giải mã.
Kerberos
Xác thực Kerberos dùng một Server trung tâm để kiểm tra việc xác thực user
và cấp phát thẻ thông hành (service tickets) để user có thể truy cập vào tài nguyên.
Kerberos là một phương thức rất an toàn trong xác thực bởi vì nó dùng cấp độ mã
hóa rất mạnh. Kerberos cũng dựa trên độ chính xác của thời gian xác thực giữa
Server và Client Computer, và là nền tảng xác thực chính của nhiều hệ điều hành
như Unix, Windows…
Tokens
Tokens là phương tiện vật lý như các thẻ thông minh (smartcards) hoặc thẻ
đeo của nhân viên (ID badges) chứa thông tin xác thực. Tokens có thể lưu trữ số
nhận dạng cá nhân (PIN), thông tin về user, hoặc password. Các thông tin trên
token chỉ có thể được đọc và xử lý bởi các thiết bị đặc dụng, ví dụ như thẻ
smartcard được đọc bởi đầu đọc smartcard gắn trên máy vi tính, sau đó thông tin
này được gửi đến server để xác thực. Tokens chứa chuỗi text hoặc giá trị số duy
nhất thông thường mỗi giá trị này chỉ sử dụng một lần.
Smartcards là ví dụ điển hình về xác thực tokens. Một smartcard là một thẻ
nhựa có gắn một chip máy tính lưu trữ các loại thông tin điện tử khác nhau. Nội
dung thông tin của card được đọc với một thiết bị đặc biệt.
8
Biometrics
Biometrics (phương pháp nhận dạng sinh trắc học) là mô hình xác thực dựa
trên đặc điểm sinh học của từng cá nhân. Quét dấu vân tay (fingerprint scanner),
quét võng mạc mắt (retinal scanner), nhận dạng giọng nói (voice-recognition),

được công bố rộng rãi cho mọi người và được sử dụng để mã hoá, còn khoá bí mật
thì được giữ kín và được sử dụng để giải mã.
B. Vấn đề an toàn của chữ ký điện tử
Chữ ký điện tử đã được ứng dụng và biết đến từ khá lâu. Việt Nam cũng đã
triển khai. Theo nghị định 44 của Chính phủ, từ năm 2002 đã thừa nhận các yếu tố
của chứng từ điện tử và chữ ký điện tử trong thanh toán của hệ thống ngân hàng.
Luật Giao dịch điện tử Việt Nam, điều 4 định nghĩa:
 Chứng thư điện tử là thông điệp dữ liệu do tổ chức cung cấp dịch vụ
chứng thực chữ ký điện tử phát hành nhằm xác nhận cơ quan, tổ
chức, cá nhân được chứng thực là người ký chữ ký điện tử.
 Chứng thực chữ ký điện tử là việc xác nhận cơ quan, tổ chức, cá
nhân được chứng thực là người ký chữ ký điện tử.
 Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh,
âm thanh hoặc dạng tương tự.
 Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận
và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử.
Vì vậy nhắc tới chữ ký điện tử, người ta nghĩ ngay đến sự an toàn và hữu
dụng. Chữ ký điện tử khác với các loại chữ ký khác như chữ ký tay rồi đưa quét
lên trên hình ảnh hoặc là những chữ ký nhận dạng sinh học. Chữ ký điện tử nó có
hai phần, thứ nhất là nó chứa mật khẩu của mình, chỉ một mình mình biết, phần
thứ hai là nó chứa những cái mã công cộng để tất cả mọi người thế giới đều có thể
sử dụng được, hai cái đấy kết hợp với nhau chắc chắn và bằng những thuật toán đã
được xác định.
11
Việc ứng dụng chữ ký số vào cuộc sống cũng không phải là một vấn đề quá
phức tạp. Ngay sau khi có nghị định của Chính phủ, ngành Ngân hàng đã ứng
dụng để thực hiện các giao dịch điện tử theo quy định chuẩn của Quốc tế. Một cơ
quan được giao trách nhiệm và cơ chế để quản lý hệ thống giao dịch điện tử đó là
Cục tin học Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Vậy thì, Cục tin học Ngân hàng đóng
vai trò gì trong những hoạt động TTĐT đã được thực hiện hoàn toàn tự động? Đó

nhân và nước ngoài khai thác dịch vụ này. Với kinh nghiệm của nước ngoài, đó
là việc của các công ty.
C. Ứng dụng
Một e-mail có thể được ký bằng chữ ký điện tử, đảm bảo người nhận có thể
chắc chắn rằng đó đúng là e-mail của người gửi, chứ không phải e-mail giả mạo.
Để làm được điều này, người gửi và người nhận sẽ phải sử dụng cùng một hệ
thống chứng thực số, do một Nhà cung cấp chứng chỉ số (Certificate Authority,
viết tắt là CA) cung cấp.
Trong thực tế, hình các chứng thực số được sử dụng nhiều nhất trong các
giao dịch TMĐT, đặc biệt trong các hoạt động thanh toán trực tuyến của ngân
hàng. Một website dịch vụ ngân hàng có thể khẳng định về tính xác thực của mình
với những người truy cập vào bằng cách sử dụng một hình thức chứng thực số,
đảm bảo website đó không phải là giả mạo.
Người sử dụng, ngoài hình thức bảo mật thông thường như mật khẩu, cũng
phải dùng một chứng thực số cá nhân để khẳng định danh tính của mình, xác nhận
các hoạt động giao dịch của mình với dịch vụ ngân hàng. Chứng thực số sẽ giúp
ngân hàng đảm bảo các khách hàng không thể chối cãi các giao dịch của mình, khi
họ đã dùng chứng thực số.
13
Các hoạt động liên ngân hàng (như chuyển khoản, thanh toán ) trong giao
dịch điện tử cũng đều phải sử dụng chứng thực số để xác định rõ danh tính của
mỗi bên, khẳng định trách nhiệm và các hoạt động của từng bên trong giao dịch.
Đây là quy trình bảo mật quan trọng, cũng như cơ sở về mặt pháp lý để căn cứ khi
thực hiện các hoạt động giao dịch trực tuyến.
Không chỉ nằm trong lĩnh vực TMĐT, chứng thực số hiện còn được sử dụng
như một dạng chứng minh thư cá nhân. Tại các nước công nghệ phát triển, chứng
thực số CA được tích hợp vào các chip nhớ nằm trong thẻ căn cước, thẻ tín dụng
để tăng cường khả năng bảo mật, chống giả mạo, cho phép chủ thẻ xác thực danh
tính của mình trên nhiều hệ thống khác nhau, chẳng hạn như xe bus, thẻ rút tiền
ATM, kiểm soát hải quan, ra vào chung cư .v.v.

15
Hình 3. Sơ đồ một hệ thống PKI
Cơ sở hạ tầng về mật mã khóa công khai (Public Key Infrastructure - PKI) có
thể hiểu là: tập hợp các công cụ, phương tiện cùng các giao thức bảo đảm an toàn
truyền tin cho các giao dịch trên mạng máy tính công khai. Đó là nền móng mà
trên đó các ứng dụng, các hệ thống an toàn bảo mật thông tin được thiết lập.
Nhà cung cấp chứng thực số CA
Những bức tranh hay những chiếc đĩa CD âm nhạc, nếu chữ ký trên bức
tranh và trên đĩa CD đấy không được đăng ký với cơ quan nào, chỉ là ký chơi thôi
thì chữ ký đó không có ý nghĩa về mặt pháp lý. Thế nhưng, nếu bạn đăng ký bản
quyền bức tranh và ký chữ ký của mình với cơ quan đăng ký bản quyền thì chính
chữ ký đó lại có giá trị.
16
Tương tự như vậy, chữ ký điện tử nếu có giá trị về mặt pháp lý thì phải được
đăng ký và được hoạt động trong một lĩnh vực nào đó mới có tác dụng về mặt
pháp lý. Và đó là công việc của những cơ quan xác thực. Nếu Cục tin học thống kê
ngân hàng là một cơ quan xác thực chữ ký điện tử từ năm 2002 thì đến cuối năm
2003 công ty phần mềm và truyền thông VASC là đơn vị thứ hai tại Việt Nam
cung cấp dịch vụ xác thực chữ ký điện tử cho ngân hàng ACB. Tuy nhiên, xung
quanh vấn đề này vẫn còn nhiều điều cần cụ thể hơn.
Hình 4. Mô hình kiến trúc CA phân cấp
Trong kiến trúc này, các CA đều nằm dưới một CA gốc (RootCA). Root CA
cấp chứng chỉ cho các CA thứ cấp (SubCA) và các user. SubCA cấp chứng chỉ
cho user thuộc tổ chức của mình. Trong mô hình này, tất cả các đối tượng trong hệ
thống đều phải biết khoá công khai của RootCA. Tất cả các chứng chỉ số đều có
thể được kiểm chứng bằng cách kiểm tra đường dẫn của chứng chỉ số đó đến
RootCA.
Trong kiến trúc của hệ thống CA này, tất cả các đối tượng đều dựa trên sự tin
cậy đối với CA gốc duy nhất. Khoá công khai của RootCA phải được phân phát
cho các đối tượng đã được xác thực để đảm bảo sự tin cậy trong hệ thống. Sự tin


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status