TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
THUYẾT TRÌNH MÔN HỌC
TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
& CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT
Nhóm số 5, lớp CH23 – Đêm 4
TP. HCM, THÁNG 11/2013
2
DANH SÁCH NHÓM THUYẾT TRÌNH: NHÓM 5
STT HỌ VÀ TÊN MSHV
1 Bùi Ngọc Dung 7701230375
2 Vương Đình Hiếu 7701230501
3 Đặng Thanh Hưởng 7701231328
4 Nguyễn Quốc Khánh 7701230589
5 Võ Thị Ngọc Phương 7701230818
6 Nguyễn Thị Thu Thảo 7701231497
7 Lê Nguyễn Quỳnh Thoa 7701230993
8 Nguyễn Thị Mai Trinh 7701231543
9 Nguyễn Thị Thanh Trúc 7701231101
10 Nguyễn Trung Kiên 7701231330
3
GIỚI THIỆU 7
1. CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 8
1.1 Lý thuyết về cấu trúc tài chính 8
1.2 Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc tài chính 8
1.1.1 Tỷ suất nợ/Tổng tài sản: 8
1.1.2 Tỷ suất nợ/Vốn chủ sở hữu 9
1.1.3 Tỷ suất vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản 9
1.4.2 Đặc điểm của thông tin bất cân xứng 28
1.9 Lựa chọn đối nghịch và tác động của nó đến cấu trúc tài chính 29
1.4.3 Khái niệm Lựa chọn đối nghịch 29
1.4.4 Tác động của Lựa chọn đối nghịch đến thị trường tài chính 29
1.4.4.1 Trong giao dịch chứng khoán 29
1.4.4.2 Trong lĩnh vực ngân hàng 30
1.4.5 Các giải pháp hạn chế Lựa chọn đối nghịch 30
1.4.5.1 Sản xuất và bán thông tin 30
1.4.5.2 Can thiệp của Chính phủ 31
1.4.5.3 Hoạt động của các trung gian tài chính 31
1.4.5.4 Vật thế chấp và giá trị tài sản ròng 32
1.10 Rủi ro đạo đức và tác động của nó đến cấu trúc tài chính 33
1.4.6 Khái niệm Rủi ro đạo đức 33
1.4.6.1 Rủi ro đạo đức trong thị trường nợ 33
1.4.6.2 Rủi ro đạo đức trong thị trường Vốn 34
1.4.7 Ảnh hưởng của rủi ro đạo đức đến cấu trúc tài chính 35
1.4.7.1 Ảnh hưởng của rủi ro đạo đức trong hợp đồng vốn cổ phần: vấn đề người ủy thác – người đại diện 35
1.4.7.2 Ảnh hưởng của rủi ro đạo đức đến cấu trúc tài chính trong thị trường nợ 35
1.4.8 Các giải pháp hạn chế rủi ro đạo đức 37
1.4.8.1 Các công cụ giải quyết vấn đề Người ủy thác – Người đại diện 37
1.4.8.2 Các giải pháp giải quyết ảnh hưởng của rủi ro đạo đức trong các hợp đồng nợ 38
1.11 Quản lý Trung gian tài chính 40
1.4.9 Mâu thuẫn lợi ích 40
1.4.9.1 Mâu thuẫn lợi ích là gì? 40
1.4.9.2 Tại sao mâu thuẫn về lợi ích gia tăng 40
1.4.9.3 Các biện pháp đối phó với mâu thuẫn lợi ích 41
1.4.10 Quản lý các Trung gian tài chính 42
1.4.10.1 Hạn chế về gia nhập 42
5
1.4.10.2 Minh bạch trong thông tin 42
Trong quá trình nghiên cứu, do có một số hạn chế nhất định về kiến thức, thông tin cũng như thời
gian thực hiện nên chắc chắn nhóm không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được những
ý kiến, góp ý và chỉ bảo thêm của thầy để tiểu luận của nhóm được hoàn chỉnh hơn. Xin trân trọng
cảm ơn thầy.
7
1. CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
1.1Lý thuyết về cấu trúc tài chính
Cấu trúc tài chính là cơ cấu hỗn hợp giữa các khoản nợ (ngắn hạn và dài hạn) và vốn chủ
sở hữu.
Trong đó:
• Nợ ngắn hạn là những khoản nợ có thời hạn thanh toán ngắn (thường dưới 12 tháng),
bao gồm: vay ngắn hạn, khoản phải trả, nợ tích lũy và nợ ngắn hạn khác,
o Vay ngắn hạn: là các khoản nợ vay ngắn hạn từ các định chế tài chính hay những
chủ nợ khác.
o Các khoản phải trả: là số tiền mà doanh nghiệp nợ người bán (người cung cấp) do
chính sách bán hàng trả chậm hoặc do doanh nghiệp cố tình chiếm dụng vốn trong
quá trình mua các yếu tố đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
o Nợ tích lũy: là các khoản phải nộp, phải trả nhưng chưa đến kỳ hạn thanh toán,
như: nợ lương của công nhân, nợ thuế của nhà nước, tiền điện, nước, điện thoại,
• Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian thanh toán từ hơn 12 tháng trở lên, bao
gồm: nợ vay từ các định chế trung gian tài chính, hay phát hành trái phiếu công ty.
• Vốn chủ sở hữu, bao gồm vốn ban đầu (vốn điều lệ, vốn tự có, vốn góp), vốn bổ sung
(là vốn huy động được từ việc bán cổ phần, hoặc được bổ sung từ lợi nhuận giữ lại
qua các năm tích lũy).
Như vậy ta có thể thấy rằng cấu trúc tài chính doanh nghiệp là một khái niệm phản ảnh
một bức tranh tổng thể về tình hình tài chính doanh nghiệp trên hai mặt là cơ cấu nguồn
vốn gắn liền với quá trình huy động vốn, phản ảnh chính sách tài trợ của doanh nghiệp và
cơ cấu tài sản gắn liền với quá trình sử dụng vốn, phản ảnh và chịu sự tác động của
những đặc điểm và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác nó cũng thể hiện
Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu. Tỷ
số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng
vay nợ; có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, nó cũng có thể
chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích
của hiệu quả tiết kiệm thuế.
1.1.3 Tỷ suất vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản
Tỷ số vốn chủ sở hữu trên tồng tài sản= 100%
x
Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản
Chỉ số này phản ánh khả năng tài trợ tổng tài sản từ vốn tự có của doanh
nghiệp. Tỷ số này cao chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp,
nhưng cũng cho thấy doanh nghiệp chưa tận dụng đòn bẩy tài chính nhiều.
9
1.3Cấu trúc vốn
1.1.4 Lý thuyết về cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình
thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương
tiện vật chất và hoạt động kinh doanh.
Nói một cách đơn giản, cấu trúc vốn là cơ cấu hỗn hợp giữa nợ dài hạn (trái phiếu
công ty và các khoản nợ trung dài hạn), vốn chủ sở hữu và lợi nhuận. Hay nói
cách khác, cấu trúc vốn là cấu trúc tài chính không tính đến những khoản nợ ngắn
hạn.
Nguồn vốn
+ Nợ ngắn hạn
Cấu trúc vốn
+ Nợ trung dài hạn
+ Vốn chủ sở hữu
tư ngại đầu tư vào doanh nghiệp.
• Phong cách, thái độ của nhà quản trị doanh nghiệp: các nhà quản trị doanh
nghiệp thận trọng thường ít sử dụng nợ trong tổng nguồn vốn của doanh
nghiệp.
1.1.5.3Lý do phải xây dựng cấu trúc vốn hợp lý
• Cấu trúc vốn có ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp, khi áp dụng cấu
trúc vốn khác nhau sẽ tạo ra giá trị doanh nghiệp và mức độ rủi ro khác
nhau.
• Sử dụng cấu trúc vốn tối ưu giúp cho doanh nghiệp đảm bảo khả năng
thanh toán, đạt được hiệu quả cao cho việc sử dụng vốn, giúp doanh nghiệp
tạo được uy tín đối với các nhà cung cấp vốn và nhà đầu tư tham gia góp
vốn.
• Cấu trúc vốn hợp lý trong từng giai đoạn kinh doanh mang lại lợi thế cạnh
tranh cho doanh nghiệp.
• Khi nhà quản trị tài chính quyết định thay đổi cấu trúc vốn của doanh
nghiệp, các thông tin từ sự thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp sẽ được
truyền ngay ra thị trường.
• Do các khoản nợ được giảm trừ khi tính thuế nên công cụ nợ còn được cho
là tấm chắn thuế. Như vậy, tấm chắn thuế làm gia tăng giá trị doanh nghiệp;
đặc biệt là trong hoàn cảnh tình hình tài chính khó khăn
Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp
không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên
quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của
quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường
cạnh tranh.
Cấu trúc vốn tối ưu liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của
doanh nghiệp. Tài trợ bằng vốn vay nợ tạo ra “lá chắn thuế” cho doanh nghiệp,
11
đồng thời giảm mức độ phân tán các quyết định quản lý (đặc biệt với số lượng
hạn chế cơ hội kinh doanh và đầu tư).
công ty không có vay nợ (V
U
), nghĩa là V
U
= V
L
.
12
Trong đó:
EBIT: lợi nhuận trước thuế và lãi vay
k: chi phí sử dụng vốn trung bình (WACC)
Mệnh đề này có thể phát biểu theo cách khác là trong điều kiện không có thuế,
giá trị công ty có vay nợ và không vay nợ là như nhau, do đó, cơ cấu nợ/vốn
(D/E) không có ảnh hưởng gì đến giá trị công ty. Vì vậy, không có cơ cấu vốn
nào là tối ưu và công ty cũng không thể nào tăng giá trị bằng thay đổi cơ cấu
vốn.
Mệnh đề II: chi phí sử dụng vốn
Theo M&M, doanh nghiệp sử dụng nợ càng nhiều thì lợi nhuận kỳ vọng trên
vốn cổ phần càng lớn để bù đắp rủi ro mà đòn bẩy tài chính có thể mang lại
cho vốn cổ phần và ngược lại.
Trong điều kiện không có thuế, dù thay đổi cơ cấu vốn hay tỷ số nợ thì chi phí
sử dụng vốn trung bình của doanh nghiệp cũng không thay đổi. Nghĩa là, khi
đó chi phí sử dụng vốn trung bình của doanh nghiệp có vay nợ bằng chi phí sử
dụng vốn trung bình của doanh nghiệp không có vay nợ.
Do đó, trong thị trường hoàn hảo không có chi phí giao dịch, các nhà đầu tư sẽ
không để doanh nghiệp hưởng lợi bằng cách tăng nợ. Các cổ đông có thể thay
đổi cấu trúc vốn chủ sở hữu và nợ của riêng họ mà không tốn chi phí để nhận
được cùng một mức lợi nhuận.
Về mặt toán học, mệnh đề M&M số II có thể được biểu diễn bởi công thức:
Trong đó:
bằng 100% vốn chủ sở hữu (E) thì chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là r
0
.
Mệnh đề M&M số I phát biểu như sau: Trong trường hợp có thuế thu nhập
doanh nghiệp, giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không có vay nợ
cộng với hiện giá của lá chắn thuế. Về mặt toán học, mệnh đề M&M số I trong
trường hợp có thuế được diễn tả bởi công thức:
Với:
V
U
=
0
)1(
k
TEBIT
C
−×
và V
L
=
k
TEBIT
C
)1(
−×
+ T
C
xD
Trong đó:
V
chủ nợ. Đến một điểm nào đó của tỷ số nợ, chi phí kiệt quệ tài chính sẽ vượt
qua lợi ích của lá chắn thuế, khi ấy giá trị công ty có vay nợ bắt đầu giảm dần.
Lý thuyết lợi nhuận hoạt động ròng
Lý thuyết này dựa trên các giả định:
• Thị trường tài chính hoàn hảo
• Không có thuế thu nhập doanh nghiệp
• Doanh nghiệp chia toàn bộ lợi nhuận cho chủ sở hữu, tốc độ tăng cổ tức bằng 0
Lý thuyết lợi nhuận họat động ròng cho rằng chi phí sử dụng vốn trung bình và
giá trị của công ty vẫn không đổi khi tỷ số đòn bẩy tài chính thay đổi. Khi đòn
cân nợ thay đổi thì chỉ có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thay đổi mà thôi.
Nhược điểm của lý thuyết này ngòai những giả định thiếu thực tế (thị trường
hòan hảo, không có thuế …) ngòai ra còn có một nhược điểm quan trọng khác
là giả định lãi suất tiền vay không đổi khi cơ cấu vốn thay đổi. Trong thực tế,
khi nợ tăng cả chủ nợ lẫn chủ sở hữu đều cảm thấy mức độ rủi ro gia tăng nên
họ sẽ yêu cầu giá phải trả cho khỏan tiền vay tăng dần theo mức độ rủi ro gia
tăng.
1.1.6 Đặc điểm của nợ và vốn trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp
1.1.6.1Nguồn vốn vay (Nợ)
Trong nền kinh tế thị trường, hầu như không doanh nghiệp nào hoạt động sản
xuất kinh doanh chỉ bằng nguồn vốn tự có mà đều phải hoạt động bằng nhiều
nguồn vốn, trong đó chủ yếu là nguồn vốn vay được sử dụng đáng kể.
Nguồn vốn vay là nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp và doanh
nghiệp phải thanh toán các khoản vay theo thời hạn cam kết và đồng thời phải
trả tiền lãi vay theo lãi suất thỏa thuận. Nguồn vốn vay mang một ý nghĩa rất
15
Hệ số nợ
Chi phí sử dụng nợ
WACC (Chi phí sử dụng vốn TB)
Chi phí sử dụng vốn CSH
CPSDV
này không phải từ chủ sở hữu.
Do các chủ sở hữu của doanh nghiệp
đóng góp
Doanh nghiệp phải hoàn trả nợ khi đáo
hạn, ngoại trừ nguồn huy động từ tín
dụng ưu đãi.
Doanh nghiệp không phải hoàn trả tiền
vốn đã nhận từ chủ sở hữu, trừ khi
doanh nghiệp phá sản
16
Doanh nghiệp có thể phải thế chấp tài
sản hay nhờ bảo lãnh khi vay nợ.
Doanh nghiệp không phải thế chấp khi
huy động vốn.
Mức lãi suất phải trả cho các khoản vay
theo mức ổn định, được thỏa thuận khi
vay. Lãi vay là chi phí tài chính cố định,
được xác định trong hợp đồng vay vốn.
Lợi tức chia cho các chủ sở hữu tùy
theo quyết định của Hội đồng quản trị
và tùy thuộc vào mức lợi nhuận thu
được của công ty.
Ưu tiên thanh toán cao nhất
Dù doanh nghiệp hoạt động có lời hay
lỗ thì vẫn phải đảm bảo việc trả lãi và
gốc đúng hạn theo cam kết trong hợp
đồng vay vốn.
Ưu tiên thanh toán thấp nhất
Doanh nghiệp không bị ràng buộc trách
nhiệm phải hoàn trả vốn cũng như trả
17
bản thân họ) trong khoảng thời gian từ năm 1970-2000 như thế nào và so sánh với số liệu
tương ứng của các nước Đức, Nhật và Canada.
Chú thích Hình 1: vốn từ ngân hàng chủ yếu bao gồm nguồn vốn từ các tổ chức nhận tiền
gửi; vốn phi ngân hàng chủ yếu bao gồm nguồn vốn từ các trung gian tài chính khác; trái
phiếu chủ yếu bao gồm các loại trái phiếu có thể giao dịch trên thị trường như trái phiếu
doanh nghiệp và các giấy tờ thương mại; cổ phiếu chủ yếu bao gồm các loại cổ phiếu mới
phát hành trên ra thị trường.
Hình 1- Những nguồn vốn từ bên ngoài cho lĩnh vực kinh doanh phi tài chính: So sánh giữa
các nước Mỹ, Đức, Nhật và Canada
Nếu chúng ta xem xét kỹ hơn về hệ thống tài chính trên thế giới, chúng ta có thể thấy 8 đặc
điểm cơ bản, trong đó có một số đặc điểm tương đối khác so với những gì chúng ta nghĩ và
cần được giải thích để chúng ta có thể hiểu hệ thống tài chính vận hành như thế nào.
• Cổ phiếu không phải là nguồn vốn từ bên ngoài quan trọng nhất đối với doanh
nghiệp. Bởi vì quá nhiều phương tiện thông tin đại chúng tập trung vào thị trường
chứng khoán nên nhiều người có ấn tượng rằng cổ phiếu là nguồn vốn từ bên ngoài
quan trọng nhất cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, Hình 1 cho thấy nguồn vốn từ cổ
phiếu chỉ chiếm phần nhỏ trong hệ thống tài chính các nước trên trong giai đoạn từ
1997-2000, ví dụ như ở Mỹ chỉ vào khoảng 11%.
• Phát hành các loại giấy nợ có thể giao dịch được và trái phiếu không phải là cách
chủ yếu để các doanh nghiệp có được nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh.
18
Quay lại Hình 1, ví dụ như ở nước Mỹ, nguồn vốn bên ngoài có được do phát hành
trái phiếu chiếm tỷ lệ 32%, cao hơn rất nhiều so với con số 11% của cổ phiếu. Tuy
nhiên, tính cả trái phiếu và cổ phiếu thì tổng cộng con số cũng chỉ là 43%, nghĩa là
chưa đầy 1 nửa nguồn vốn từ bên ngoài. Đặc điểm này cũng đúng với các nước khác
như trong Hình 1, thậm chí ở các nước khác thì tỷ lệ này còn nhỏ hơn nhiều so với
Mỹ.
• Nguồn tài chính gián tiếp, thông qua hoạt động của các trung gian tài chính, quan
trọng hơn nhiều lần so với nguồn tài chính trực tiếp mà các doanh nghiệp có được
từ thị trường chứng khoán cho hoạt động kinh doanh của mình. Các cá nhân và các
doanh nghiệp nhỏ không có danh tiếng thường gặp khó khăn trong việc huy động vốn
bằng cách phát hành các chứng khoán thị trường. Thay vào đó, họ thường vay vốn từ
các ngân hàng.
• Tài sản thế chấp là đặc điểm phổ biến trong các hợp đồng nợ cho cả các hộ gia đình
cũng như các doanh nghiệp. Tài sản thế chấp là loại tài sản được dùng để cầm cố
nhằm đảm bảo đối với người cho vay trong trường hợp người đi vay không có khả
năng trả được nợ. Các khoản nợ có thế chấp (hay còn gọi là nợ được đảm bảo, trái
nghĩa với nó là các khoản nợ không được đảm bảo như nợ thẻ tín dụng thì không có
tài sản thế chấp) là hình thức vay nợ chủ yếu trong nợ gia đình và cũng được áp dụng
rộng rãi trong kinh doanh. Phần lớn các khoản nợ gia đình tại Mỹ là nợ có thế chấp:
Ví dụ khi mua ô tô thì ô tô là tài sản thế chấp cho khoản vay mua ô tô, mua nhà thì
nhà là tài sản thế chấp cho khoản vay mua nhà. Thế chấp các tài sản thương mại hoặc
trang trại chiếm khoảng 25% trong các khoản vay của hoạt động kinh doanh phi tài
chính. Các loại chứng khoán doanh nghiệp và các khoản vay ngân hàng thường liên
quan tới tài sản thế chấp.
• Các hợp đồng nợ thường là các văn bản pháp luật hết sức phức tạp trong đó có
những hạn chế rất lớn về hành vi của người vay. Nhiều người suy nghĩ rằng hợp đồng
nợ chỉ đơn giản như những tờ giấy ghi nợ. Tuy nhiên trên thực tế thì hợp đồng nợ lại
hoàn toàn khác. Tại tất cả các quốc gia, trái phiếu hay các hợp đồng vay thường là
những văn bản pháp luật dài với những điều khoản (gọi là thỏa thuận giới hạn) giới
hạn hoặc ghi rõ những hoạt động mà người vay được phép tiến hành. Thỏa thuận giới
hạn không chỉ là đặc điểm của các hợp đồng nợ trong kinh doanh mà còn được áp
dụng trong nhiều hình thức vay nợ khác ví dụ như các hợp đồng vay mua ô tô và thế
chấp mua nhà cũng có những thỏa thuận yêu cầu người vay phải có sự đảm bảo nhất
định đối với các tài sản ô tô và nhà mua nhờ vốn vay.
20
3. CHI PHÍ GIAO DỊCH VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
1.4Lý thuyết về Chi phí giao dịch
1.3.1 Khái niệm
Trao đổi ngay lập tức Trao đổi bị trì hoãn
21
Các yếu tố làm chi phí giao dịch
THẤP
Các yếu tố làm chi phí giao dịch
CAO
Chi phí giám sát thấp Chi phí giám sát cao
Xử phạt ít tốn kém Xử phạt tốn kém
1.5Ảnh hưởng của chi phí giao dịch đến cấu trúc tài chính
Chi phí giao dịch là một trong những cản trở chính trong quá trình lưu thông vốn trên thị
trường tài chính. Phần lớn các khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế tồn tại dưới dạng
phân tán và nhỏ lẻ.
Trường hợp nhà đầu tư chỉ có một số tiền rất ít, chỉ có thể mua rất ít cổ phiếu; đồng thời
phải chịu phí môi giới (chi phí giao dịch), chi phí này chiếm tỷ trọng đáng kể trên giá trị
giao dịch. Vấn đề càng trở nên tồi tệ hơn nếu đem số tiền này đi đầu tư vào trái phiếu thì
giao dịch sẽ không thực hiện được hoặc chỉ mua được số lượng trái phiếu vô cùng nhỏ vì
mệnh giá trái phiếu thường lớn hơn mệnh giá cổ phiếu rất nhiều.
Một vấn đề khác đối với nhà đầu tư có số vốn nhỏ là danh mục đầu tư bị hạn chế do
không có khả năng đầu tư dàn trải hoặc nếu đầu tư vào nhiều danh mục sẽ làm tăng chi
phí giao dịch. Điều này khiến cho nhà đầu tư tập trung vốn vào một số ít danh mục đầu tư
nên độ rủi ro rất cao.
Nếu sử dụng kênh đầu tư trực tiếp diễn ra giữa những người thừa vốn (cung vốn) và
những người cần vốn (cầu vốn) thì chi phí tìm kiếm giao dịch là rất cao (đây cũng là một
dạng chi phí giao dịch) và tiềm ẩn vô số rủi ro. Và để tránh rủi ro người cung vốn phải
chịu thêm chi phí pháp lý cho hợp đồng tín dụng (là chi phí thực thi- cũng là một dạng
chi phí giao dịch).
Như vậy, với những khoản vốn nhỏ, trong khi chi phí giao dịch lớn sẽ làm tan biến khoản
lợi tức thu được từ đầu tư. Hay nói cách khác, những người có số vốn nhỏ thì khó tiếp
cận với thị trường tài chính để kiếm lời bởi chi phí giao dịch quá cao.
Về phía người cần vốn, khoản chi phí cho phát hành chứng khoán không phải là nhỏ; nếu
Các trung gian tài chính thường có tính chuyên nghiệp cao thể hiện trên tất cả các
phương diện như: có nghiệp vụ chuyên môn cao, xây dựng được quy trình chặt
chẽ, công nghệ và thiết bị hiện đại, dịch vụ tiện ích, dịch vụ thanh khoản dễ dàng,
tiện lợi, làm giảm đáng kể chi phí giao dịch.
Mặt khác, do chuyên nghiệp trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, các trung gian tài
chính sẽ có nhiều kinh nghiệm để quản lý vốn hiệu quả và có thể đề ra các giải pháp
nhằm làm giảm chi phí giao dịch, tăng mức sinh lời của vốn đầu tư.
23
1.7Tìm hiểu thêm về trung gian tài chính
1.3.6 Khái niệm về trung gian tài chính
Trung gian tài chính là cách gọi tắt các định chế tài chính trung gian, là các tổ
chức chuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ; với vai trò là
kênh tài chính trung gian, cung cấp các dịch vụ tài chính - tiền tệ; nhằm thu hút,
tập hợp các khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế cung ứng cho những người cần
vốn.
Như vậy, các trung gian tài chính đóng vai trò là trung gian, cầu nối tạo ra việc
luân chuyển vốn giữa những người có vốn với những người cần vốn.
1.3.7 Các loại hình trung gian tài chính
Có 3 loại hình trung gian tài chính:
• Các định chế có nhận tiền gửi
• Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng
• Các định chế trung gian đầu tư
1.3.7.1Các định chế có nhận tiền gửi
Các định chế trung gian có nhận tiền gửi là các trung gian tài chính thực hiện
huy động tiền nhàn rỗi của các chủ thể có vốn để cung cấp vốn cho những chủ
thể cần vốn (chủ yếu dưới hình thức cho vay trực tiếp).
Các chủ thể có vốn hoặc cần vốn là những hộ gia đình, các tổ chức kinh tế
hoặc chính phủ (kể cả chính quyền địa phương và Nhà nước).
Các định chế có nhận tiền gửi bao gồm các loại hình tổ chức sau:
o Các ngân hàng thương mại
(không phải là thành viên) vay phải được Hội đồng thành viên chấp
thuận và không được vượt quá tỷ lệ cho vay tối đa do ngân hàng nhà
nước quy định.
1.3.7.2Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng
Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng, như là các công ty bảo hiểm và các quỹ
trợ cấp là những trung gian tài chính thu nhận vốn theo định kỳ trên cơ sở các
hợp đồng đã ký kết với khách hàng. Do họ có thể dự tính một cách đủ chính
xác là họ sẽ phải thanh toán hết bao nhiêu trong các năm tới, họ không phải lo
lắng nhiều như các tổ chức gửi tiền về việc hụt vốn. Do vậy, tính chất lỏng của
các tài sản có không được coi là quan trọng đối với họ như là đối với các tổ
chức gửi tiền, và họ có xu hướng muốn được đầu tư vốn của họ trước hết vào
các chứng khoán dài hạn như trái khoán công ty, các cổ phần và các khoản cho
vay thế chấp.
Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng bao gồm:
o Các công ty bảo hiểm nhân thọ
Các công ty bảo hiểm sinh mạng bảo đảm cho dân chúng đề phòng các
rủi ro về tài chính sau một cái chết và bán các trợ cấp hàng năm (thanh
25