Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
2. Mục tiêu nghiên cứu:
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4. Phương pháp nghiên cứu:
5. Nguồn số liệu:
6. Kết cấu:
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
I. Một số khái niệm:
1. Khái niệm thị trường:
2. Khái niệm thị trường lao động:
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung cầu trên thành thị trường lao động.
II.Các đặc điểm của thị trường lao động.
III.Các điều kiện hình thành và phát triển thị trường lao động:
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
I. Giới thiệu sơ bộ về Thành phố Hồ Chí Minh:
1. Vài nét về tình hình thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh:
2. Sơ lược thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh.
II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
1. Quan hệ cung - cầu lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh:
2. Các kết quả của thị trường :
3. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
4. Các chính sách thị trường lao động
5. Các cơ quan giao dịch và hình thức giao dịch trên thị trường lao động.
III. MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH:
1. Tích cực:
2. Hạn chế:
Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội, cũng như tiền đề cho sự phát triển kinh tế ngày lớn mạnh
hơn. Tuy gặp rất nhiều những khó khăn nhưng chắc chắn các nhân tố trên sẽ tác động
mạnh mẽ đến thị trường lao động, cơ hội việc làm, tính cạnh tranh trong việc khai thác
sử dụng nguồn lao động, đặc biệt là lao động chất xám, kỹ thuật cao.
Mảng đề tài “Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh” với mục đích giúp cho
người sử dụng lao động, người lao động … biết được rõ hơn về định hướng cũng như
thực trạng của thị trường lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đề tài nhóm chúng
em đã sử dụng các nguồn tài liệu, tham khảo và số liệu cụ thể như: giáo trình Thị
trường lao động (trường ĐH Lao Động- Xã Hội), các tài liệu tham khảo trên các mạng
thông tin điện tử.
Đề tài gồm có 3 chương xoay quanh những vấn đề liên quan đến thị trường lao
động thành phố Hồ Chí Minh, nhóm thực hiện gồm có hai thành viên: Nguyễn Thị
Ngọc Lan và Nguyễn Thị Thành Ngân. Lớp ĐHLT08 –NL2. Đây là lần đầu tiên
nghiên cứu đề tài nhằm đáp ứng cho việc kết thúc môn Thị trường lao động. Trong nội
dung chắc chắn còn có những khiếm khuyết, rất mong được sự góp ý của quý thầy cô
bộ môn, để chúng em thực hiện được tốt hơn.
Nhóm xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Ngọc Tuấn bộ môn, khoa Quản lý
lao động đã giúp đỡ cung cấp các kiến thức kỹ năng để nhóm em hoàn thành tốt đề tài
này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Năm 2010, nguồn nhân lực Thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh có trên
4,9 triệu người, chiếm tỷ lệ 66,21% dân số ở thành phố. Tổng số lao động làm việc
trong các khu vực kinh tế có trên 3,5 triệu người, trong đó tổng số người đến tuổi lao
động hàng năm bao gồm người ở tại thành phố và người từ các tỉnh, thành phố khác
chuyển đến có nhu cầu đào tạo nghề và tìm việc làm có trên 300.000 người. Tỷ lệ lao
động thất nghiệp tại thành phố ở mức 5,10 % - 5,20%. Thị trường lao động thành phố
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 3
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
Hồ Chí Minh hiện có trên 50.000 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp trong nước
- Phân tích, đánh giá:
5. Nguồn số liệu:
- Lấy số liệu giáo trình môn thị trường lao động của trường “Đại Học Lao Động Xã Hội
– CS2”
- Các trang thông tin liên quan tới thị trường trên trong các trang báo điện tử.
6. Kết cấu:
Gồm: 3 phần
- Phần mở đầu
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 4
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
- Phần nội dung: 3 chương
*Chương 1: Khái quát về thị trường lao động
*Chương 2: Thực trạng thị trường lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh
*Chương 3: Các nhận định và biện pháp ổn định cho thị trường lao động Thành phố Hồ
Chí Minh.
- Phần nhận xét và kiến nghị
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
I. Một số khái niệm:
1. Khái niệm thị trường:
• Theo Adam Smit: “ Thị trường là không gian trao đổi, trong đó người mua và
người bán gặp nhau thoả thuận trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó”.
• Theo David Begg: “ Thị trường là tập hợp những thỏa thuận, trong đó người
mua và người bán trao đổi nhau loại hàng hóa dịch vụ nào đó”.
2. Khái niệm thị trường lao động:
• Theo Leo Maglen (ABD): “ Thị trường lao động là hệ thống trao đổi giữa những
người có việc làm hoặc người đang tìm việc (cung lao động) với những người
đang sử dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động để sử dụng và cầu lao
động).
• Theo ILO: “Thị trường lao động là thị trường trong đó các dịch vụ lao động
động có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm công việc nội trợ, hoặc không
có nhu cầu làm việc (thất nghiệp tự nguyện).
Cung lao động chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như: quy mô và tốc độ tăng dân
số; định chế pháp lý về lao động; tình trạng thể chất của người lao động; vấn đề đào tạo
nghề nghiệp; và tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động vào thị trường lao động.
3.2. Cầu về sức lao động
Cầu về sức lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địa
phương, một ngành trong một thời gian nhất định. Nhu cầu này thể hiện qua khả năng
thuê mướn lao động trên thị trường. Cầu sức lao động phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ
tăng trưởng kinh tế và năng lực sản xuất. Tương tự cung lao động, cầu về sức lao động
cũng được phân thành hai loại cầu: cầu thực tế và cầu tiềm năng.
- Cầu thực tế về lao động là nhu cầu thực tế về lao động cần sử dụng tại một thời
điểm nhất định, thể hiện qua số lượng số việc làm còn trống và số chổ làm việc mới.
- Cầu tiềm năng về lao động là nhu cầu về lao động trong tổng số chổ làm việc có
thể có được sau khi đã tính đến những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo việc làm
trong tương lai như vốn, công nghệ …
Cầu về lao động bao gồm hai mặt, đó là: cầu về số lượng và cầu về chất lượng.
- Xét từ góc độ số lượng, trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì cầu về
lao động tỷ lệ thuận với quy mô sản xuất. Trái lại, trong trường hợp quy mô sản xuất
không đổi thì cầu về lao động tỷ lệ nghịch với năng suất lao động.
- Xét từ góc độ chất lượng, việc nâng cao năng suất lao động, hiện đại hóa công
nghệ sản xuất, mở rộng quy mô theo chiều ngang lẫn chiều sâu,… của doanh nghiệp
luôn gắn liền với việc nâng cao chất lượng lao động.
3.3. Giá cả sức lao động:
Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động dưới dạng tiền
lương hay tiền công. Giá cả hàng hoá sức lao động cũng chịu ảnh hưởng bởi các quy
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 6
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
luật chung của thị trường. Khi cung sức lao động vượt quá cầu, giá cả sức lao động sẽ
thấp hơn giá trị sức lao động. Ngược lại, khi cung sức lao động không đáp ứng đủ cầu,
4. Giá cả không phải là tín hiệu duy nhất để điều chỉnh quan hệ cung - cầu lao
động:
Chính phủ điều tiết thị trường lao động bằng:
Tiền lương tối thiểu chung toàn quốc, tiền lương tối thiểu ngành, tiền lương tối
thiểu vùng.
Các tiêu chuẩn lao động.
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 7
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
Các chuẩn mực quan hệ lao động.
5. Thị trường lao động hoạt động đa dạng với nhiều phân lớp khác nhau :
Căn cứ vào các tiêu thức, thị trường lao động được chia thành các bộ phận.
Trên thị trường lao động có thể ở vùng này, vùng khác hoặc khu vực này, khu vực
khác, mức độ hoạt động của qui luật cung - cầu lao động có thể khác nhau, sôi động
hoặc kém sôi động.
Sự giới hạn về địa lý theo vùng, khu vực của thị trường lao động đặt ra vấn đề
phải nghiên cứu các dòng di chuyển và mối liên kết cung - cầu lao động các vùng, khu
vực. Khi không có liên kết thì thị trường lao động bị chia cắt, tạo ra sự phân mảng
(phân đoạn) thị trường lao động.
6.Vị thế yếu hơn của người lao động trong đàm phán trên thị trường lao động:
Ở các nước đang phát triển, thông thường những người tìm việc làm nhiệu hơn
những việc sẵn có.
Người lao động đi tìm việc không có hoặc không đủ tý liệu sản xuất, trong khi
đó người sử dụng lao động có nhiều khả năng chờ đợi và lựa chọn hơn.
Đối với các loại lao động khan hiếm trên thị trường lao động như lao động lành
nghề cao, lao động đòi hỏi khả năng đặc biệt thì vị thế của người lao động đạt được
sự cân bằng hơn với người sử dụng lao động.
7. Trong quá trình mua, bán sức lao động có thể xây dựng mối quan hệ lao động
tích cực
Trên cõ sở các qui định của pháp luật lao động, các doanh nghiệp, cõ quan xây
dựng, ban hành các qui định nội bộ hýớng vào duy trì, phát triển các mối quan hệ lao
lao động
Người sử dụng lao động phải có quyền tự do mua sức lao động theo nhu cầu,
yêu cầu về số lượng, chất lượng, cõ cấu lao động để đảm bảo cho các chỗ làm việc
trong các cõ sở sản xuất, kinh doanh của mình.
Người lao động phải có toàn quyền sở hữu sức lao động của mình. Quyền bán
hay không bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động phải hoàn toàn do
bản thân người lao động tự quyết định.
4.Có môi trường pháp lý bình đẳng, thuận lợi
Nhà nước cần phải tạo môi trường pháp lý bình đẳng giữa các khu vực kinh tế
thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách, quy định pháp luật liên quan đến sự phát
triển của thị trường lao động.
Nhà nước phải ban hành và hoàn thiện các thể chế, quy định về trách nhiệm,
nghĩa vụ, quyền lợi giữa hai chủ thể là người sử dụng lao động và người lao động, hình
thành và phát huy vai trò của cõ chế ba bên giữa nhà nước, chủ sử dụng lao động, đại
diện người lao động.
5.Hội nhập với thị trường lao động quốc tế
Tác động nâng cao tính linh hoạt, hiệu quả của các yếu tố cung, cầu lao động và
do đó thúc đẩy được sự phát triển của thị trường lao động trong nước.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
I. Giới thiệu sơ bộ về thành phố Hồ Chí Minh:
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 9
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
Sau 1975, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa bị xóa bỏ và Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam - nằm dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam - quản lý miền Nam. Đầu năm 1976, Đảng bộ và Ủy ban Nhân dân thành phố
bắt đầu hoạt động. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam
thống nhất quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đồng
thời đổi tên Sài Gòn thành "Thành phố Hồ Chí Minh", theo tên cuối cùng của chủ tịch
nước đầu tiên, Hồ Chí Minh.
trách nhiệm quản lý về mọi hoạt động chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa trên địa bàn
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 10
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
thành phố. Đứng đầu Ủy Ban Nhân dân gồm một Chủ tịch và các Phó chủ tịch. Các sở,
ngành của Ủy ban Nhân dân sẽ quản lý về các lĩnh vực cụ thể, như y tế, giáo dục, đầu
tư, tư pháp, tài chính. Tương tư, cấp quận, huyện cũng có Hội đồng Nhân dân và Ủy
ban Nhân dân chịu sự chỉ đạo chung của cấp thành phố. Ngoài ra, Ủy ban Nhân dân còn
quản lý một số tổng công ty trên địa bàn thành phố.
Bên cạnh Chủ tịch Hội đồng Nhân dân và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, đảng bộ
Đảng Cộng sản Việt Nam tại thành phố còn bầu ra Bí thư Thành ủy. Quyền hạn và
trách nhiệm của Bí thư Thành ủy được quy định theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vào năm 1995, hệ thống quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh có 976 địa chỉ, trong đó 47 thuộc trung ương, 73 thuộc thành phố, 549 thuộc các
quận, huyện và 307 thuộc cấp phường xã. Các tổ chức đoàn thể, chính trị bao gồm cấp
trung ương và thành phố có 291 địa chỉ, các đơn vị sự nghiệp có 2.719 địa chỉ.
Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành phố
chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản
phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài
[34]
. Vào năm
2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài
độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc
[35]
. Năm 2008, thu nhập bình quân
đầu người ở thành phố đạt 2.534 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước,
1024 USD/năm.
Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ,
thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu
kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%,
cũng gây khó khăn cho nền kinh tế. Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới
các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn.
Xã hội
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số
7.162.864 người, gồm 1.812.086 hộ dân, bình quân 3,95 người/hộ. Phân theo giới tính:
Nam có 3.435.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.727.130 người chiếm 52,03% . Dân số
thành phố tăng nhanh, trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành phố tăng thêm
2.125.709 người, bính quân tăng hơn 212.000 người/năm, tốc độ tăng 3,54%/năm,
chiếm 22,32% số dân tăng thêm của cả nước trong vòng 10 năm. Quận Bình Tân có dân
số lớn nhất với 572.796 người, tương đương với dân số một số tỉnh như: Quảng Trị,
Ninh Thuận; huyện Cần Giờ có dân số thấp nhất với 68.213 người. Không chỉ là thành
phố đông dân nhất Việt Nam, quy mô dân số của Thành phố Hồ Chí Minh còn hơn
phần lớn các thủ đô ở châu Âu ngoại trừ Moscow và London. Theo số liệu thống kê
năm 2009, 83,32% dân cư sống trong khu vực thành thị và Thành phố Hồ Chí Minh
cũng có gần một phần năm là dân nhập cư từ các tỉnh khác. Cơ cấu dân tộc, người Kinh
chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp theo tới người Hoa với 6,69%, còn lại là các dân
tộc Chăm, Khmer Những người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các
quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận 5, 6, 8, 10, 11 và có những đóng góp
đáng kể cho nền kinh tế thành phố.
Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều, ngay cả các quận
nội ô. Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km² thì
các quận 2, 9, 12 chỉ khoảng 2.000 tới 6.000 người/km². Ở các huyện ngoại thành, mật
độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chỉ có 96 người/km². Về mức độ gia tăng dân số, trong
khi tỷ lệ tăng tự nhiên 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 1,9%. Theo ước tính năm
2005, trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu khách vãng lai tại Thành phố Hồ Chí
Minh. Đến năm 2010, có số này còn có thể tăng lên tới 2 triệu.
Mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh có thu nhập bình quân đầu người rất cao so với
mức bình quân của cả Việt Nam, nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày các lớn do những
tác động của nền kinh tế thị trường. Những người hoạt động trong lĩnh vực thương mại
cao hơn nhiều so với ngành sản xuất. Sự khác biệt xã hội vẫn còn thể hiện rõ giữa các
trung tâm xóa mù chữ, 139 trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt.
Tổng cộng 1.308 cơ sở giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công,
còn lại là các cơ sở dân lập, tư thục.
Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố.
Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào bốn
huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Các trường ngoại ngữ ở
Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ giảng dạy những ngôn ngữ phổ biến mà còn một
trường dạy quốc tế ngữ, một trường dạy Hán Nôm, bốn trường dạy tiếng Việt cho
người nước ngoài. Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các
lãnh sự quán, công ty giáo dục đầu tư.
Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo
dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường đại học công lập (đại học Sài Gòn và
đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý. Là thành phố lớn nhất Việt
Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất,
cùng với Hà Nội. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với năm đại học thành
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 13
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
viên. Nhiều đại học lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược,
Đại học Ngân hàng, Đại học Luật, Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế đều là các đại
học quan trọng của Việt Nam. Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường
đại học, cao đẳng của thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia.
Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng trong thời gian gần đây nhưng giáo dục
Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Trình độ dân trí chưa cao và
chênh lệch giữa các thành phần dân cư, đặc biệt là ngoại ô so với nội ô. Tỷ lệ trẻ em
người Hoa không biết chữ vẫn còn nhiều, gấp 13 lần trẻ em người Kinh. Giáo dục đào
tạo vẫn chưa tương xứng với nhu cầu của xã hội. Hệ thống cơ sở vật chất ngành giáo
dục thành phố còn kém. Nhiều trường học sinh phải học ba ca. Thu nhập của giáo viên
chưa cao, đặc biệt ở các huyện ngoại thành.
Giao thông vận tải
Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu
15.000 - 20.000 tấn cập bến. Tuy năng lực của các cảng của Thành phố Hồ Chí Minh
lớn nhưng việc chuyển tiếp giữa giao thông đường bộ, đường biển và đường sông gặp
khó khăn. Tại hầu hết các cảng đường sông, do thiết bị thiếu, vẫn phải bốc dỡ thủ công.
Giao thông trong nội ô, do tốc độ tăng dân số nhanh, quy hoạch yếu, hệ thống
đường xá nhỏ khiến thành phố luôn phải đối mặt với vấn đề ùn tắc. Thành phố có 239
cây cầu nhưng phần lớn chiều rộng nhỏ hơn chiều rộng của đường nên gây khó khăn
cho các phương tiện giao thông. Không những thế, một phần các cây cầu có trọng tải
thấp hay đang trọng tình trạng xuống cấp. Tại các huyện ngoại thành, hệ thống đường
vẫn phần nhiều là đường đất đá. Trong khi đó, hệ thống đường trải nhựa còn lại cũng
trở nên quá tải, cần sửa chữa. Để giải quyết vấn đề giao thông đô thị, Thành phố Hồ Chí
Minh đang đầu tư cho hệ thống giao thông công cộng. Hiện nay thành phố có 3.250 xe
buýt và 8.000 xe taxi, mỗi năm chỉ đáp ứng khoảng 6,2% nhu cầu đi lại. Hệ thống xe
buýt chưa đem lại hiệu quả cao, 65% tuyến trùng lặp. Cùng mạng lưới xe buýt, dự án
tàu điện ngầm Thành phố Hồ Chí Minh cũng được đang tiến hành. Theo dự kiến, thành
phố sẽ có bốn tuyến, tổng chiều dài 54 km, 6 đường ray và 22 nhà ga. Cuối 2010, hai
tuyến đầu tiên sẽ đi vào hoạt động.
Quy hoạch và kết cấu đô thị
Theo thiết kế đô thị ban đầu của người Pháp vào năm 1860, thành phố Sài Gòn
sẽ là nơi sinh sống cho 500.000 dân. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tăng qui mô
của thành phố lên đến 3 triệu dân. Tuy nhiên hiện nay thành phố này có dân số kể cả số
lượng khách vãng lai là 10 triệu người, kết cấu đô thị đã quá tải. Sài Gòn từng là thành
phố của cây xanh với không gian kiến trúc theo quy hoạch của Pháp trước đây đã thay
đổi với việc thu hẹp không gian xanh để xây dựng nhà cửa, không gian kiến trúc thành
phố này trở nên chật chội với nhiều công trình xây dựng hỗn độn thiếu tính thống nhất.
Công tác quy hoạch có nhiều bất cập và yếu kém. Đến thời điểm đầu năm 2008 mới chỉ
có 23% khối lượng công tác quy hoạch 1/2000 được thực hiện. Quy hoạch cho hệ thống
công trình ngầm vẫn chưa được thực hiện xong. Công tác xây quy họach và xây dựng
đô thị mới vẫn mang nặng tư duy thời kỳ bao cấp. Trong 10 năm gần đây, khu vực đô
thị mới để lại dấu ấn lớn trong quá trình phát triển thành phố này là khu đô thị mới Phú
Mỹ Hưng do nước ngoài đầu tư xây dựng, không phải là những quận, huyện được chính
hoàn thành năm 1880. Thời kỳ thuộc địa đã để lại cho thành phố nhiều công trình kiến
trúc quan trọng, như Trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố, Nhà hát lớn, Bưu điện trung
tâm, Bến Nhà Rồng Dinh Độc Lập và Thư viện Khoa học Tổng hợp được xây dựng
dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Kiến trúc hiện đại ghi dấu ấn ở thành phố bằng các cao
ốc, khách sạn, trung tâm thương mại như Diamond Plaza, Saigon Trade Centre Khu
vực ngoài trung tâm, Địa đạo Củ Chi, Rừng ngập mặn Cần Giờ, Vườn cò Thủ Đức
cũng là những địa điểm du lịch quan trọng.
Thành phố Hồ Chí Minh còn là một trung tâm mua sắm và giải trí. Bên cạnh các
phòng trà ca nhạc, quán bar, vũ trường, sân khấu, thành phố có khá nhiều khu vui chơi
như Công viên Đầm Sen, Suối Tiên, Thảo Cầm Viên. Các khu mua sắm, như Chợ Bến
Thành, Diamond Plaza hệ thống các nhà hàng, quán ăn cũng là một thế mạnh của du
lịch thành phố.
Văn hóa
Là một trong hai trung tâm truyền thông của Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay có 38 đơn vị báo chí thành phố và 113 văn phòng đại diện báo chí trung ương
và các tỉnh, 3 nhà xuất bản của thành phố và 21 chi nhánh nhà xuất bản trung ương
cùng mạng lưới thông tấn xã, các đài phát thanh, truyền hình địa phương và trung ương.
Tổng cộng, trên địa bàn thành phố hiện nay có trên một nghìn người hoạt động trong
lĩnh vực báo chí.
Trong lĩnh vực xuất bản, từ năm 1995 tới nay, ba nhà xuất bản của thành phố
chiếm 1/7 số đầu sách xuất bản của cả Việt Nam. Ước tính khoảng 60 đến 70% số
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 16
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
lượng sách của cả nước được phát hành tại Thành phố Hồ Chí Minh
[73]
. Những năm gần
đây, nhiều trung tâm sách, cửa hàng sách hiện đại xuất hiện. Sài Gòn cũng là nơi ra đời
tờ Gia Định báo, tờ báo quốc ngữ đầu tiên. Sài Gòn giải phóng, Thanh Niên, Tuổi Trẻ
nằm trong số những tờ báo lớn nhất Việt Nam hiện nay. Ngoài ra còn có thể kể đến
những báo và tạp chí lớn khác như Công an thành phố, Người lao động, Thời báo kinh
văn hóa. Ngay từ giai đoạn thành lập, dân cư của Sài Gòn đã thuộc nhiều dân tộc khác
nhau: Kinh, Hoa, Chăm Thời kỳ thuộc địa rồi chiến tranh Việt Nam, Sài Gòn hấp thụ
thêm nền văn hóa Âu Mỹ. Cho tới những thập niên gần đây, những hoạt động kinh tế,
du lịch tiếp tục giúp thành phố có một nền văn hóa đa dạng hơn.
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 17
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
Với vai trò một trung tâm văn hóa của Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
có 22 đơn vị nghệ thuật, 9 rạp hát, 11 bảo tàng, 22 rạp chiếu phim, 25 thư viện. Hoạt
động của ngành giải trí ở Thành phố Hồ Chí Minh nhộn nhịp hơn bất cứ thành phố nào
ở Việt Nam. Hầu hết các hãng phim tư nhân lớn của Việt Nam hiện nay, như Phước
Sang, Thiên Ngân, HKFilm, Việt Phim đều có trụ sở chính ở Thành phố Hồ Chí
Minh. Doanh thu các rạp của thành phố chiếm khoảng 60-70% doanh thu chiếu phim
của cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh cũng sở hữu những sân khấu đa dạng. Nhà hát
kịch Sân khấu nhỏ tại Quận 3 với những vở kịch thử nghiệm, những vở thư giãn ở Sân
khấu Hài 135 Quận 1, Sân khấu kịch IDECAF với những vở lấy từ tuồng tích cổ hoặc
tái hiện các danh tác trên thế giới. Lĩnh vực ca nhạc, Thành phố Hồ Chí Minh là thị
trường sôi động nhất, điểm đến của phần lớn các ca sĩ nổi tiếng. Ngoài những sân khấu
lớn như Nhà hát Thành phố, Nhà hát Bến Thành, Nhà hát Hòa Bình, Sân khấu Trống
Đồng hoạt động âm nhạc hoạt động âm nhạc ở thành phố ở những phòng trà, quán cà
phê đa dạng: Tiếng Tơ Đồng, M&T, Catinat, ATB, Bodega, Carmen
2. Sơ lược thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh:
1. Quá trình đô thị hóa, nhập cư và chuyển dịch lao động dẫn đến tình trạng phân bố
nhân lực không đồng đều giữa các khu vực kinh tế; ngành kinh tế, tạo mất cân đối nhu
cầu nhân lực và nhu cầu việc làm.
2. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang phát triển năng động, quan tâm hơn đến chính
sách phát triển nguồn nhân lực. Đây là môi trường phù hợp đối với đa số lao động là
sinh viên, học sinh ra trường còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng nghề.
3. Sự gắn kết giữa người sử dụng lao động và người lao động vẫn chưa đồng nhất.
Đối với người sử dụng lao động (doanh nghiệp) yếu tố cơ bản về vấn đề tuyển chọn, sử
dụng lao động là năng lực chuyên môn và năng suất lao động. Đối với người lao động
6 Kiến trúc – Thiết kế - Giấy bao bì – Xuất bản 6,42
7 Giáo dục – Đào tạo 3,08
8 Tài chính – Ngân hàng – Kiểm toán – Bảo hiểm 6,83
9 Y khoa – Y tế - Mỹ phẩm – Dược 4,56
10 Du lịch – Môi trường – Nhà hàng – Khách sạn 6,45
11 Marketing – Dịch vụ tư vấn 6,16
12 Quản lý – Quản trị - Hành chánh - Văn phòng 7,60
13 Phục vụ và bán hàng 5,18
14 Nông – Lâm – Ngư – Thủy sản 1,55
15 May dệt – giày da – Thủ công mỹ nghệ 18,79
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 19
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
16 Các ngành nghề khác 6,23
Tổng cộng 100,00
Nhu cầu nhân lực về cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2010
Trình độ chuyên môn Tỷ lệ (%)
Tổng số nhu cầu nhân lực
- Trên Đại học
- Đại học
- Cao đẳng chuyên nghiệp, Cao đẳng nghề
- Trung cấp chuyên nghiệp, Trung cấp nghề
- Công nhân kỹ thuật lành nghề
- Sơ cấp nghề
- Lao động chưa qua đào tạo
100,00
1,06
7,48
5,35
10,27
30,67
Việc tìm người
Cuối năm, nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp (DN) rất lớn. Nhưng dù đã
tung ra đủ chiêu để tuyển mộ các nhà tuyển dụng, đơn vị dịch vụ giới thiệu việc làm
cũng không kiếm đủ ứng viên. Không chỉ đau đầu vì tuyển người không ra, nhiều DN
còn ta thán vì nhân viên, người lao động dời bỏ chỗ làm hàng loạt
Việc DN chạy theo đơn hàng là nguyên nhân chính đẩy nhu cầu tuyển dụng lên cao, tạo
ra sự biến động, khan hiếm lao động nhất thời. Hiện tượng thiếu “ảo” này còn được góp
phần bởi các cơ sở, trung tâm dịch vụ việc làm.
Theo nhận định của các chuyên gia về lao động, TP.HCM ngày càng lâm vào tình trạng
khát lao động một cách trầm trọng. Nhìn chung việc cần người nhiều hơn người cần
việc! Vì sao?
Thứ nhất là tốc độ phát triển kinh tế ở TP.HCM quá nhanh, kèm theo số lượng DN
mới ra đời liên tục đã tạo thêm nhiều chỗ làm mới.
Mặt khác, trong xu thế cạnh tranh và hội nhập, các DN trong và ngoài nước đều có
kế hoạch đầu tư mở rộng thị phần, tăng qui mô sản xuất, kinh doanh nên cần tuyển
thêm số lượng lớn lao động vào làm việc. Trong khi đó, do thiếu chuẩn bị và đầu tư
đúng hướng từ trước nên nguồn nhân lực ở TP vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất
lượng. Điều đáng lo ngại là có một bộ phận lao động tuy thất nghiệp nhưng không chịu
tham gia thị trường lao động, một số khác lại có tâm lý “kén cá chọn canh”.
Thiếu khung pháp lý
Tuyển nhân sự ngày một khó, nhiều DN phải đối mặt với thực tế mất lao động
hàng loạt. “Để có đội ngũ lao động có nghề, kỹ năng chuyên môn, nhiều nhà tuyển
dụng đã bỏ vốn, công sức đào tạo, huấn luyện nhân viên một cách bài bản, chuyên
nghiệp. Thế nhưng, khi có “đủ lông đủ cánh” thì họ lại bỏ công ty không thương tiếc”.
chỉ cần nơi làm việc mới trả mức lương cao hơn vài chục ngàn đồng là họ đã có thể từ
bỏ công ty cũ, và đây là vấn đề rất đáng báo động.
Xuất khẩu lao động
Theo Sở Lao động- Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) TPHCM, trên địa bàn
thành phố có hơn 57 công ty, chi nhánh công ty xuất khẩu lao động
Đa số vẫn tập trung đưa lao động tới các thị trường truyền thống lớn như
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 22
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
Quý III, là thời gian các doanh nghiệp phải ổn định lực lượng lao động tập trung
sản xuất kinh doanh hoàn thành kế hoạch năm, vì vậy nhu cầu tuyển dụng lao động của
các doanh nghiệp cân bằng hơn so với 2 quý đầu năm 2010, giảm bớt tình trạng thu hút
nhiều lao động đặc biệt nhu cầu lao động phổ thông như đầu năm; cụ thể giảm 28,39%
so với quý II và giảm 59,15% so với quý I. Nguồn lao động có tay nghề, trình độ từ
Trung cấp trở lên được tuyển dụng nhiều hơn, chiếm trên 50% nhu cầu tuyển dụng. Cho
thấy thị trường lao động thành phố đang trong giai đoạn ổn định, tình trạng thiếu hụt
nguồn nhân lực không áp lực lớn như 06 tháng đầu năm, nguyên nhân chính là sự tác
động cải thiện chính sách tiền lương, quan hệ lao động. Các doanh nghiệp đã thu hút
người lao động tăng cường tham gia thị trường lao động.
Trong quý II và III/2010 những ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng lao động cao nhất là
ngành nghề đã được nhận định, dự báo của năm 2010 là nhóm ngành nghề Marketing -
Nhân viên Kinh doanh(14,56%), Dịch vụ và phục vụ (12,28%), Dệt - May - Giày da
(10,56%), Cơ khí - Luyện kim (6,80%), Kế toán – Kiểm toán (5,39%), Bán hàng
(5,39%), Mộc - Mỹ nghệ - Trang trí nội thất (5,15%), Giao thông-Vận tải-Thủy
lợi(4,24%), Tư vấn - Bảo hiểm (3,72%).
Nhóm: Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thị Thành Ngân Trang 23
Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
Cùng với thực trạng cầu nhân lực, chỉ số cung nhân lực trong quý III tăng 50,6%
so với chỉ số cung quý II. Do thời điểm học sinh, sinh viên các trường đại học, cao
đẳng, trung cấp , trường dạy nghề ra trường, nguồn cung nhân lực tăng hơn so với 2
quý đầu năm 2010. Nhà tuyển dụng có điều kiện thuận lợi khi tuyển dụng bổ sung nhân
lực ngành theo kế hoạch nhân sự năm 2010, chỉ số cung nhân lực ngành Kế toán –
Kiểm toán (32,79%) tăng 44,12% so với quý II. Ngành nghề Quản lý nhân sự - Hành
chánh văn phòng (14,18%), Marketing - Nhân viên Kinh doanh (11,25%) cũng là