1
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết luận nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng. Tác giả hoàn toàn chịu trách
nhiệm về công trình khoa học này.
Tác giả luận án
Nguyễn Như Chung
Chương 2: Thực trạng các chính sách đối với sự phát triển làng
nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến nay
54
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 54
2.2. Thực trạng một số chính sách nhà nước và địa phương ảnh hưởng
đến phát triển của làng nghề ở Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến nay
61
2.3. Tác động chính sách đến sự phát triển các làng nghề và kinh tế
- xã hội tỉnh Bắc Ninh 1997 đến nay
90
2.4. Bài học kinh nghiệm về chính sách phát triển làng nghề ở Bắc Ninh 116
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy
phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
123
3.1. Một số quan điểm về hoàn thiện chính sách phát triển làng
nghề tỉnh Bắc Ninh
123
3.2. Định hướng và mục tiêu phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh 128
3.3. Những giải pháp cơ bản hoàn thiện một số chính sách thúc đẩy
phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh
133
3.4. Một số kiến nghị trong hoàn thiện chính sách phát triển làng
nghề ở tỉnh Bắc Ninh
172
Kết luận
181
Danh mục các tài liệu tham khảo
CP Chính phủ
CCN - TTCN Cụm công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CSHT Cơ sở hạ tầng
CTCP Công ty cổ phần
CTTNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
HĐND Hội đồng nhân dân
HTX Hợp tác xã
KCHT Kết cấu hạ tầng
KT – XH Kinh tế - xã hội
LN Làng nghề
LNTT Làng nghề truyền thống
LNTTCN Làng nghề tiểu thủ công nghiệp
NCS Nghiên cứu sinh
SXKD Sản xuất kinh doanh
UBND Uỷ ban nhân dân
4 MỞ ĐẦU1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH là một chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa trước
mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài trong sự phát triển kinh tế nông thôn. Hiện nay,
một trong những nội dung quan trọng của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
là mở rộng và phát triển các LN. Đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Hồng tình
trạng đất chật, người đông và nhiều làng xã phổ biến là kinh tế thuần nông.
LN phát triển sẽ là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn
và thành thị. Việc đẩy mạnh phát triển LN nhằm đa dạng hoá các ngành nghề
nông thôn, tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho dân cư để góp phần ổn định
kinh tế - xã hội nông thôn và tạo tiền đề cần thiết cho quá trình CNH, HĐH
diễn ra sâu rộng trên phạm vi cả nước.
Trong thời gian qua, sự phát triển của các LN đã trải qua những bước
thăng trầm. Một số LNTT đã phục hồi và phát triển, cùng với việc xuất hiện
một số LN mới. Có nhiều LN đã phát triển khá mạnh và lan toả sang các khu
vực lân cận, tạo nên một cụm các LN, với sự phân công và chuyên môn hoá
trong SXKD. Tuy vậy cũng có một số LN dần bị mai một, thậm chí có một số
LN mất hẳn. Nhìn chung trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh
Bắc Ninh trong thời gian qua LN đã đóng góp vai trò tích cực vào phát triển
KT-XH nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế
địa phương. Thực tế cho thấy, ngay trong sự phát triển, LN vẫn đứng trước
những khó khăn như: Tình trạng khó khăn về mặt bằng sản xuất, vốn đầu tư
ra một số chính sách phát triển các LN như các chính sách về thu hút đầu tư,
chính sách hỗ trợ xây dựng CSHT, chính sách khuyến khích phát triển công
nghiệp, xuất khẩu v.v…
Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy nhiều chính sách của Nhà nước chưa
đồng bộ, thường xuyên phải bổ sung sửa đổi, thậm chí chưa thích hợp, khó thực
thi gây bế tắc trong hoạt động thực tiễn. Mặt khác, nhiều vấn đề liên quan đến
quá trình SXKD và phát triển ở các LN chưa được Nhà nước quan tâm, chưa có
những chế tài hay biện pháp kích thích phát triển. Vì vậy, việc nghiên cứu các
chính sách phát triển LN để hoàn thiện các chính sách phù hợp với tình hình hiện 7
nay cho phát triển LN và đặc biệt là đối với địa bàn tỉnh Bắc Ninh là đòi hỏi cấp
thiết của thực tế. Đó chính là lý do NCS chọn đề tài:
“Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề
ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003 - Thực trạng, kinh nghiệm và
giải pháp” Làm nội dung nghiên cứu.
2. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Hiện nay, việc phát triển các LN đang ngày được sự quan tâm của
nhiều nhà khoa học. Thời gian quan đã có một số công trình nghiên cứu về
vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau. Thực tế có rất nhiều nhân tố ảnh
hưởng tới sự phát triển LN. Tuy nhiên chưa thấy công trình nào nghiên cứu
chuyên sâu, có hệ thống về chính sách phát triển các LN nói chung và với các
LN ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng.
Hà Nội 2005, “Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị
hoá” của PGS.TS Trần Thị Minh Châu - NXB chính trị quốc gia, Hà Nội
2007, “Chiến lược phát triển và dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ: Các tài liệu của cuộc họp quốc tế giữa các chuyên gia” của UNTAC,
NewYork và Geneva 2000; “Khu vực tư nhân ở Việt Nam: Sự kiện, con số,
thay đổi chính sách và khảo sát các kết quả nghiên cứu” của Liesbet Steer,
CIE, 2001; v.v… Các nghiên cứu này đã có những đóng góp lý luận và thực
tiễn về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển ngành nghề thủ công;
phát triển nguồn nhân lực nông thôn v.v…Trong các nghiên cứu đó khía cạnh
cơ chế chính sách được đề cập có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát
triển các LN, nhưng vẫn chưa đi sâu bao quát được hết hoạt động ở các LN,
bao gồm các thành phần kinh tế, đa dạng về ngành nghề và phong phú các
lĩnh vực đời sống KT-XH.
Nhóm thứ ba là các công trình nghiên cứu về tình hình phát triển LN.
Đáng chú ý là “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh
đồng bằng sông Hồng” của GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh - Hà Nội 2005; “Phát
triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá” - Luận án tiến sĩ của Trần Minh Yến, Hà Nội 2003;
“Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình CNH” của TS Dương
Bá Phương, NXB khoa học xã hội, Hà Nội 2001; “Phát triển làng nghề
truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của TS Mai Thế 9
hoàn thiện về mặt chính sách của Nhà nước cho phát triển LN. Mặt khác,
chính sách luôn vận động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng giai
đoạn, từng khu vực, từng địa phương. Hơn nữa, Bắc Ninh nơi có nhiều LN
phát triển cũng chưa có công trình nghiên cứu sâu trên địa bàn về nó. Đó là lý
do NCS chọn đề tài “Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát
triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003 - Thực trạng,
kinh nghiệm và giải pháp” làm nội dung nghiên cứu
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Từ nghiên cứu các chính sách của nhà nước và của địa phương tỉnh Bắc
Ninh có ảnh hưởng thúc đẩy phát triển LN và làm rõ kết quả, hạn chế, nguyên
nhân của hạn chế để rút ra những bài học kinh nghiệm trong phát triển LN ở
địa phương. Đó là cơ sở đề xuất những quan điểm, giải pháp và những kiến
nghị nhằm hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển LN ở tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian tới.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống các chính sách của Nhà
nước (cả Trung ương và địa phương) đã tác động đến phát triển LN.
- Phạm vi nghiên cứu của luận án là các chính sách được triển khai tác
động đối với các LN ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến nay. Các chính sách
này cũng được giới hạn trong phạm vi các chính sách KT-XH. Hệ thống các
chính sách công này cũng chủ yếu tập trung nghiên cứu ở một số các chính
sách có ảnh hưởng nhiều và trực tiếp đến sự phát triển của các LN bao gồm:
Chính sách về đất đai; Chính sách về khuyến khích đầu tư; Chính sách về
thương mại, thị trường; Chính sách về thuế; Chính sách về tín dụng; Chính
thúc đẩy phát triển LN ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới, đồng thời có một
số kiến nghị nhằm thúc đẩy các giải pháp trong hoàn thiện các chính sách
phát triển LN đáp ứng với yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài mở đầu, kết luận, các phụ lục và các danh mục tài liệu tham
khảo, kết cấu của luận án được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các chính sách đối với sự phát
triển của làng nghề.
Chương 2: Thực trạng các chính sách đối với sự phát triển làng nghề ở
tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến nay.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát
triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. 12
Chng 1
C S Lí LUN V THC TIN V CC CHNH SCH
I VI S PHT TRIN LNG NGH
1.1. Cơ sở lý luận về các chính sách đối
1.1. Cơ sở lý luận về các chính sách đối 1.1. Cơ sở lý luận về các chính sách đối
1.1. Cơ sở lý luận về các chính sách đối với sự phát
với sự phát với sự phát
với sự phát
nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề, kỹ thuật và công nghệ khá ổn
định, mặc dù ngày nay một số nghề thủ công truyền thống đã được trang bị
máy móc hiện đại nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, sản xuất ra
những sản phẩm có tính mỹ nghệ độc đáo thể hiện những nét văn hoá đặc sắc
của dân tộc và đem lại thu nhập chính cho LN.
LN mới được hình thành trên cơ sở phát triển lan toả của nghề truyền
thống, việc truyền nghề, nhân cấy nghề mới sang các làng xã khác. Cùng với quá
trình CNH, HĐH đất nước và phát triển kinh tế thị trường đã hình thành các LN
hiện đại, SXKD đa dạng, kỹ thuật công nghệ hiện đại. Đó chính là những LN
mới ra đời trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. {6, tr.7}
1.1.1.2. Đặc điểm của làng nghề
- Làng nghề phát triển đa dạng trong nông thôn, một số làng nghề hoạt
động kinh tế vẫn gắn chặt với sản xuất nông nghiệp.
Do nhu cầu việc làm và thu nhập, người nông dân đã có nghề chính là
làm ruộng, nghề phụ là nghề thủ công. Vì vậy, trong sự phát triển một số LN
tách dần khỏi nông nghiệp nhưng không tách rời khỏi nông thôn. Thực tế ở
nhiều LN, người nông dân thường tự sản xuất, tự sửa chữa nhằm đáp ứng
phần lớn nhu cầu hàng tiêu dùng của mình. Đại bộ phận các hộ chuyên làm
nghề thủ công vẫn còn tham gia sản xuất nông nghiệp. Hầu hết các LN vẫn
còn một bộ phận ruộng đất và kinh tế nông nghiệp.
- Làng nghề có sản phẩm mang tính đơn chiếc, độc đáo có tính mỹ thuật
cao, là sản phẩm thủ công truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
Các sản phẩm đều là sự kết giao phương pháp thủ công tinh xảo với sự
sáng tạo nghệ thuật. Các sản phẩm thủ công thường mang tính cá biệt và có
dựa vào bàn tay khéo léo của người thợ thủ công. Trong cơ chế thị trường, sự kết
hợp giữa công nghệ truyền thống thủ công thô sơ với công nghệ hiện đại như:
mô tơ điện, cưa máy, máy thái đất, máy se sợi... đã làm tăng năng suất, chất
lượng sản phẩm cao hơn. Với những tiến bộ của khoa học công nghệ, vừa phát
huy được tinh hoa của công nghệ truyền thống, vừa phải liên tục đổi mới công
nghệ để tăng năng suất lao động mà vẫn giữ được công nghệ truyền thống.
- Nguyên liệu để sản xuất của các làng nghề chủ yếu là có tại địa
phương hoặc vùng lân cận, ngày nay một số làng nghề còn nhập nguyên liệu
từ nước ngoài. 15
Các LNTT thường được hình thành xuất phát từ có sẵn nguồn nguyên
liệu tại chỗ, đặc biệt là những LN sản xuất sẩn phẩm tiêu dùng như mây tre
đan, chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng. Một số nghề
sử dụng những nguyên liệu có sẵn là những phế liệu, phế phẩm, chế thải của
sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và đời sống sinh hoạt.
Ngày nay cùng với sự phát triển và hội nhập, nhu cầu nguyên liệu lớn,
một số LN có nguồn nguyên liệu tại chỗ không thể đáp ứng được hoặc không
có để đáp ứng nên phương thức cung ứng nguyên liệu cũng có sự thay đổi từ
việc thu gom ở các địa phương khác đến việc nhập khẩu từ nước ngoài.
- Lao động trong các làng nghề vẫn phổ biến là lao động thủ công,
phương pháp dạy nghề theo phương thức truyền nghề.
Lao động chủ yếu là nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo. Hiện nay lao
Ngày nay, ở các LN các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần được phát triển từ một hoặc một số hộ gia đình đã
hình thành và phát triển mạnh ở một số LN. Tuy hình thức này không chiếm
tỷ trọng lớn nhưng đóng vai trò là trung tâm liên kết mà các hộ gia đình là các
vệ tinh, thực hiện các hợp đồng đặt hàng với các hộ gia đình, giải quyết đầu
vào, đầu ra, nơi sản xuất của các LN với các thị trường tiêu thụ khác nhau.
{13, tr.12-19}
1.1.1.3. Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
- Giải quyết việc làm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nông thôn,
nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn.
Các làng nghề nước ta với nhiều ngành nghề, không đòi hỏi nhiều
vốn, yêu cầu kỹ thuật cao, chủ yếu là tận dụng lao động và có khả năng làm
việc phân tán trong từng hộ gia đình. Hơn nữa, giá trị lao động sống trong
giá thành sản phẩm chiếm tỉ lệ cao (thường chiếm khoảng 40-60%). Do
vậy, các LN ở nông thôn được phát triển mạnh mẽ thì thu hút được nhiều
lao động nông thôn. Bình quân mỗi cơ sở chuyên ngành nghề ở các LN tạo
việc làm ổn định cho 27 lao động, mỗi hộ ngành nghề cho 4-6 lao động.
Ngoài lao động thường xuyên, các hộ, các cơ sở ngành nghề ở các LN còn
thu hút lao động nhàn rỗi trong nông thôn (bình quân 2-5 người/hộ và 8-10
người/cơ sở). Nhiều LN đã thu hút trên 60% lao động vào các hoạt động
ngành nghề. {53, tr.7} 17
động, tạo ra động lực cho sự phát triển KT-XH ở khu vực nông nghiệp và
nông thôn.
LN góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn. Ở nơi
nào có ngành nghề phát triển thì ở nơi đó có thu nhập cao và mức sống cao
hơn với các vùng thuần nông. Nếu so sánh với mức thu nhập của lao động
nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghề cao hơn khoảng 2 đến 4
lần, đặc biệt là so với chi phí về lao động và diện tích sử dụng đất thấp hơn
nhiều so với sản xuất nông nghiệp. Có những LN có thu nhập cao như làng
gốm Bát Tràng: mức bình quân thu nhập của các hộ thấp cũng đạt 10 – 20
triệu đồng/ năm, của các hộ trung bình là 40 – 50 triệu đồng/năm, còn các hộ
có thu nhập cao đạt tới hàng trăm triệu đồng/năm. Thu nhập từ nghề sứ của
Bát Tràng chiếm tới 86% tổng thu nhập của toàn xã. Vì vậy, thu nhập ở các
LN đã tạo ra sự thay đổi khá lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và của
địa phương.
- Các làng nghề đã bảo tồn và phát triển nhiều ngành nghề truyền
thống tạo điều kiện phát huy khả năng của đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi.
Các LNTT gắn liền với lịch sử phát triển của nền văn hoá Việt Nam.
Các sản phẩm LNTT chứa đựng những phong tục, tập quán, tín ngưỡng...
mang sắc thái riêng của dân tộc Việt Nam. Nhiều sản phẩm LN truyền thống
có giá trị minh chứng sự thịnh vượng của quốc gia, cũng như thể hiện những
thành tựu, phát minh mà con người Việt Nam đạt được. Cho đến nay, nhiều
sản phẩm LNTT là hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo, độc đáo, đạt trình độ cao
về mỹ thuật còn được lưu giữ, trưng bày tại nhiều viện bảo tàng nước ngoài.
Sản phẩm của nghề thủ công truyền thống là sự kết tinh lao động vật
nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỉ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động từ
sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp
có thu nhập cao hơn. Thực tế trong lịch sử, sự ra đời và phát triển các LN
ngay từ đầu đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Sự tác động này đã
tạo ra một nền kinh tế đa dạng ở nông thôn, với sự thay đổi về cơ cấu,
phong phú, đa dạng về loại hình sản phẩm. LN không chỉ cung cấp tư liệu
sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu
trong nội bộ ngành nông nghiệp. Chẳng hạn khi ngành nghề chế biến phát
triển, yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp phải nhiều hơn, đa dạng hơn và 20
chất lượng cao hơn. Do vậy, trong nông nghiệp hình thành những khu vực
nông nghiệp chuyên môn hoá, tạo ra năng suất lao động cao và nhiều sản
phẩm hàng hoá.
Mặt khác, có thể thấy kết quả sản xuất ở các LN cho thu nhập và giá trị
sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Do từng bước tiếp cận
với nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên, người lao động
nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc
biệt là những ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường
trong nước và thế giới. Khi đó khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp lại,
sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên. Sự phát triển này
đã khẳng định một hướng đi đúng, nó tạo ra cơ sở kinh tế ngoài nông nghiệp
cho nhiều vùng thuần nông trước đây.
cũng trên cơ sở giá trị sản lượng từ hoạt động phi nông nghiệp của các LN
tăng lên, tạo điều kiện tăng tích luỹ và nguồn vốn đầu tư tại chỗ, nâng cấp và
xây dựng mới kết cấu hạ tầng, cải thiện đời sống dân cư trong làng, trong
vùng. Trong tương lai, nhiều cơ sở sản xuất ở các LN còn là vệ tinh cho các
doanh nghiệp lớn, hiện đại trong và ngoài nước ở nông thôn Việt Nam.
- Các làng nghề góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động, tiền
vốn, nguyên liệu… và gia tăng giá trị sản phẩm hàng hoá của nền kinh tế.
Các LN thông thường không đòi hỏi một số vốn đầu tư quá lớn, bởi
nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ mà những người thợ trong các
LN có thể tự sản xuất hoặc chế tạo được. Mặt khác, sản xuất trong các LN là
quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động
vốn và các nguồn lực vật chất khác của các hộ gia đình. Cũng từ đặc điểm của
LN là các nguyên liệu sẵn có kể cả việc tận dụng các loại phế liệu, phế thải…
nên chúng được sử dụng hiệu quả nhất. Các LN nơi sản xuất cũng là nơi ở của
họ nên lực lượng lao động được tận dụng và thu hút tối đa nhiều loại lao động
trong, trên, dưới độ tuổi lao động, tận dụng lao động thời vụ này nhàn, tranh
thủ các thời gian nhàn rỗi. Các yếu tố khác của quá trình sản xuất ở các LN
cũng được huy động phục vụ hiệu quả nhất như việc tận dụng đất đai, cơ sở
vật chất kỹ thuật, những kỹ năng, kỹ sảo của người lao động.
Ngày nay sản xuất của LN phát triển theo chiều hướng chuyên môn hoá,
đa dạng sản phẩm đã góp phần đáng kể vào thúc đẩy kinh tế hàng hoá ở nông 22
Tuy nhiờn, trong trong giai on hin nay, trong xu th hi nhp kinh t
quc t v tỡnh trng cnh tranh ngy cng gay gt, c bit l khi Vit Nam
gia nhp t chc Thng mi th gii (WTO) ó tỏc ng khụng nh i vi
s phỏt trin ca LN cng nh nh hng n vai trũ ca nú i vi s phỏt
trin kinh t - xó hi nụng thụn núi chung. Vic t do hoỏ thng mi, t do
hoỏ u t ó khin th trng trong nc gn cht vi th trng th gii.
iu ú cho thy LN v vai trũ ca nú ang ng trc nhng c hi v thỏch
thc ln khi ch bo h thu quan phi tin ti xoỏ b, khi c ch chớnh
sỏch ngoi thng v cỏc chớnh sỏch kinh t khỏc liờn quan phi cú nhng
thay i cho phự hp vi thụng l quc t. Trong xu th y, hng hoỏ nhiu
nc s cú mt nc ta, vỡ vy nhng sn phm ca nhng LN no c ỏo,
phự hp s tip tc phỏt trin, trong khi khụng ớt LN s gp khú khn v mai
mt. LN tip tc phỏt trin v gi c vai trũ ca nú trong nn kinh t th
trng, cnh tranh v hi nhp cn phi chỳ trng a dng hoỏ sn phm, i
mi cụng ngh, h giỏ thnh sn phm, sn phm gn vi nhón hiu hng hoỏ;
cụng tỏc marketing, tng cng xỳc tin thng mi, to lp mụi trng thun
li cho cỏc LN phỏt trin v hi nhp cn cú s quan tõm h tr t phớa nh
nc v chớnh quyn a phng
1.1.2. Những nhân tố ảnh hởng đến sự phát triển của các
làng nghề
Thc t, cú nhiu nhõn t tỏc ng n s phỏt trin cỏc LN v cỏc
nhõn t ny tỏc ng, nh hng ln nhau. Khỏi quỏt cỏc nhõn t ny theo 3
nhúm l cỏc nhõn t v kinh t, nhõn t v chớnh sỏch v nhúm cỏc nhõn t v
iu kin t nhiờn, vn hoỏ xó hi.
tế, cạnh tranh khốc liệt, thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng khắp, nguồn
nguyên liệu cũng phải vận chuyển nơi xa về thì nhu cầu về hệ thống giao
thông vận tải phát triển thuận lợi cho các LN giảm chi phí vận chuyển tạo
điều kiện giao lưu phát triển thị trường, ký kết hợp đồng, liên doanh liên kết
v.v… Hệ thống cung cấp điện, nước, thoát nước, bưu chính viễn thông v.v…
cũng có ảnh hưởng rất lớn tới phát triển của các LN, đặc biệt là quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, những hạ tầng này tạo điều kiện cho
áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo
vệ sức khoẻ người lao động, góp phần phát triển KT-XH bền vững. 25
- Vốn cho SXKD: Đây là nguồn lực quan trọng của quá trình SXKD.
Các LN muốn đầu tư phát triển, mở rộng cơ sở sản xuất, đầu tư trang thiết bị
mới, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường v.v… đều phải cần đến nhu cầu
vốn. Vốn nhiều hay ít do nhu cầu quy mô, đặc điểm sản xuất sản phẩm các
ngành nghề ở từng LN. Ngày nay các LN đang phát triển theo xu thế hiện đại,
đa dạng, chuyên môn hoá, sản phẩm hàng loạt… thì nhu cầu về vốn là rất lớn.
Sự đáp ứng về vốn có một ý nghĩa quyết định cho sự hội nhập, cạnh tranh và
phát triển của các LN.
- Nguyên vật liệu: Sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương
trước đây là đặc điểm của LN và là nhân tố góp phần hình thành LN. Hiện
nay, do hội nhập kinh tế, CSHT giao thông, bưu chính viễn thông… thuận lợi,
nguồn nguyên vật liệu khác nhau cho sản xuất các sản phẩm. Vì vậy khối