PHẪU THUẬT NỘI SOI NGÁCH TRÁN VỚI HỆ THỐNG HƯỚNG DẪN HÌNH ẢNH ĐỊNH VỊ BA CHIỀU - Pdf 20

PHẪU THUẬT NỘI SOI NGÁCH TRÁN VỚI HỆ THỐNG HƯỚNG
DẪN HÌNH ẢNH ĐỊNH VỊ BA CHIỀU TÓM TẮT:
Mục tiêu: bước đầu nghiên cứu phẫu thuật nội soi ngách trán với hệ thống định
vị 3 chiều.
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiền cứu thực hiện trên 27 bệnh nhân
được phẫu thuật nội soi ngách trán với hệ thống định vị 3 chiều của hãng
Brainlab tại bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM từ 3/2008 đến tháng 10/2008.
Kết quả: có 45 ngách trán (27 bệnh nhân) được phẫu thuật. Tất cả các trường
hợp đều tìm và mở được ngách trán mà không có biến chứng ổ mắt hay nội sọ.
Tế bào K1 được tìm hấy ở 4 ngách trán (2 bệnh nhân), tế bào K2 được tìm thấy
ở 2 ngách trán (1 bệnh nhân), tế bào K3 được tìm thấy ở 4 ngách trán (3 bệnh
nhân), 3 bệnh nhân có tế bào trên ổ mắt 2 bên (6 ngách trán), 2 bệnh nhân có tế
bào vách liên xoang trán, 1 bệnh nhân có tế bào bóng trán 1 bên. Có 9 trường
hợp là phẫu thuật mổ lại do đã được phẫu thuật nạo sàng hàm hay nội soi trước
đó. Độ chính xác của hệ thống định vị 3 chiều là ≤ 2mm.
Kết luận: hệ thống hướng dẫn hình ảnh định vị ba chiều giúp định vị chính xác
các cấu trúc giải phẫu trong lúc phẫu thuật nội soi ngách trán, giúp mở rộng
ngách trán, lấy sạch bệnh tích và giảm thiểu tai biến, biến chứng.
ABSTRACT
USE OF IMAGE GUIDANCE IN ENDOSCOPIC FRONTAL RECESS
SURGERY
Tran Viet Luan, Nguyen Thi Ngoc Dung, Nhan Trung Son, Huynh Khac
Cuong,
Nguyen Thi Quynh Lan, Huynh Vĩ Son, Tran Trong Uyen Minh
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 – Supplement of No 1 - 2009: 229 – 233
Objectives: to preliminarily evaluate the utility of image guidance in
endoscopic frontal recess surgery
Methods: a prospective study of 27 patients undergoing endoscopic frontal

- Loại 2: một dãy tế bào ngách trán nằm trên tế bào Ager nasi
- Loại 3: một tế bào có kích thước lớn khí hóa vào trong xoang trán
- Loại 4: một tế bào nằm trong xoang trán
Wormald (2002) đưa ra phân loại Kuhn cải tiến đối với xoang trán và các tế
bào vùng ngách trán như sau:
Tế bào ager nasi: thường là một tế bào duy nhất, là tế bào sàng nằm phía trước
nhất, nằm trước cuốn mũi giữa.
Tế bào trên ổ mắt: thường xuất phát từ vị trí của động mạch sàng trước, là tế
bào sàng kéo dài theo hướng trên và sau ổ mắt từ ngách trán.
Tế bào sàng trán: cũng được phân làm 4 loại:
- Loại 1,2 và 3 (K1, K2 và K3) giống phân loại của Kuhn
- Loại 4 (K4): một tế bào thông khí vào trong xoang trán và vượt quá 50%
chiều cao của xoang trán (hình 8).
Tế bào trên bóng: một hay vài tế bào nằm trên bóng sàng
Tế bào bóng trán: tế bào trên bóng khí hóa dọc sàn sọ vào trong xoang trán.
Tế bào vách ngăn xoang trán: nằm trong vách liên xoang trán, đẩy đường dẫn
lưu xoang trán ra ngoài và làm hẹp lỗ thông tự nhiên xoang trán.
Phân loại Kuhn cải tiến của Wormald là phân loại dễ ứng dụng trên lâm sàng
và tương đối hoàn chỉnh, nó cho phép phẫu thuật viên biết rõ tế bào nào vùng
ngách trán có thể lấy được qua nội soi, tế bào nào cần phải mở đường ngoài
phối hợp mới lấy được. Chẳng hạn như tế bào sàng trán loại 4 (K4) không thể
lấy được qua nội soi mà phải dùng kỹ thuật Lothrop cải tiến mở rộng hay mổ
đường phối hợp.
ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nhiên cứu
Chọn bệnh nhân  16 tuổi đến khám tại bệnh viện Tai Mũi Họng TP Hoà Chí
Minh bị viêm xoang trán mạn tính không đáp ứng với điều trị nội khoa có chỉ
định phẫu thuật dựa vào triệu chứng nhức đầu hay nặng vùng trán, và CT scan
có hình ảnh viêm xoang trán, polyp xoang trán hay ngách trán.
Phương pháp nghiên cứu

ngách
trán
Nặng,
nhức
vùng
trán,
nhức
đầu
Mổ
lại
Lund
Mackay
scores
cho
xoang
trán
Viêm
mũi
xoang
mạn tính

15 13 2 24
Bệnh
polyp
mũi
30 22 7 52
Tổng
cộng
45 35 9 76
Các thông số sử dụng hệ thống định vị

polyp, 27
ngách
trán
(60%) có
nh
ầy đục,
và 5
ngách
trán
(11,1%)
có mủ b
ã
đ
ậu cần
bơm r
ửa
làm s
ạch.
B
ệnh tích
ở ngách
trán và
xoang
45
(100%)

23
(51,1%)

27

Việc khảo sát trước mổ giúp chúng tôi đưa ra phương pháp mổ thích hợp cho
từng trường hợp một cách có hiệu quả
(Error! Reference source not found.)
.
(A) (B)
Hình 1: Tế bào ager nasi và polyp ngách trán (A), sau khi được lấy đi: ngách
trán trở nên thông thoáng (B:) vị trí đầu của que thăm dò đang ở trong xoang
trán
Chúng tôi phẫu thuật ngách trán trên quan điểm bảo tồn niêm mạc. Mở ngách
trán theo kỹ thuật "bóc vỏ quả trứng" (uncapping the egg) của Stammberger
nếu cấu trúc ngách trán đơn giản và không hẹp. Lấy bỏ thành sau và trần Ager
nasi bằng thìa nạo xoang trán chữ J (J currete), để làm rộng đường dẫn lưu
xoang trán nếu thấy hẹp
(Error! Reference source not found.)
.
Đối với các tế bào sàng trán K1, K2, K3 chúng tôi lấy bỏ xương thành trước tế
bào Ager nasi để góc nhìn vào vùng ngách trán được dễ dàng hơn và thao tác
dụng cụ ở vùng này cũng dễ hơn. Có 4 tế bào K1 và 2 tế bào K2 chúng tôi đều
lấy được qua nội soi. Đối với 4 tế bào K3, do nằm cao vào trong xoang trán,
chúng tôi lấy được hoàn toàn trong 2 trường hợp, 2 trường hợp còn lại do cấu
trúc ngách trán hẹp và chảy máu nhiều, cúng tôi chỉ lấy được thành sau và
thành trong của K3 và mở thông dẫn lưu vào ngách trán (Error! Reference
source not found.)
Chúng tôi lấy bỏ được tế bào bóng trán (1 trường hợp), tế bào này bị viêm và
làm hẹp ngách trán.Mở thông tế bào trên ổ mắt với ngách trán (6 ngách trán-3
bệnh nhân). Tất cả trường hợp đều thực hiện được thành công nhờ hệ thống
định vị ba chiều.
Đối với tế bào vách liên xoang trán, nếu khí hóa nhiều gây hẹp ngách trán: lấy
bỏ thành ngoài tế bào này bằng curette và kềm giraffe để làm rộng thêm ngách
trán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status