NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT CÁC KHỐI U NỀN SỌ
QUA ĐƯỜNG BÊN TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Ap dụng đường bên xuyên cổ-xương chũm lấy bỏ các
khối u nền sọ liên quan vịnh cảnh.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đánh giá bệnh nhân trước mổ và
tiến hành phẫu thuật lấy bỏ khối u nền sọ liên quan vịnh cảnh.
Kết quả: Từ tháng 10/2006 đến tháng 10/2008, 7 bệnh nhân với các khối u bao
sợi thần kinh, u cuộn cảnh và carcinoma đã được phẫu thuật theo đường mổ
xuyên cổ-xương chũm. Các khối u vùng vịnh cảnh được lấy bỏ một phần hoặc
toàn phần. Biến chứng liệt các dây thần kinh sọ xảy ra ở nhiều mức độ khác
nhau.
Kết luận: Đường bên xuyên cổ-xương chũm giúp lấy bỏ một phần hoặc hoàn
toàn các khối u nền so liên quan vịnh cảnh với sự phối các kỹ thuật phẫu thuật
tai, phẫu thuật đầu cổ và phẫu thuật thần kinh.
ABSTRACT
LATERAL APPROACH TO REMOVE THE SKULL BASE TUMOURS
Nguyen Quang Dai, Tran Minh Tri, Tran Minh Truong, Vo Van Nho
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 – Supplement of No 1 - 2009: 145 – 149
Objectives: Application of transcervicomastoid approach to remove the jugular
foramen tumours.
Materials and Methods: Patients have been evaluated and operated to remove
jugular foramen tumours.
Results: From 10/2006 to 10/2008, 7 patients with jugular foramen tumours
including schwannomas, glomus jugulare and carcinoma have been operated
through transcervicomastoid approach. Subtotal and total removal of the
tumours have been performed. Complication of cranial nerve paralysis occured
in different levels.
Conclusion: Transcervicomastoid approach is suitable for subtotal or total
Phẫu thuật kết hợp hai chuyên khoa Tai Mũi Họng và Ngoại Thần Kinh:
Bệnh nhân được gây mê nội khí quản và được đặt nằm ngữavới gối dưới vai
giúp tăng tầm nhìn vùng đáy sọ. Cạo tóc rộng vùng trên, sau tai xuống cổ. Sát
trùng rộng phẫu trường. Tiêm lidocaine 2% pha adrenalin 1:100000 vào da và
mô dưới da vùng trên, sau tai, vùng cổ cao, tuyến mang tai và vùng dây thần
kinh VII. Phẫu trường một lần nữa được sát trùng, trãi ra và phủ opsite.
Bộc lộ đáy sọ
Đường rạch da xuất phát từ trên tai, ra sau tai cách nếp sau tai khoảng 2cm,
ngang mỏm chũm, xuống cổ đến ngang tầm xương móng. Vạt da được bóc
tách ngoài cân cơ thái dương phía trên, sau tai đến mặt ngoài xương chũm
xuống cổ ngoài mạc cơ ức đòn chũm, mạc tuyến mang tai đến vùng góc xương
hàm dưới. Cắt ngang ống tai ngoài vị trí tiếp giáp ống tai sụn và xương. Khâu
hai lớp đóng ống tai ngoài.
Xác định thân chính dây thần kinh VII đi qua điểm giữa đường thẳng nối mỏm
chũm và điểm sụn của sụn ống tai ngoài. Toàn bộ cơ ức đòn chũm được tách
khỏi xương chũm. Cắt bỏ cơ nhị thân ra khỏi rãnh nhị thân. Cột cắt động mạch
chẩm. Cắt bỏ mỏm chũm bằng cưa Gigli. Giải phóng cơ trâm móng, dây chằng
trâm hàm dưới và cắt bỏ mỏm trâm bằng kềm.
Bộc lộ các dây thần kinh sọ IX, X, XI, XII. Bộc lộ và kiểm soát động mạch
cảnh ngoài, động mạch cảnh trong, tĩnh mạch cảnh trong. Thắt tĩnh mạch cảnh
trong được trì hoãn đến trước khi lấy bỏ khối u.
Bộc lộ xương thái dương
Khoan lấy bỏ vỏ xương chũm. Bộc lộ rõ xoang sigma, ống bán khuyên
ngoài, vùng thượng nhĩ. Bóc tách lấy bỏ toàn bộ da ống tai ngoài, màng nhĩ
và khung nhĩ xơ. Hạ tường, chặt cầu, lấy bỏ chuỗi xương con trừ đế xương
bàn đạp. Bộc lộ toàn bộ đoạn 2, 3 dây TK VII. Bóc tách cẩn thận dây VII
khỏi cống fallop từ hạch gối đến lổ trâm chũm. Đảo chiều và cố định dây TK
VII về phía trước với đoạn nhĩ nằm trong một rãnh nhỏ tự tạo trong thành
thượng nhĩ trước.
Khoan bỏ phần xương vùng đáy sọ sau bên bao gồm đáy phần ngoài xương
- Nữ: 4 ca
Lâm sàng
Những biểu hiện về tai
- Ù tai : 6 ca
- Giảm thính lực: 5 ca
- Chảy tai: 5 ca
- Cảm giác đầy tai: 5 ca
- Đau tai: 3 ca
Biểu hiện thần kinh
- Đau đầu: 2 ca
- Liệt thần kinh III, IV. VI: 1 ca
- Liệt VII: 3 ca (Độ VI, House-Brackmann)
- Liệt IX, X, XI: 2 ca
- Liệt XII: 1 ca
Biện pháp điều trị trước đó
Phẫu thuật: 1 ca
Thuyên tắc mạch trước mổ: 1 ca
Đánh giá bệnh nhân sau mổ
U bao sợi thần kinh được tìm thấy trong 4 trường hợp, kế đến là carcinoma 2
trường hợp và 1 trường hợp là u cuộn cảnh. Khối u được lấy bỏ hoàn toàn trong
2 trường hợp, một là u bao dây thần kinh, một là u cuộn cảnh. Các trường hợp
khác, khối u được lấy bỏ một phần đáng kể, phần còn lại xạ trị bằng máy gia
tốc tuyến tính hoặc Gamma Knife.
Tổn thương thần kinh VII sau phẫu thuật 2 trường hợp, một là u cuộn cảnh,
một là carcinoma. Trường hợp u cuộn cảnh, tổn thương thần kinh VII cải thiện
rõ sau 6 tháng từ độ V xuống độ II (House-Brackmann), các trường hợp khác
liệt trước mổ và sau mổ chưa thấy dấu hiệu hồi phục. Tổn thương IX, X, XI
gặp trong 2 trường hợp. Tổn thương dây XII gặp trong 1 trường hợp.
BÀN LUẬN
Các khối u vịnh cảnh có vị trí nằm sâu, có thể tăng sinh mạch máu, liên quan
bộc lộ rõ các dây thần kinh IX, X, XI, XII, động mạch cảnh ngoài, động mạch
cảnh trong (đoạn ngoài sọ và trong xương đá), tĩnh mạch cảnh trong.
Hình 2: Hình ảnh MRI trước mổ cho thấy khối u lấp đầy vùng hố cảnh
Mặc dù cả 7 trường hợp là những khối u mà phần lớn đều lan vào nội sọ ở
những mức độ khác nhau, sự phối hợp hai chuyên khoa Tai Mũi Họng và
Ngoại Thần Kinh đã giúp mạnh dạn bộc lộ đầy đủ để lấy bỏ bán phần hay toàn
bộ khối u. Đây là sự phối hợp không thể thiếu trong phẫu thuật đường xuyên
cổ-xương chũm lấy bỏ các khối u vùng vịnh cảnh.
Phương pháp phẫu thuật được thiết kế nhằm lấy bỏ khối u bằng cách (a) lấy bỏ
phần mô mềm bên trên, (b) lấy bỏ phần xương trên hành cảnh, và (c) lấy bỏ
hành cảnh cùng với toàn bộ khối u liên quan đến hành cảnh hoặc lân cận (Hình
1). Chỉ một thời gian ngắn sau khi Guild
(3)
và Rosenwasser
(Error! Reference source not
found.)
đầu tiên mô tả những khối u cuộn cảnh ở xương thái dương vào những
năm đầu thập niên 1940, một loạt những nổ lực của Capps
(Error! Reference source not
found.)
và Gejrot
(Error! Reference source not found.)
những năm sau đó đã liên tiếp đưa ra
những kỹ thuật phẫu thuật vào hố cảnh và vùng đáy sọ lân cận. Vào năm 1968,
House
(Error! Reference source not found.)
đã báo cáo những kinh nghiệm đáng kể trong
việc lấy bỏ khối u cuộn cảnh qua xương chũm và ngách mặt, bảo tồn thành sau
ống tai và không đảo chiều thần kinh VII. Một năm sau, Portmann
gì đáng kể.
Rối loạn chức năng do liệt các dây thần kinh sọ IX đến XII để lại hậu quả
nghiêm trọng về lâu dài. Trong hai trường hợp liệt IX, X, XI trước mổ gần như
không thấy dấu hiệu hồi phục. Tuy nhiên, trường hợp liệt sau mổ lại có dấu
hiệu hồi phục đáng kể sau 6 tháng. Việc cố gắng bóc tách cẩn thận khối u khỏi
các dây thần kinh sọ thấp giúp hồi phục đáng kể về lâu dài.
KẾT LUẬN
Đường bên xuyên cổ-xương chũm giúp lấy bỏ một phần hoặc hoàn toàn các
khối u nền sọ liên quan vịnh cảnh với sự phối các kỹ thuật phẫu thuật tai, phẫu
thuật đầu cổ và phẫu thuật thần kinh.