nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương pháp phẫu thuật các khối u buồng trứng tại bệnh viện phụ sản trung ương từ 1- 2012 đến 12- 2012 - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
U buồng trứng là một bệnh lý phụ khoa rất hay gặp và có xu hướng gia
tăng. Tại Mỹ, tỷ lệ ung thư buồng trứng mới mắc hàng năm chiếm 3% tổng số
ung thư nói chung (đứng hàng thứ 7) và tỷ lệ tử vong là 6% hàng năm (đứng
hàng thứ 4) [41]. Ở Canada u buồng trứng đứng thứ 5 sau u vú, u đại tràng, u
cổ tử cung và u thân tử cung [34]. Ở Pháp mỗi năm có khoảng 4.500 trường
hợp mới mắc và 3.500 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết là 9/100.000
và 5,5/100.000 [39]. Ở nước ta, u buồng trứng là loại khối u hay gặp trong các
khối u cơ quan sinh dục nữ, chỉ đứng thứ 2 sau u cơ trơn tử cung. Ở phía Bắc,
u buồng trứng chiếm tỷ lệ 3,6% các khối u sinh dục [8].
Buồng trứng là một tạng nằm sâu trong chậu hông bé nên u thường khó
phát hiện khi kích thước còn nhỏ vì không có triệu chứng hoặc các triệu chứng
không rõ ràng. Khi khối u to có thể có các triệu chứng như đau tức vùng hạ vị,
ra máu âm đạo bất thường, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn tiêu hoá…Chẩn đoán
u buồng trứng thường không khó nếu kết hợp khám lâm sàng với siêu âm ổ
bụng và/hoặc chụp cắt lớp vi tính. Mặc dù vậy, trong nhiều trường hợp để chẩn
đoán lành tính hay ác tính trước mổ lại là một thách thức lớn đối với các phẫu
thuật viên do không có chẩn đoán tế bào và/hoặc mô bệnh học. Các xét nghiệm
như CA12.5, siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính chỉ mang tính định hướng
ung thư nhưng không chẩn đoán chắc chắn được là lành hay ác, giữa lao hay
ung thư. Tại các bệnh viện tuyến địa phương, số bệnh nhân đến khám và điều
trị u buồng trứng là phổ biến song vì thiếu kinh nghiệm, thiếu các phương pháp
chẩn đoán cận lâm sàng hỗ trợ (định lượng CA 125, chụp cắt lớp vi tính, cộng
hưởng từ, chẩn đoán tế bào học…) nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc lập
kế hoạch phẫu thuật hoặc chuyển viện cho bệnh nhân.
2
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về u buồng trứng (UBT), đặc biệt là các ung
thư buồng trứng (UTBT) có khá nhiều và tương đối đầy đủ về triệu chứng lâm
sàng, cận lâm sàng (siêu âm, chẩn đoán mô bệnh học), kết quả điều trị song hầu
như ít có đề tài nghiên cứu nhằm phân biệt các UBT lành với các UTBT trước

BT bắt đầu biệt hóa vào cuối tuần thứ tám của quá trình phát triển phôi
nghĩa là muộn hơn sự biệt hóa của tinh hoàn. Bởi vậy, ở phôi tám tuần, nếu
tuyến SD không biểu hiện những đặc tính của nam giới, ta có thể nói rằng
tuyến SD ấy là BT [10]. Trong tuyến SD phôi có giới tính di truyền là nữ,
những dây SD nguyên phát (dây SD tủy) thoái hóa. Sự thoái hóa ấy tiến từ
vùng ngoại vi (vùng vỏ) vào vùng trung tâm (vùng tủy) của tuyến SD. Trong
khi đó, ở vùng vỏ xảy ra một đợt tăng sinh lần hai của các dây tế bào biểu mô
có nguồn gốc trung bì trung gian nằm phía dưới biểu mô khoang cơ thể phủ
mào SD, để chứa những tế bào SD nguyên thủy đã di cư tới đó. Trong các dây
này, những tế bào SD nguyên thủy biệt hóa thành những noãn nguyên bào, tế
bào đầu dòng của dòng noãn. Những dây tế bào biểu mô chứa noãn nguyên
4
bào tạo thành những dây SD thứ phát, còn gọi là dây SD vỏ vì nằm ở vùng
ngoại vi của tuyến SD. Những dây này tách rời khỏi biểu mô khoang cơ thể
phủ mào SD rồi đứt thành từng đoạn. Mỗi đoạn tạo ra một đám tế bào biểu mô
vây quanh noãn nguyên bào. Cũng như ở tinh hoàn, sau khi các dây tế bào biểu
mô tách rời khỏi biểu mô khoang cơ thể phủ mầm tuyến SD, trung mô sẽ chen
vào giữa biểu mô này với các dây SD để tạo ra màng trắng. Khác với ở tinh
hoàn, ở BT biểu mô khoang cơ thể phủ mầm tuyến SD tồn tại suốt đời và trở
thành biểu mô BT. Ở phôi thai và trẻ em, biểu mô này là một biểu mô vuông
đơn [64]. Noãn bào hoạt động gián phân rất tích cực để tăng nhanh số lượng
nhưng đại đa số noãn nguyên bào thoái hóa rồi biến đi trong thời kì phôi thai.
Trong thời kì này, số noãn nguyên bào còn lại lớn lên, biệt hóa thành noãn bào
I, chúng cùng với tế bào nang tạo thành nang trứng nguyên thủy. Những nang
trứng nguyên thủy được tạo ra vào khoảng tháng thứ tư của thời kỳ trong bụng
mẹ với số lượng khoảng 700.000 - 2 triệu, khi đến tuổi dậy thì số nang này chỉ
còn khoảng 400.000 vì các nang trứng nguyên thuỷ và các noãn bào ở bên
trong đã thoái hoá và tiêu biến phần lớn [61, 66].
1.1.2. Mô học
Bổ đôi BT có thể phân biệt được 2 vùng: vùng trung tâm hẹp là vùng

Một nang trứng thuần thục bao gồm noãn bào, lớp tế bào hạt và lớp tế
bào vỏ. Các tế bào hạt mất cấu trúc lưới xung quanh, chúng tạo nên các cấu
trúc nhỏ giống hoa hồng gọi là thể Call- Exner, có chứa ở trung tâm các sợi ưa
toan mạnh gồm các màng dày. Các tế bào nguồn gốc mô đệm tạo thành lớp
trong (thường hoàng thể hóa điển hình) và một lớp ngoài gồm nhiều hàng tế
bào. Các tế bào vỏ lớp trong là nõi sản xuất các hormon steroid giới tính. Khi
mãn kinh, các nang trứng sẽ thoái triển. BT trở nên teo nhỏ, chắc và không còn
hoạt động [42, 66].
Ở rốn BT có các cụm tế bào giống như tế bào Leydig của tinh hoàn,
được gọi là tế bào rốn BT. Chúng nằm sát các tĩnh mạch lớn và bạch mạch của
rốn BT, có thể tạo thành những chỗ lồi vào lòng mạch. Chúng có liên quan
chặt chẽ tới thần kinh và có thể chứa các thể Reinke, lipid và sắc tố Lipocron.
Dây BT có ở rốn BT, bao gồm một lưới các khe, ống nhỏ, nang, nhú,
được phủ bới lớp biểu mô có chiều cao khác nhau và được vây quanh bởi một
lớp mô đệm tế bào hình thoi [63, 66].
1.1.3. Sinh lý buồng trứng
BT của một bé gái mới lọt lòng có khoảng 500.000 bọc noãn nguyên thủy cả
ở 2 bên, giảm dần đến tuổi dậy thì còn khoảng 30.000 noãn. Trong hơn 30 năm
hoạt động của BT, chỉ khoảng 300 bọc noãn trưởng thành và phóng noãn.
Chức năng BT là sản xuất các tế bào SD và sản xuất các hormon SD.
Quá trình sản xuất các tế bào SD gọi là tạo noãn, tế bào SD đang phát triển gọi
là noãn bào, tế bào thuần thục gọi là trứng. Các hormon SD là estrogen và
progesteron. Estrogen kích thích sự phát triển và thành thục các cơ quan SD
trong và ngoài tạo nên những đặc tính nữ điển hình khi dậy thì. Progesteron
7
chuẩn bị cơ quan SD trong (chủ yếu là tử cung) để mang thai bằng kích thích
những thay đổi nội mạc. Ngoài ra, nó còn tác dụng kích thích tăng sinh tiểu
thùy tuyến vú để chuẩn bị cho tiết sữa.
BT bắt đầu hoạt động vào tuổi dậy thì, được đánh dấu bằng kỳ kinh đầu
tiên. BT ngừng hoạt động vào tuổi mãn kinh. Tuổi dậy thì trung bình là 13-15

7,0; Nam Á: 4,0 [31]. Theo thống kê trong 8 năm (1995 - 2003) ở bệnh viện
King Chulalongkorn Memorial có 85% các u buồng trứng gặp ở lứa tuổi từ 20
– 65 và 62% tổng số u gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, chỉ có khoảng 3%
gặp ở trẻ nữ <15 tuổi [37]. Nhìn chung, 85% u buồng trứng nguyên phát là
lành tính. Ở lứa tuổi <45 có 78% các u lành tính trong khi đó có 55% các ung
thư buồng trứng được phẫu thuật cắt bỏ ở tuổi > 45 và có < 10% ung thư
buồng trứng được phát hiện ở tuổi > 65. Khả năng biến đổi các u biểu mô bề
mặt buồng trứng thành ác tính hay ác tính giáp biên ở phụ nữ < 40 tuổi
khoảng 1/7 (khoảng 14%) còn với phụ nữ > 40 tuổi, tỷ lệ này là 1/2,5 (khoảng
40%) [37, 39, 41]. Tỷ lệ các typ mô bệnh học trong nghiên cứu 440 trường hợp
u buồng trứng của các tác giả Damrong Tresukosol, Surang Triratanachat cho
kết quả như sau [37]:
Bảng 1.1. Phân bố các typ mô bệnh học u buồng trứng
Typ MBH Số lượng bệnh nhân
U dạng nội mạc 169
U biểu mô - mô đệm
Lành tính
Giáp biên
Ác tính
81
23
92
U tế bào mầm
U quái
U tế bào mầm ác tính
55
18
73
U không xếp loại 2 2
9

thống kê của các tác giả Australia cho biết tỷ lệ ung thư buồng trứng ở phụ nữ
nước này như sau: Trong năm 1999 có 1173 phụ nữ được chẩn đoán là ung thư
buồng trứng, 731 trường hợp tử vong do ung thư buồng trứng và thời gian
sống thêm trung bình là 5,948 năm với các trường hợp bệnh nhân < 75 tuổi (so
với giai đoạn 1992 - 1997, tỷ lệ sống thêm 5 năm toàn bộ là 42%) [27]. Ung
thư buồng trứng đứng hàng thứ 8 trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ
Australia (sau ung thư vú, đại tràng, u hắc tố ác tính, ung thư không rõ nguồn
10
gốc, ung thư phổi, ung thư hệ tạo máu và ung thư hệ tiết niệu). Tỷ lệ chết do
ung thư buồng trứng đứng hàng thứ 6 sau ung thư vú, phổi, đại tràng, ung thư
không rõ nguồn gốc và ung thư tụy [27].
Theo thống kê của Globocan năm 2000, ở phụ nữ Ai Cập, ung thư
buồng trứng là một trong 4 loại ung thư sinh dục thường gặp nhất, nó đứng
hàng thứ 3 sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung [41]. Tỷ lệ mắc ung thư
buồng trứng có sự khác biệt giữa các vùng địa lý. Ở Bắc Âu, Trung Âu và
Nam Mỹ, tỷ lệ ung thư buồng trứng là 15/100.000 dân; còn ở châu Á và châu
Phi chỉ vào khoảng 2/100.000 dân. Người ta thấy rằng, tỷ lệ ung thư buồng
trứng ở phụ nữ da trắng cao hơn da đen (14,2/100.000 dân so với 9,3/100.000
dân). Theo ước tính, xác xuất có u buồng trứng trong suốt cuộc đời người phụ
nữ là 1/70 [41]. Người ta thấy rằng, ung thư buồng trứng ở những nước phát
triển nhiều hơn có ý nghĩa so với các nước đang phát triển, trừ Nhật Bản [dẫn
theo 41]. Tỷ lệ ung thư buồng trứng tại Pháp năm 1982 là 10,6/100.000 dân ở
độ tuổi từ 35-64 [33]. Tỷ lệ chết do ung thư buồng trứng chuẩn theo
tuổi/100.000 dân của một số nước là: Nhật Bản: 1,69; Italy: 3,02; Hoa Kỳ:
7,04; Đan Mạch: 11,2 [34, 35]. Người ta cũng nhận thấy rằng, những phụ nữ
Nhật Bản di cư tới Hawai và con cái của họ có tỷ lệ ung thư buồng trứng cao
hơn so với phụ nữ Nhật Bản tại chính quốc, điều này gợi ý rằng: Ung thư
buồng trứng có liên quan tới yếu tố môi trường [34]. Tuy nhiên, một số nghiên
cứu về dịch tễ học ung thư buồng trứng trong 2 thập niên (1980 - 2000) đã chỉ
ra khuynh hướng gia tăng của ung thư buồng trứng ở những quốc gia vốn có tỷ

truyền người ta nhận thấy các UMĐSD có liên quan đến một số đột biến nhiễm
sắc thể (NST), như: trisomy và tetrasomy 12, trisomy 14, monosomy 22,
12
trisomy 8, thay đổi cấu trúc NST số 16 với sự mất đoạn nhánh ngắn NST ở vị
trí 6q…[43, 47, 51].
1.3. TỶ LỆ CÁC U BUỒNG TRỨNG
Theo phân loại mô bệnh học, các u buồng trứng có thể được chia thành 8
nhóm chính sau: U biểu mô, u đệm sinh dục, u tế bào mỡ (dạng mỡ), u tế bào
mầm, u hỗn hợp đệm sinh dục và tế bào mầm, u mô mềm buồng trứng, u
không xếp loại và các u thứ phát [56, 58, 60]. Người ta nhận thấy rằng có sự
phân bố không đều giữa các nhóm u này. Trong nhiều nghiên cứu, người ta
nhận thấy các u biểu mô chiếm khoảng 80 - 90%, còn lại là các u của tế bào
mầm và mô đệm sinh dục [8, 18, 25, 26, 36, 40]. Có tới 80% các trường hợp
UTBT khi được chẩn đoán đã có sự lan tràn mô u ngoài buồng trứng. Nếu đỉnh
cao của các u lành tính nằm trong khoảng tuổi 20 - 40 thì đỉnh cao của các u ác
tính là 40 - 70 tuổi [42, 46].
Trong một số nghiên cứu về dịch tễ học, người ta nhận thấy các UTBT 2
bên thường gồm có các loại sau: Ung thư thanh dịch: 65%; di căn ung thư:
>50%; ung th dạng nội mạc tử cung: 40%; ung thư tế bào sáng: 40% và ung
thư chế nhầy: 20%. Riêng ở trẻ em, có tới 60% là các u tế bào mầm (tỷ lệ ác
tính cao hơn so với người trưởng thành); 10 - 12% là các u đệm sinh dục và 15
- 20% là các u biểu mô bề mặt (thường là lành tính); ngoài ra các loại u khác
hiếm gặp hơn: u xơ thần kinh, Ewings/PNET, sacôm cơ vân…[30, 49, 68].
Các u chế nhầy: Các u chế nhầy chiếm khoảng 25% toàn bộ các u
buồng trứng trong đó có khoảng 60% các u lành tính, 15% các u ác tính giới
hạn và 25% u ác tính. Các u nang nhầy lành tính chiếm khoảng 25% ở cả 2 bên
buồng trứng [40, 52].
U nhầy ác tính giới hạn (u giáp biên): Thường gặp ở phụ nữ trẻ, 1/3
trường hợp có cả ở hai bên buồng trứng. Thời gian sống thêm 5 năm là 100%
13

+ U nang bì: Thường gặp ở người trẻ, kích thước nhỏ, cuống dài, trong
chứa mô da, các thành phần phụ thuộc da, răng, xương…
+ Nang thanh dịch: Thường gặp ở người trẻ, u có cuống dài, vỏ mỏng,
thường có một túi trơn, ít dính, có dịch trong hay vàng chanh.
+ Nang nhầy: U thường to, có khi rất to (hàng kg), hay dính các tạng
xung quanh, có nhiều ngăn, dịch nhầy, đặc màu vàng nạt hay nâu.
+ Nang lạc nội mạc: Kích thước thay đổi từ rất nhỏ đến lớn, thường đau
theo chu kỳ, không phát triển theo thời gian.
Những u này có đặc điểm lâm sàng sau:
+ Khi u còn nhỏ, phần lớn phát hiện tình cờ khi BN đến khám vì các rối
loạn phụ khoa, như: rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, đau bụng hạ vị. Khám bụng
hay thăm trực tràng-âm đạo thấy có khối biệt lập với tử cung, căng hay chắc, di
động hay dính, đau hoặc không đau [2].
+ Xoắn u: đau hạ vị nhiều, buồn nôn và nôn, có thể có sốc do đau (nhợt
nhạt, vã mồ hôi lạnh, mạch nhanh).
+ Phản ứng hCG âm tính.
+ Siêu âm thấy ranh giới u rõ.
+ Soi ổ bụng thấy khối u nhỏ, nghi ngờ với thai ngoài tử cung.
+ Chảy máu và vỡ u thường xuất hiện sau xoắn: đau hạ vị, sốc, có thể có
thiếu máu cấp, phản ứng thành bụng, đau khi thăm khám qua âm đạo.
1.4.1.2. Các u buồng trứng ác tính
Các UBT ác tính hầu hết thuộc nhóm biểu mô (từ 80-90% các UTBT).
Biểu hiện lâm sàng tùy thuộc vào giai đoạn bệnh.
+ Giai đoạn sớm, khi u nhỏ hầu như ít có triệu chứng lâm sàng đặc hiệu.
15
+ Giai đoạn muộn: u chèn ép bàng quang gây đái khó, chèn ép trực tràng
gây đau, táo bón, chèn niệu quản gây ứ nước đài bể thận. Có thể gặp triệu
chứng tắc ruột khi u lan tràn trong ổ bụng [3].
+ U ác tính thường kèm theo các dấu dấu hiệu toàn thân, như: gầy sút
nhanh, sốt, ăn uống kém…; cổ chướng; u không di động và đau.

- Tính chất âm vang của u: giảm âm, tăng âm, âm hỗn hợp.
- Có dịch ổ bụng hay không, nhiều dịch hay ít.
- Có tổn thương các tạng trong ổ bụng hay không.
Dựa vào các đặc điểm trên có thể sơ bộ chẩn đoán lành hay ác [32].
Có nhiều báo cáo về giá trị của siêu âm trong chẩn đoán u buồng trứng.
Siêu âm có độ nhậy rất cao từ 82-96%, độ đặc hiệu của siêu âm có khác nhau
tùy báo cáo như của Đỗ Danh Toàn là 90% [23]. Báo cáo của Nguyễn Thị
Ngọc Phượng là 88% [17], Lý Thị Bạch Như nghiên cứu 340 BN u BT thì độ
đặc hiệu là 95% [14].
Hình 1.2. Ung thư biểu mô tuyến
nhú chế nhầy, hình ảnh hỗn âm có
nhú trong nang.
Hình 1.3. U nang thanh dịch BT
lành, giảm âm đồng đều.
- Hình ảnh siêu âm u buồng trứng lành tính
17
+ Nang hoàng thể: Là sự phát triển bất thường của hoàng thể giai đoạn
cuối chu kỳ, thường kèm theo xuất huyết và thoái triển tự nhiên sau 2-3 tuần.
Nếu nang <30mm gọi là hoàng thể nang hóa, nếu >30mm gọi là u nang hoàng
thể. Trên siêu âm thấy u nằm nằm giữa BT nhưng nếu nang lớn giống như nằm
1 bên BT. Hoàng thể nang hóa thường có 1 nang trong khi nang hoàng tuyến
có nhiều nang, cả hai bên và đôi khi có kích thước lớn. Nang hình cầu hay
tròn, bờ thường dầy hơn nang noãn, có thể phản âm trống, phản âm kém đồng
nhất, mạnh đồng nhất hoặc hỗn hợp. Hình ảnh đặc trưng là những đường phản
âm mỏng đan xếp hình mạng lưới.
+ Nang thanh dịch: Có thể một hay nhiều thùy, kích thước không đều
nhau, bờ mỏng, chứa dịch trong, hình ảnh phản âm trống, âm vang thưa.
+ Nang nhầy: Thường thấy ở một bên buồng trứng, kích thước thường
lớn, nhiều thùy, vách nang mỏng, chứa chất lỏng nầy trong hoặc đục, đôi khi
đặc và có sợi.

trạng hạch, dịch ổ bụng [57].
Okamura nghiên cứu giá trị của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán
khối u BT cho 184 BN thấy kết quả chụp cắt lớp vi tính phát hiện được 85,5%
trường hợp có u [57]. Kim HS nghiên cứu 101 BN ung thư buồng trứng giai
19
đoạn sớm, chụp cắt lớp chẩn đoán đúng so với phẫu thuật 50% (51/101) các
BN không có xâm lấn phúc mạc ngoài khung chậu; 71/101 BN không có di
căn hạch chậu [50]. Tại Việt Nam, chụp cắt lớp ổ bụng để chẩn đoán các khối
u BT được áp dụng rộng rãi tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và bệnh viện
trung ương, các bệnh viện phụ sản còn ít áp dụng. Tuy nhiên chưa có báo cáo
về giá trị của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán u BT.
Hình1.5. Ung thư biểu mô tuyến nhú
chế nhầy, hình ảnh hỗn tỷ trọng, có
nhú trong nang, có dịch ổ bụng.
Hình 1.6. U nang nhầy lành tính,
đồng tỷ trọng, ranh giới rõ,
1.4.2.4. Xét nghiệm CA 125
Kháng nguyên CA 125 là một glucoprotein có trọng lượng phân tử
khoảng 200kDa, được tiết ra khi phát triển thai nhi. Trị số bình thường trong
huyết thanh là < 35 U/ml, tăng khi có thai [11].
Thay đổi bệnh lý:
- Tăng cao trong 80 - 85% các trường hợp UTBT, nhất là khi có di căn [15].
- Còn thấy tăng trong UT tử cung, ống Fallope, tụy, vú, phổi và đại
tràng, đôi khi trong viêm TC, viêm phần phụ, viêm vùng chậu… Tuy nhiên có
khoảng 1% phụ nữ bình thường có nồng độ CA 125 tăng > 35U/ml [19].
20
Xét nghiệm CA 125 được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán các khối u
BT. Một số báo cáo về kết quả của CA 125 trong chẩn đoán khối u buồng
trứng trước mổ [20].
Tác giả Kim.H.S nghiên cứu đối chiếu giá trị của CA125 với chụp cắt

3 33/53 62 69,8 36/53 66 1058
4 6/9 67 216,8 8/9 89 1934
1.4.2.5. Tế bào học
Phương pháp này là dùng kim nhỏ chọc xuyên qua thành bụng để hút
dịch ổ bụng hoặc tế bào tại u làm xét nghiệm tìm tế bào ác tính.
Tuy phương pháp rất dễ thực hiện nhưng độ chính xác chưa cao và có
nhiều tai biến khi chọc cũng như có thể gây di căn tế bào ung thư ra thành bụng
qua chỗ chọc, nhiễm trùng ổ bụng nên ít được áp dụng. Với các trường hợp ung
thư giai đoạn muộn có tràn dịch ổ bụng nhiều, chèn ép gây khó thở cho bệnh
nhân có thể chọc hút dịch giảm áp lực ổ bụng đồng thời làm xét nghiệm tế bào.
Tỷ lệ dương tính khi xét nghiệm dịch ổ bụng có thể lên tới 60%.
1.4.2.6. Soi ổ bụng
Soi ổ bụng giúp đánh giá được tổn thương, giai đoạn bệnh, đồng thời
sinh thiết bệnh phẩm làm xét nghiệm mô bệnh học (MBH). Tuy nhiên, có thể
gây vỡ u hoặc làm lan tràn UT ra ổ bụng và thành bụng. Vì vậy, chỉ nên tiến
hành sinh thiết khi có nghi ngờ và với những u còn nhỏ, và tiến hành ở những
cơ sở có khả năng phẫu thuật tốt.
1.4.2.7. Chẩn đoán sinh thiết tức thì
Sinh thiết tức thì còn gọi là sinh thiết cắt lạnh là một phương pháp chẩn
đoán MBH trong lúc mổ trên các tiêu bản được cắt từ máy cắt lạnh (Cryostat).
Phương pháp này đã giúp các nhà phẫu thuật có một thái độ xử lý đúng đắn,
làm giảm số lần phẫu thuật, rút ngắn thời gian điều trị, góp phần quan trọng
trong điều trị các khối u và UT nói chung. Sinh thiết tức thì là phương pháp
chẩn đoán nhanh sau 10-15 phút, có độ chính xác cao, có thể áp dụng rộng rãi
tại các cơ sở điều trị ngoại khoa lớn, đặc biệt là các trung tâm điều trị UT. Độ
chính xác, độ đặc hiệu của xét nghiệm chung cho các loại u là 96,03% và
97,9%, với u BT thì độ chính xác, độ đặc hiệu là 98,2% và 100% [4].
22
1.4.2.8. Chẩn đoán mô bệnh học
Chẩn đoán mô bệnh học là chẩn đoán có độ chính xác cấp III, được coi

trong tử cung, sacôm tuyến, sacôm mô đệm dạng nội mạc tử cung (độ thấp),
sacôm buồng trứng không biệt hoá [35]. Nhóm u tế bào Sertoli - Leydig thành
6 nhóm (các phân loại trước không chia riêng nhóm này) riêng biệt. Đặc biệt,
trong phân loại này có chia thành 15 thứ typ của typ u hỗn hợp (nhóm này
cũng không có ở các phân loại trước); các u tế bào mầm cũng được chia cụ thể
hơn thành các u tế bào mầm nguyên thuỷ, u quái 2 pha và 3 pha (chi tiết đến
các nhóm rất nhỏ của các bướu giáp buồng trứng) mà các phân loại trước đó
đều không mô tả. Chi tiết bảng phân loại xin xem ở phần phụ lục.
Hình1.7.U quái không thành thục [35]
Hình 1.8.Ung thư biểu mô dạng nội mạc [35]
1.6. PHÂN LOẠI U BUỒNG TRỨNG THEO NGUỒN GỐC TẾ BÀO
Trong phân loại mô học các u buồng trứng, có thể chia theo nguồn gốc
tế bào thành các nhóm lớn sau:
1.6.1. Các u có nguồn gốc biểu mô
- Các u thanh dịch (bao gồm u thanh dịch lành tính, u ác tính giới hạn và
u thanh dịch ác tính).
- Các u chế nhầy (bao gồm u nhầy lành tính, u ác tính giới hạn và u
nhầy ác tính).
- Các u dạng nội mạc tử cung (trừ loại sacôm).
- U tế bào sáng.
- U tế bào chuyển tiếp
- Ung thư biểu mô tế bào vảy buồng trứng.
- U biểu mô hỗn hợp buồng trứng (bao gồm các u lành tính, u giáp biên, u ác tính).
24
- Ung thư biểu mô không biệt hoá buồng trứng.
- U cacxinoit
- U tuyến bã
- Các u biểu mô nhóm hỗn hợp
- Nhóm các ung thư biểu mô di căn tới buồng trứng
1.6.2. Các u liên kết

Khối u giới hạn ở một buồng trứng, vỏ bọc còn nguyên vẹn,
không có u trên bề mặt buồng trứng, không có tế bào ác tính
ở dịch ổ bụng hoặc dịch rửa màng bụng.
T1b
Ib
Khối u giới hạn ở hai buồng trứng, vỏ bọc còn nguyên vẹn,
không có u trên bề mặt buồng trứng, không có tế bào ác tính
ở dịch ổ bụng hoặc dịch rửa màng bụng.
T1c
Ic
Khối u giới hạn ở một hoặc 2 buồng trứng với bất kỳ điều
kiện nào dưới đây: Vỡ nang, có u trên bề mặt buồng trứng,
có tế bào ác tính ở dịch ổ bụng hoặc dịch rửa màng bụng.
T2 II
Khối u ở một hoặc 2 buồng trứng xâm lấn vào khung chậu
T2a
IIa
Khối u xâm lấn và/hoặc lan vào tử cung và/hoặc ống dẫn trứng,
không có tế bào ác tính ở dịch ổ bụng hoặc dịch rửa màng bụng.
T2b
IIb
Xâm lấn vào mô khác của khung chậu, không có tế bào ác
tính ở dịch ổ bụng hoặc dịch rửa màng bụng.
T2c
IIc
Xâm lấn vào khung chậu, có tế bào ác tính ở dịch ổ bụng
hoặc dịch rửa màng bụng.
T3 và
hoặc
N1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status