TẾ BÀO GỐC VÀ MỘT SỐ ỨNG DỤNG
Nhóm thực hiện :
Trần Đức Tài
Cấn văn Hùng
Đào Duy Sơn
I.tổng quan về tế bào gốc
1.1 khái niêm tế bào gốc
Tế bào gốc là tế bào có khả năng phát triển thành nhiều loại tế bào khác
nhau trong cơ thể. Là một công cụ trong "hệ thống sửa chữa" của cơ thể, khi
được đưa vào các bộ phận khác nhau, tế bào gốc có thể phân chia không giới
hạn để lấp đầy những thiếu hụt tế bào của bộ phận đó chừng nào cơ thể còn
sống. Tế bào gốc có thể trở thành tế bào cơ, hồng huyết cầu, tế bào não
Tế bào gốc có 2 đặc điểm quan trọng tạo nên sự khác biệt với các loại tế bào
khác. Thứ nhất, tế bào gốc là loại tế bào không chuyên dụng nên có thể tự tái
tạo trong một thời gian dài nhờ quá trình phân chia. Thứ hai, trong môi
trường sinh lý hoặc thí nghiệm nhất định, tế bào gốc có thể biến đổi trở
thành tế bào chuyên dụng như tế bào gây đập của cơ tim hoặc tế bào sản
sinh insulin của tuyến tụy.
1.2 lược sử hình thành
Các tế bào gốc được tìm thấy trong cơ thể của mọi sinh vật sống. Những tế
bào này làm phát sinh các tế bào mà nhiều người khác phân biệt thành các
loại tế bào đặc biệt. Năm 1960, Ernest A. McCulloch và James E. Till cho
thấy hai loại tế bào gốc động vật có vú. Tế bào gốc phôi được tách ra từ khối
tế bào của blastocysts, trong khi các tế bào gốc người lớn được tìm thấy
trong các mô chỉ dành cho người lớn
Trong phôi thai đang phát triển, các tế bào gốc, được thừa kế, biệt hóa
thành các mô phôi thai. Trong khi người lớn tế bào gốc giúp sửa chữa các bộ
phận của cơ thể bên cạnh tiền thân. Vai trò cơ bản của tế bào gốc người lớn
là để sản xuất một hệ thống sửa chữa, bổ sung các tế bào đặc biệt và duy trì
năng suất của các cơ quan được tái sinh trong tự nhiên.
Các tế bào gốc trưởng thành và thay đổi thành tế bào chuyên giúp cho
Parkinson và Alzheimer.
Các tế bào gốc của chính người được sử dụng, nó được gọi là cấy ghép
autologus và khi các tế bào gốc được lấy từ một người nào khác, nó được
gọi là cấy ghép allogeneic. Trong autologus, tế bào gốc được thu thập trước
khi hóa trị liệu là điều trị có thể thiệt hại các tế bào. Sau khi điều trị, họ lại
tiêm vào cơ thể. Trong trường hợp cấy ghép tủy xương, các nhà tài trợ được
tiêm một tủy gây mê và sau đó được lấy ra từ xương hông với sự giúp đỡ
của các ống tiêm. Quá trình này mất gần một giờ.
Trong allogenic, tế bào gốc có thể được thu được từ máu. Người được
tặng được cho một loại thuốc mà bản tế bào gốc vào mạch máu và sau đó
với sự giúp đỡ của ống thông máu được lấy ra khỏi cánh tay. Những tế bào
gốc chiết xuất này sau đó được tiêm vào tĩnh mạch của người nhận và họ
giúp đỡ trong nhân tế bào máu. Nó mất khoảng 2-4 giờ sáu phiên trong quá
trình 1-2 tuần. Tuy nhiên, các tế bào gốc cũng có thể được bảo quản bằng
đông lạnh để sử dụng sau này.
Cấy ghép tế bào gốc là nguy hiểm từ điểm nhìn của nhiễm trùng. Các
vấn đề của tham nhũng-so-host bệnh trong đó các tế bào thu được tấn công
các tế bào của bệnh nhân cũng tồn tại. Tuy nhiên, nó có thể tránh được đến
mức độ nào đó bằng cách duy trì vệ sinh xung quanh bệnh nhân. Bệnh nhân
chủ yếu là ở lại bệnh viện khoảng 1-2 tháng. Sau khi nhận được thải ra, họ
nên đến các bác sĩ cho kiểm tra thường xuyên.
Thống kê của cấy ghép tế bào gốc cho thấy tám triệu người trên toàn
cầu và bốn triệu người ở Mỹ đã đăng ký bản thân như các nhà tài trợ cho các
tế bào gốc.
1.3 phân loại tế bào gốc
Chúng ta có thể phân loại và gọi tên “tế bào gốc”theo một số cách sau.
1. Theo tiềm năng biệt hóa:
- Tế bào toàn năng(totipotent cell):hợp tử, hay Blastomere
Là tế bào có khả năng phân chia và biệt hoá thành tất cả các tể bào của cơ
thể, có khả năng biệt hoá thành cơ thể hoàn chỉnh.
Vd: tế bào gốc cơ tim là tế bào sẽ biệt hoá thành tế bào cơ tim, tế bào gốc
xương là những tế bào biệt hoá thành những tế bào xương,…
Nhưng có một số tác giả cho rằng cách gọi tên này không thật hợp lí vì các
tế bào trên( theo họ) là những tế bào tiền thân( progeneotor cell) hay cơ
chất( pecuor cell) không phảỉ là những tế bào gốc thực thụ.
Nhưng nếu theo cách phân loại theo tiềm năng biệt hóa thì ta cũng có thể
xem những tế bào này là những tế bào gốc một năng(unipotent cell).
Vậy thật sự tế bào mầm là một trong những loại tế bào gốc , xét về tiềm
năng biệt hoá nó không khác gì tế bào gốc phôi(đều là pluripotent cell)
II.một số ứng dụng của tế bào gốc
2.1 Ghép tế bào gốc trị liệu (stem cell therapy):
Là dùng tế bào gốc để thay thế, sửa chữa các phần cơ thể bị bệnh và tổn
thương bằng các tế bào mới khỏe mạnh. Kỹ thuật này còn được gọi là kỹ
thuật ghép tế bào trị liệu (cell transplantation therapy) hay kỹ thuật thay thế
tế bào trị liệu (cell replacement therapy).
2.1.1 Quy trình ứng dụng tế bào gốc trị liệu bao gồm các khâu sau:
- Sản xuất dòng tế bào gốc:
+ Thu tế bào gốc: từ phôi hoặc từ tổ chức trưởng thành.
+ Nuôi cấy các tế bào gốc này trong labo nhằm nhân lên về mặt số
lượng.
- Với tế bào gốc phôi, cần nuôi cấy nhân tạo trong các điều kiện môi
trường lý hóa thích hợp để định hướng biệt hóa thành các tế bào mong
muốn.
- Ghép tế bào gốc, đưa các tế bào gốc này vào các khu vực tổn thương
cần sửa chữa.
2.1.2 Ứng dụng tế bào gốc trưởng thành trong điều trị:
Trên lâm sàng, tế bào gốc trưởng thành đã được sử dụng trong điều trị
các bệnh tự miễn, tai biến mạch máu não, suy giảm miễn dịch, thiếu máu,
nhiễm Estein-barr virus, tổn thương giác mạc, các bệnh máu và bệnh gan,
tạo xương không hoàn chỉnh, tổn thương tủy sống, liền vết thương da, điều
Có thể coi công nghệ mô
là một ứng dụng của tế bào
gốc trị liệu. Các tiến bộ gần
đây trong nghiên cứu công
nghệ mô và tế bào gốc cho
thấy có thể thiết lập tế bào
thành các cấu trúc không
gian ba chiều dùng để sửa chữa mô tổn thương. Sửa chữa tổ chức bằng công
nghệ mô có thể được thực hiện bằng cách nuôi cấy tế bào gốc và sau đó
ghép vào mô tổn thương.
Trong công nghệ mô có thể sử dụng tế bào gốc trưởng thành để phát triển
thành mô ghép hoặc có thể dùng tế bào gốc phôi tạo ra trong kỹ thuật nhân
bản phôi vô tính để sản xuất ra các mô ghép phù hợp về mặt miễn dịch (sơ
đồ B). Một hướng khác có khả năng tạo ra mô ghép phù hợp với bệnh nhân
từ nguồn tế bào gốc phôi là dùng kỹ thuật chỉnh sửa gen mã hóa phân tử hòa
hợp tổ chức chính (MHC) (sơ đồ A)
2.3 Các ứng dụng tế bào gốc phôi không liên quan đến ghép :
Các ứng dụng không liên quan đến ghép chủ yếu được thực hiện trên tế
bào gốc phôi. Có thể kể đến một số ứng dụng sau:
- Nghiên cứu những sự kiện sớm xảy ra trong quá trình phát triển phôi
thai người như các nguyên nhân có thể gây sinh ra trẻ dị tật bẩm sinh và các
bất thường nhau thai dẫn đến sảy thai.
- Khám phá ảnh hưởng của các bất thường chrosome trong giai đoạn
sớm của quá trình phát triển. Ảnh hưởng này có thể là sự hình thành sớm các
khối u ở trẻ em mà qua nghiên cứu người ta thấy rằng các tế bào khối u này
chủ yếu có nguồn gốc từ phôi.
- Thử nghiệm các thuốc điều trị. Hiện nay trước khi thử một thuốc mới
trên người tình nguyện, thuốc đó phải được qua thử nghiệm tiền lâm sàng.
Trong thử nghiệm tiền lâm sàng có sàng lọc thuốc trên các mô hình động vật
– ví dụ các thử nghiệm trên in vitro có dùng tế bào chuột, hoặc các thử
3 Tế bào gốc tạo máu
Tế bào gốc tạo máu được xếp vào loại tế bào gốc trưởng thành. Đây là các tế
bào được tách ra từ máu hoặc tủy xương, chúng có khả năng tự tái tạo (self renew),
có thể biệt hóa thành các tế bào đặc thù, có thể di chuyển từ tủy xương vào máu, và
có thể trải qua quá trình apoptosis để loại bỏ đi các tế bào không cần thiết.
Các nghiên cứu cơ bản về tế bào gốc tạo máu nở rộ vào những năm 1960.
Trong thời gian này các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có hai loại tế bào
gốc tạo máu. Hai loại này về thực chất chính là hai giai đoạn biệt hóa khác
nhau của tế bào gốc tạo máu:
- Các tế bào gốc tạo máu dài hạn (long-term hematopoietic stem cells): đây là
các tế bào gốc tạo máu ít biệt hóa hơn, nói cách khác là “non” hơn, có khả năng tự
tái tạo và tính đa năng cao. Trên thực nghiệm các tế bào này có thể khôi phục hoàn
toàn chức năng tạo máu của chuột bị chiếu xạ liều chí tử sau vài tháng. Một ví dụ về
tế bào gốc tạo máu dài hạn là các tế bào gốc tạo máu mang CD34+, tế bào này có
thể biệt hóa thành tất cả các chủng loại tế bào máu khác nhau. Trong điều kiện bình
thường, các tế bào gốc tạo máu dài hạn có khả năng tự tái tạo trong suốt đời sống cá
thể. Hiện nay thuật ngữ “tế bào gốc tạo máu” thường được dùng để đề cập tới loại
tế bào gốc tạo máu dài hạn này.
- Các tế bào định hướng/tiền thân ngắn hạn (short-term progenitor or
precursor cell): đây là các tế bào tạo máu đã khá trưởng thành, không mang CD34,
là tiền thân của các tế bào đã biệt hóa đầy đủ của cùng một loại dòng tế bào máu, ví
dụ tế bào định hướng dòng hồng cầu, tế bào định hướng dòng lympho, mẫu tiểu
cầu…. Các tế bào định hướng/tiền thân ngắn hạn cũng có khả năng tăng sinh, biệt
hóa thành các tế bào máu nhưng so với các tế bào gốc tạo máu dài hạn chúng có
giới hạn về tính đa năng. Ví dụ một tế bào tiền thân hồng cầu có lẽ chỉ có thể tạo
thành một tế bào hồng cầu.
3.1Các nguồn lấy tế bào gốc tạo máu:
- Tủy xương: Là nguồn truyền thống để lấy tế bào gốc tạo máu. Người
hiến tế bào gốc được gây mê, chọc và hút tủy xương ở vùng xương chậu.
Mật độ tế bào gốc trong tủy xương không nhiều, trung bình trong 100,000 tế
ngoại vi của một người cho phù hợp. Người cho phù hợp thường là anh, chị,
em của bệnh nhân, những người này được thừa hưởng kháng nguyên hòa
hợp tổ chức tương tự bệnh nhân, do đó có thể giảm thiểu phản ứng thải mô
ghép hoặc phản ứng ghép chống chủ.
3.2.2 Điều trị các rối loạn máu bẩm sinh bao gồm thiếu máu bất sản,
beta-thalassemia, hội chứng Blackfan-Diamon, thiếu máu hồng cầu liềm…
3.2.3 Dùng tế bào gốc tạo máu cứu nguy cho các trường hợp hóa trị liệu và
xạ trị liệu trong điều trị ung thư. Biện pháp này còn được gọi là ghép tế bào gốc
tự thân. Với mục đích này tế bào gốc được huy động từ tủy xương vào máu rồi
được thu giữ, bảo quản trong khi bệnh nhân được điều trị hóa chất hoặc tia xạ để
tiêu diệt các tế bào ung thư. Khi cơ thể bệnh nhân đã thanh lọc hết hóa chất/tia xạ,
bệnh nhân được nhận lại tế bào gốc tạo máu của chính mình. Với biện pháp điều
trị này không có vấn đề bất đồng miễn dịch dẫn đến thải ghép hoặc phản ứng
mảnh ghép chống túc chủ. Tuy nhiên vấn đề của ghép tế bào gốc tự thân là đôi khi
các tế bào ung thư vô tình được thu gom và truyền trở lại cho bệnh nhân cùng với
tế bào gốc. Hiện nay có một số kỹ thuật mới phát minh cho phép tránh được điều
này bằng cách tách tinh khiết và chỉ bảo quản các tế bào có CD34+, Thy-1+.
3.3 Điều trị các bệnh lý ở cơ quan khác (nhồi máu cơ tim,
Parkinson…):
Các nghiên cứu mới đây trên mô hình động vật và một số thử nghiệm lâm
sàng cho thấy có thể dùng tế bào gốc tạo máu tiêm trực tiếp vào vùng tổn
thương tim để tái tạo lại mô cơ tim và mạch máu tổn thương trong nhồi máu
cơ tim cũng như có thể tiêm tế bào gốc tạo máu để điều trị bệnh Parkinson.
Các nghiên cứu theo hướng này dựa vào khả năng “mềm dẻo” của tế bào
gốc tạo máu và gợi mở một tiềm năng ứng dụng mới của tế bào gốc tạo
máu.
III. nuôi cấy và biệt hóa tế bào gốc
1. Thành phần môi trường
• Muối vô cơ
• Carbohydrate, acid béo, amino acid
1.3.1 Thu nhận và nuôi cấy tế bào gốc từ tủy xương chuột
Đùi chuột vừa được thu
nhận
Rửa tủy xương bằng dung dịch D’MEM
và thu nhận huyền phù tế bào
bào
Thu nhận xương đùi chuột
Rửa bằng dung dịch PBS
Lóc bỏ phần cơ và thịt
Rửa lại bằng dung dịch
PBS
Thay môi trường mới sau 24 giờ
Cắt bỏ hai đầu xương đùi
Nuôi tế bào trong dụng cụ nuôi phù hợp
1.3.2 Quy trình thu nhận tế bào gốc từ máu cuống rốn
1.3.3 Nghiên cứu nuôi cấy, biệt hóa tế bào gốc sinh tinh từ bệnh nhân
azoospermia
* Phân lập các tế bào dòng tinh
- Các nghiên cứu phân lập các tế bào dòng tinh đã được nghiên cứu từ rất
lâu. Các nghiên cứu này được tiến hành ở trên cả người và trên động vật.
Anna và cs, 1996 đã nghiên cứu và thành công quá trình phân lập các tế bào
dòng tinh, đặc biệt là tinh nguyên bào loại A. Quá trình được tiến hành như
Pha mẫu máu thu được với dung dịch PBS/2mM EDTA
theo tỉ lệ 1:1
Dùng pipette hút 15 ml dung dịch Ficoll_Hypaque
vào ống ly tâm 50ml
Rót nhẹ 30 ml hỗn hợp PBS và máu lên trên
lớp dung dịch Ficoll_Hypaque sao cho không
làm xáo động bề mặt Ficoll_Hypaque/mẫu
Ly tâm 30’ ở 1500v\phút,
cấy lại không có đặc tính đó.
* Nuôi cấy tế bào dòng tinh
- Các nghiên cứu nuôi cấy các tế bào dòng tinh đã có từ rất lâu,
Steinberger, 1970; Matte, 1971; Ghatnekar, 1974; Curtis, 1981 là những tác
giả đầu tiên tiến hành nuôi cấy các tế bào dòng tinh.
- Tuy vậy, nuôi cấy các tế bào dòng tinh chỉ thực sự có ý nghĩa từ sau
những năm 1990, khi kỹ thuật vi thao tác được áp dụng.
- Ngày nay nuôi cấy tế bào dòng tinh với 2 mục đích:
• Biệt hóa các tế bào dòng tinh
• Lựa chọn các tế bào khỏe mạnh
+ Đối với azoospermia không do tắc:
- Zhu, 1996; Liu, 1997; Balaban, 1999; Cremades, 1999 và Sousa, 2002,
nuôi cấy các tế bào dòng tinh thu được từ TESE và nhận thấy: sau 24h nuôi
cấy trong môi trường có FSH thì tỷ lệ di động và khả năng thụ tinh của tinh
trùng tăng lên.
- Aslam và Fishel, 1998; Tesarik, 1998; Cremades, 1999 đã nuôi cấy các
tinh tử của người có quá trình sinh tinh bình thường. Kết quả các tinh tử phát
triển nhanh với các biểu hiện: nhân tụ đặc lại, đuôi hình thành và phát triển.
- Terarik, 1998 nhận thấy sự có mặt của FSH và testosterone trong môi
trường nuôi cấy sẽ làm tăng nhanh tốc độ biệt hóa.
- Các nghiên cứu của Tesarik vào năm 1999 và 2000 cũng thu được kết quả
tương tự ở bệnh nhân azoospermia không do tắc.
- Năm 1999, đứa trẻ đầu tiên ra đời từ tinh tử nuôi cấy (Tesarik).
- Cho đến nay, có nhiều phương pháp nuôi cấy các tế bào dòng tinh khác
nhau. Tesarik, 2006 tiến hành nuôi cấy các tế bào dòng tinh cùng với các tế
bào Sertoli, trong điều kiện nhiệt độ từ 30-32
0
C, cùng với các chất khác như
FSH, LH. Sousa, 2006 tiến hành nuôi cấy các tế bào dòng tinh sau khi phân
lập và chọn lựa dựa vào kỹ thuật vi thao tác. Một số các tác giả khác nuôi
hoàn toàn, hơn nữa lại khó xác định được tế bào sống để lựa chọn. Một số
tác giả đã tiến hành nuôi cấy các tế bào này và đạt được kết quả tốt đẹp như:
tế bào biệt hóa, trưởng thành hơn, khả năng xác định tế bào sống cao và tỷ lệ
thụ tinh sau ICSI tăng đáng kể (Balaban, 1999).
* Đặc điểm của các tế bào thu từ tinh hoàn bệnh nhân azoospermia:
- Tinh trùng thường chưa biệt hóa hoàn toàn và không di động nên rất khó
xác định tinh trùng sống trong việc chọn tinh trùng để làm ICSI.
- Theo Tesarik, 1998; Jurisicova, 1999; Gandini, 2000; Muratori, 2000, tỷ
lệ đứt gãy ADN trong các tinh tử thu từ tinh hoàn, đặc biệt là tinh tử tròn
(round spermatid) là rất cao, đây là nguyên nhân làm giảm tỷ lệ thành công.
- Nguyên nhân tỷ lệ thụ tinh của tinh tử rất thấp (Tesarik):
• Sự chưa hoàn thiện của trung thể
• Sự chuyển tiếp các protein nhân (từ histone thành protamine) chưa
hoàn toàn: thiếu hụt protamine sẽ cản trở sự hình thành các tiền nhân.
• Sự thiếu hụt các chất kích hoạt noãn.
Không có tinh trùng trong tinh dịch (azoospermia) chiếm một tỷ lệ đáng kể
trong các nguyên nhân vô sinh nam và đây là nguyên nhân đáng quan tâm
nhất. Nhóm azoospermia do tắc, các bệnh nhân này sẽ được điều trị bằng
phương pháp PESA-ICSI hay MESA-ICSI. Nhóm thứ 2 là nhóm
azoospermia không do tắc, các bệnh nhân này cho đến nay khó có khả năng
điều trị. TESE-ICSI hoặc xin tinh trùng là hướng giải quyết cho các bệnh
nhân nhóm này.
Đối với các bệnh nhân azoospermia không do tắc, hướng giải quyết hiện nay
vẫn là xin tinh trùng, đây vẫn là một giải pháp tình thế.
- Chính vì vậy nuôi cấy tinh trùng, tinh tử và các tế bào gốc sinh tinh có
ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ thụ tinh và mang lại cơ
hội làm cha cho những bệnh nhân azoospermia.
1.3.4 T hu nhận và biệt hóa tế bào gốc trung mô từ cuống dốn của người
1.3.4.1 .Thu nhận máu cuống rốn
Máu cuống rốn được thu nhận từ các sản phụ đã được xét nghiệm âm tính
cho đến khi tế bào mọc đạt tỷ lệ 70-80% bề mặt đáy bình nuôi, với chế độ
thay môi trường là 7 ngày/lần.
2.3.Giai đoạn 2, nuôi cấy thứ cấp: cấy chuyền tăng sinh MSC
Khi mật độ MSC trong bình nuôi tăng, đạt khoảng 70-80% tỷ lệ diện tích
đáy bình, tiến hành cấy chuyền nhằm cung cấp không gian và chất dinh
dưỡng cho MSC.
Quy trình được tiến hành như sau: loại bỏ môi trường cũ và rửa tế bào với 4-
5 ml PBSA có bổ sung gentamycin (10 μg/ml) hai lần. Tiếp tục loại bỏ dịch
rửa và bổ sung 4-5 ml trypsin/EDTA 0,05%. Sau 15 giây, tiến hành đổ bỏ
dung dịch enzyme nhưng vẫn giữ lại khoảng 1 ml và tiếp tục ủ trong tủ ấm
370C, từ 2-3 phút. Sau đó, lắc nhẹ bình nuôi cấy để tách tế bào ra khỏi bề
mặt đáy. Khi tế bào co tròn và tách ra khỏi bề mặt bình nuôi, phải trung hòa
trypsin thừa bằng 10-11 ml môi trường IMDM 10% FBS. Huyền phù tế bào
đó được chia đều cho 3 bình nuôi mới.
2.4.Biệt hoá MSC
Các MSC được thu nhận theo phương pháp trên, sau khi cấy chuyền từ 5-7
lần, tiến hành
kiểm tra độ tinh sạch, tạo nồng độ thích hợp để cuối cùng sử dụng cho biệt
hóa in vitro.
2.4.1.Biệt hóa MSC thành tế bào tạo mỡ (adipocyte)
Để biệt hóa thành tế bào tạo mỡ, các MSC có nồng độ chuẩn được nuôi
trong môi trường IMDM 10% FBS có bổ sung 1 μM dexamethasone, 200
μM indomethacin, 1,7 μM insuline, 500 μM isobutyl-methylxanthine
(IBMX) (Sigma). Trong đó, dexamethasone là một glucocorticoid steroid có
tác dụng cảm ứng cho sự biệt hóa và các yếu tố bổ sung còn lại sẽ kích thích
sự biệt hóa. Insuline sẽ kích thích sự thu nhận các phân tử glucose vào tế
bào, tạo nguyên liệu cho các phản ứng chuyển hóa thành các giọt mỡ
[10;11]. IBMX là chất ức chế phosphodiesterase làm khóa sự chuyển cAMP
thành 5’AMP [8]. Điều này gây nên sự điều hòa dương tính hormone nhạy
cảm lipase (HSL). HSL sẽ chuyển triacyl glyceride thành glycerol và acid
rất nhiều nghiên cứu chưa kể đến việc tạo môi trường biệt hoá, cấy ghép là
một điều vô cùng khó khăn.cơ thể chúng ta có cơ chế đào thải những vật
chất di truyền lạ vào cơ thể vì vậy khi cấy ghép tế bào hay cơ quan điều gặp
trở ngại trong việc giữ cho nó hoạt động được trong cơ thể sinh vật được cấy
ghép.
Nhưng nhìn chung việc nghiên cứu tế bào gốc chỉ bước đầu phát triển, thanh
tựu không nhiều nhưng tiêm năng của các nghiên cứu này có hy vọng rất lớn
giúp giải quyết các vấn đề nan giải trong lĩnh vực y học và có thể ở nhiều
lĩnh vực khác trong tương lai.
Tài liệu tham khảo:
Sách: mô học ( GS.TS Nguyễn Thị Lang )
http://www.khoahoc.com.vn/
http://giaoan.violet.vn/
sách “Công nghệ tế bào gốc”-Phan Kim Ngọc
www.nhasinhhoctre.com/
www.sinhhocvietnam.com
stemcells.nih.gov
www.medicalnewstoday.com/
www.sciencedaily.com/
topics.nytimes.com
www. cell .com/ cell - stem - cell /
The and