Thay đổi ở bà Bầu qua gây mê hồi sức
Trong mổ lấy thai, gây mê hồi sức (GMHS) đóng vai trò rất
quan trọng cho thành công của phẫu thuật. Những năm
trước, khi ngành GMHS chưa phát triển, mổ lấy thai là lỗi
“kinh hoàng” cho chị em.
Trong mổ lấy thai, gây mê hồi sức (GMHS) đóng vai trò r
ất
quan trọng (google image)
Để an toàn cho con, người ta gây tê từng lớp, mổ như “mổ
sống”. Sau khi lấy thai ra, mới gây mê cho mẹ để bóc rau,
đóng tử cung và bụng. Vì thế, tai biến cho sản phụ rất
nhiều. Ngày nay, sự tiến bộ vượt bậc của chuyên nghành
GMHS đã giúp thai phụ vượt qua những phút giây nguy
hiểm để có được hạnh phúc vô bờ, đón bé yêu của mình
chào đời một cách thoải mái và an toàn nhất
Yêu cầu đặt ra của GMHS là đảm bảo sức khỏe, sự an toàn
cho người mẹ và tính mạng cũng như sự phát triển lâu dài
cho con; đồng thời, đảm bảo thuận lợi tối đa cho phẫu thuật
viên. Để đạt được những yêu cầu đó, bác sĩ GMHS phải
nắm vững và hiểu biết về những thay đổi sinh lý của sản
phụ có thể xảy ra, nhằm kết hợp với thầy thuốc tốt nhất
trong việc theo dõi và chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và em
bé.
* Hệ tim mạch: Hệ thống tim mạch chịu sự thay đổi rất lớn
nhằm đáp ứng những đòi hỏi tăng lên ở người mẹ và thai
nhi. Khối lượng máu tăng dần trong quá trình mang thai,
tăng nhanh tối đa trong 3 tháng giữa, gây quá tải tuần hoàn
cho chị em bị mắc bệnh lý tim mạch. Vì thế, những sản phụ
uống gì, đề phòng trường hợp khó gây tê, phải gây mê để
mổ lấy thai.
* Đông cầm máu: Xu hướng tăng đông do tăng các yếu tố
đông máu (fibrinogen, yếu tố VII, VIII, X…) và giảm các
yếu tố ức chế đông máu (antithrombin III, protein S, yếu tố
hoạt hóa plasminogen…). Do đó, thai phụ dễ bị tắc mạch,
đặc biệt là chị em béo phì. Vì thế, sau mổ sản phụ nên vận
động sớm để không những phòng tránh bế sản dịch mà còn
phòng tránh nguy cơ tắc mạch.
* Thay đổi ở gan: Các loại men gan như SGOT, SGPT,
LDH… tăng nhẹ trong thời gian có thai. Albumin giảm
mặc dù nồng độ protein toàn phần tăng. Do đó, nếu phải
dùng thuốc thì nồng độ thuốc tự do trong huyết tương cao,
dễ gây quá liều. Cholinesterase huyết tương giảm nhưng
không làm kéo dài thời gian tác dụng của thuốc giãn cơ
succinylcholin và thuốc tê.
* Thay đổi ở thận: Progesteron gây giãn bể thận và niệu
quản. Aldosteron tăng gây tăng khối lượng dịch ở nội mạch
và cung lượng tim dẫn đến tăng lọc ở cầu thận. Nội tiết tố
lactogen rau (human placental lactogen) và cortisol tăng
gây tăng đường huyết dẫn đến mức lọc qua cầu thận tăng.
Vì thế, thai phụ dễ bị tăng đường niệu.
* Hệ thần kinh: Nguyên nhân thay đổi là do hoạt động của
progesteron và endorphin. Ngưỡng chịu đau tăng do tăng
hoạt động của endorphin. Do vậy, nếu phải gây mê thì liều
lượng thuốc mê cũng cần hạn chế, giảm xuống mức tối