CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HỒI SỨC TIM PHỔI
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Hồi sức tim phổi (HSTP) là một phần thiết yếu trong cấp cứu tim
mạch, nhằm hồi phục hô hấp tuần hoàn ở bệnh nhân ngưng tim,ngưng thở. Có ba
yếu tố quyết định thất bại hay thành công trong hồi sức tim phổi (Ts,Bs Đỗ Quốc
Huy). HSTP đầy đủ dụng cụ cần thiết và thành thạo về kỹ thuật. Đội ngũ (HSTP)
được tổ chức tốt (phân công hợp lý từng vị trí cụ thể), được can thiệp kịp thời (mỗi
phút qua đi thì cơ may cứu sống bệnh nhân giảm đi từ 7-10 %).
Mục tiêu: những ca ngưng tuần hoàn được áp dụng được áp dụng HSTP 2005, cập
nhật mới 2006, chúng tôi đánh giá hiệu quả áp dụng HSTP 2005, tiên lượng và tùy
theo nguyên nhân, yếu tố khảo sát để có hướng hồi sức đúng và hợp lý.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được tiến
hành trên 43 ca hồi sức có kết quả về mặt huyết động (tim đập lại) từ tháng 1-
12/2008, được đánh giá dựa vào hai yếu tố tuần hoàn và thần kinh.
Kết quả: Trong nghiên cứu các trường hợp đa số để lại di chứng sau ngưng HH-
TH khá nặng nề, thời gian đưa vào cấp cứu khá muộn TB (30,6 ± 10,9 phút) và đa
số được xử trí sai, hoặc không xử trí gì trước đó. Yếu tố tiên lượng quan trọng
nhất là độ nặng và thời gian thiếu máu não toàn bộ, tuy nhiên thường không xác
định được thời gian ngưng tim ngoại viện. Trong nghiên cứu của chúng tôi tuy hồi
sức thành công nhưng đa số các trường hợp monitor đẳng điện vô tâm thu hay
phân ly điện cơ.
ABSTRACT
Cardiovascular resuscitation (CPR) plays an essential role in cardiovascular
emergency in order to reinstall circulation and respiration in cardiac arrest (CA)
victims. Whether CPR is failed or successed is decided by three factors (according
to Dr,&Ph,Do Quoc Huy). CPR is sufficiently equipped and carried out by a
skillfull team, CRP team is well-organized punctually intervented (the chance to
survive victims decreases 7-10% for every elapsing minute).
Objectives: Cardiac arrests applied 2005 CPR with 2006 update. We assess
efficacy of 2005 CPR application,prognosis and Upon causes & studied factors,we
sống sót trong giai đoạn này tính chung 12,4% và 12,1% cho các bệnh nhân nhịp
nhanh thất-rung thất. Từ tháng 4/ 2005 hệ thống cấp cứu bắt đầu áp dụng hướng dẫn
mới về xoa bóp tim ngoài lồng ngực liên tục với tỉ lệ xoa bóp tim- thổi ngạt 30/2 với
gián đoạn tối thiểu. Sau 12 tháng, tỉ lệ sống sót tăng 4% tính chung và 21,8% cho các
bệnh nhân nhịp nhanh thất-rung thất.
Trong tháng 4/ 2006, việc đưa vào máy kháng trở ngưỡng (impedance threshold
device), một ResQPod, dùng để kiểm soát cho việc thông khí được tốt hơn và ngăn
ngừa không khí dư thừa. Dụng cụ này củng giúp cải thiện hiệu quả của xoa bóp tim
ngoài lồng ngực bằng cách tăng cường lưu lượng máu đến các động mạch vành. Dụng cụ ResQPOD trong cấp cứu tim phổi Sử dụng CPR+Res QPOD tăng gấp đôi lưu lượng máu trở về tim lúc thả bóng và tăng
>70% lưu lượng máu đến não lúc bóp bóng.
Tỷ suất chênh (odds ratios) về sống sót chung tăng gấp 3 lần (95% CI 1,7 đến 5,0) và
tỉ suất chênh về sống sót đối với những bệnh nhân nhịp nhanh thất -rung thất tăng gấp
4,3 lần (95% CI 2,2 đến 8,6) tính từ lúc đầu của nghiên cứu. Trong một phân tích đa
biến số (multivariate analysis), tỉ suất chênh (odds ratios) về sống sótt cho mỗi giai
đoạn của việc áp dụng tòan bộ phác đồ mới như sau: Protocol CCTP mới: 2,13 (95%
CI 1,12 đến 4,04)
- Dùng thêm máy kháng trở ngưỡng (impedance threshold device): 2,33 (95% CI
1,09 đến 5,00)
- Áp dụng thêm biện pháp hạ thân nhiệt sớm: 3,99 (95% CI 2,19 đến 7,27) Những
bệnh nhân được hồi sức tim phổi (CPR) bởi những người chung quanh có tỉ lệ
sống sót tăng gần gấp 1,79 lần (95% CI 1,18 đến 2,72)
(Hướng dẫn của Hiệp hội Tim Mạch Mỹ về điều trị cấp cứu ngưng tim gia tăng tỉ lệ
sống sót).
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Total 43 100,0%
Nhận xét: Nam giới chiếm tỷ lệ cao 65,1%.
Tuổi (?)
Nhận xét: Đa số bệnh nhân trong nghiên cứu trên 60 tuổi (48,8%). Tuổi thấp nhất là
21 tuổi, tuổi cao nhất là 87 tuổi, tuổi trung bình (58,12 ±19).
Thời gian thân nhân phát hiện các triệu chứng nặng theo bảng thu thập đến lúc vào
viện
Th
ời gian
đưa đ
ến
viện
N
Tỷ lệ T
ỷ lệ
cộng
dồn
≤ 30 phút
27
62,8%
62,8%
31-60
phút
13
30,2%
X
ử trí không
thích hợp
4 9,3% 18,6%
Không xử trí gì 35 81,4% 100,0%
Tổng 43 100,0% 100,0%
Nhận xét: Đa số (62,8%) số trường hợp được đưa đến trước 30 phút, chỉ có 3 trường
hợp (7%) được đưa đến sau 1 giờ. Thời gian trung bình là (30,6 ± 10,9 phút). Các
triệu chứng được chúng tôi đưa vào nghiên cứu theo bảng thu thập thông tin như
(phát hiện không còn mạch đập, không thở,thở ngáp, tứ chi tím lạnh,…),và không xác
định được thời gian ngưng tim trước nhập viện.
Bảng 4: Xử trí tức thời của người xung quanh
Frequency
n
Tỷ lệ T
ỷ lệ
cộng
dồn
21-40
11
25,6%
25,6%
41-60
11
25,6%
51,2%
Ca 8 15 phút 4 lần
Bảng 6: Sử dụng Adrenalin
S
ố ống
Adrenalin
n
Tỷ lệ T
ỷ lệ
cộng
dồn
1 2
4,7% 4,7%
2 3
7,0% 11,6%3 3
7,0% 18,6%4 9
20,9% 39,5%
10 4
9,3% 93,0%13 1
2,3% 95,3%16 1
2,3% 97,7%26 1
2,3% 100,0%Tổng 43100,0%
100,0%
Nhận xét: Tất cả các trường hợp điều sử dụng Adrenaline trong hồi sức.
Đa số các ca số lượng adrenalin 0,1% dưới 10 ống, trong đó dưới 5 ống chiếm hơn ½,
cá biệt có ca sử dụng đến 26 ống.
Sử dụng Atropin
Bảng 7:
đồng tử
n
Tỷ lệ T
ỷ lệ cộng
dồn
3 mm 6 14,0%
14,0%
4 mm 26
60,5%
74,4%
5 mm 8 18,6%
93,0%
6 mm 3 7,0% 100,0%
Tổng 43
100,0%
100,0%
Nhận xét: trong những trường hợp hồi sức có kết quả về mặt huyết động thì kích
thước đồng tử của bệnh nhân nhập cấp cứu đa số ≤4mm (74,4%). Không có trường
hợp nào kích thước đồng tử giãn quá 6mm.
25,6%
12
1 2,3% 27,9%
15
12 27,9%
55,8%
20
8 18,6%
74,4%
22
1 2,3% 76,7%
25
4 9,3% 86,0%
27
1 2,3% 88,4%
30
1 2,3% 90,7%
35
2 4,7% 95,3%
37
1 2,3% 97,7%
90
1 2,3% 100,0%
Total
43 100,0%
100,0%
Nhận xét: 3/4 trường hợp trong nghiên cứu chúng tôi hồi sức trong vòng 20 phút,
Total 43 100,0%
100,0%
Bảng 12: Phương tiện đưa đến
Phương ti
ện
đưa đến
n Tỷ lệ T
ỷ lệ cộng
dồn
Xe cấp cứu
4 9,3% 9,3%
Taxi
37 86,0% 95,3%
Xe máy
2 4,7% 100,0%
Tổng
43 100,0%
100,0%
Nhận xét: Đa số bệnh nhân được đưa đến bệnh viện bằng xe taxi (86,0%), chỉ có 4
trường hợp (9,3%) là được đưa đến bằng xe cấp cứu, được xử trí tại nhà cấp cứu
ngoại viện, nhưng thời gian xử trí cấp cứu tại nhà cũng trên 10 phút.
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số bệnh nhân trên 60 tuổi (48,8%). Tuổi thấp nhất
là 21 tuổi, tuổi cao nhất là 87 tuổi, tuổi trung bình (58,12 ±19). Trong nghiên cứu của
các tác giả (Bui Manh Ha, Trinh Thanh Mai, Nguyen Van Chung, Pham Thieu Trung
* Y Hoc TP, Ho Chi Minh * Vol, 10 – Supplement of No 1 - 2006: 45 – 50), tổng số
BN: 391, tim đập lại 196 - Nam: 152, nữ: 44 tuổi, tuổi TB (40,28 ± 28,5) (12 - 74).
Nhận xét: không có sự khác biệt lớn về đối tượng nghiên cứu – phân bố rải đều theo
không đúng lúc nhập viện. Khi ngưng tim đã xảy ra, những gì có thể lảm được là cố
gắng hạn chế tối đa mức độ và thời gian thiếu máu não toàn bộ, muốn vậy phải tổ
chức hệ thống cấp cứu ngoại viện rộng khắp hơn sao cho có thể tiếp nhận và cấp cứu
nhanh nhất cho bệnh nhân ngưng tim với đầy đủ trang thiết bị cần thiết, đặc biệt là
máy sốc điện khử rung, vì rung thất là tình huống thường gặp nhất và là tình huống
nhiều khả năng hồi sức thành công nhất, người dân được hướng dẫn xử trí ban đầu tốt
hơn thì khả năng thành công trong hồi sức sẽ cao hơn.
Trong nghiên cứu của chúng tôi tùy theo monitor biểu hiện trong quá trình hồi sức
thường sử dụng kết hợp Adrenaline + Atropin ± (Dopamine + NaHCO
3
) + sốc điện
chuyển nhịp, số liệu dữ kiện ít, chưa thống kê được ưu thế sử dụng của từng nhóm
riêng biệt, đa số các ca sử dụng Adrenalinr 0,1% dưới 10 ống, trong đó dưới 5 ống
chiếm 50%, cá biệt có ca sử dụng đến 26 ống. Do số liệu dữ liệu ít, trong nghiên cứu
của chúng tôi chưa có thấy mối tương quan nào về tỷ lệ thành công và số ống
Adrenaline, cũng như tương quan về thời gian (so với các nghiên cứu của các tác giả
Nguyễn Đạt Nguyên, Bùi Mạnh Hà, thì có sự tương quan đáng kể).
Trong bước đầu tiếp nhận cần đo chính xác nhiệt độ (do đa số thường không lưu ý
dến yếu tố nhiệt độ) để đánh giá đúng thân nhiệt trước và sau hồi sức NTH, ngoài ra
đề nghị phải kiểm soát đường huyết thường quy và tránh tăng thông khí.
KIẾN NGHỊ
Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện hoàn chỉnh, rộng khắp với đội ngũ có chuyên
môn và phương tiện đầy đủ >>> can thiệp kịp thời.