Nghiên cứu xác định giá trị giống để nâng cao tính trạng số con sơ sinh sống/ổ đối với nhóm lợn Móng Cái tổng hợp bằng chương trình PIGBLUP - Pdf 20

§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
Lời cảm ơn
Nhân dịp hoàn thành đồ án tốt nghiệp, cho phép tôi được bày tỏ lòng
biết ơn chân thành đến Tiến sĩ Giang Hồng Tuyến - giảng viên khoa Kỹ thuật
Nông nghiệp, trường ĐHDLHP - người hướng dẫn nhiệt tình, có trách nhiệm
trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành đồ án.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo
ngành Kỹ thuật Nông nghiệp, trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng cùng các
thầy cô đã tham gia giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập tại trường.
Cuối cùng cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo, các cán bộ
công nhân viên tại Trung tâm giống Tràng Duệ - Công ty cổ phần đầu tư và
phát triển Nông nghiệp Hải Phòng - nơi tôi thực tập và làm đồ án tốt nghiệp.
Những người đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự quan
tâm, giúp đỡ, động viên đó.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hải phòng, ngày tháng năm 2009
Sinh viên
Vũ Thị Hường
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
MỤC LỤC
Nội dung Trang
TÀI LIỆU THAM KHẢO
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển chung của nhiều ngành kinh tế trong thời kì đổi
mới đất nước, ngành Nông nghiệp có những bước phát triển mạnh cả về trồng
trọt và chăn nuôi. Chăn nuôi chiếm phần quan trọng trong nền sản xuất Nông
nghiệp, nhu cầu về các sản phẩm chăn nuôi của thị trường trong và ngoài

được khai thác nhiều đã gây nên hiện tượng lãng quên đi các giống địa
phương mặc dù chúng có một số đặc tính tốt. Trước thực tế này, đòi hỏi cần
phải có một chính sách và sự quan tâm nhất định của Nhà nước đến việc lưu
giữ các giống nội đó nhằm khai thác triệt để những đặc tính tốt góp phần nâng
cao sản lượng thịt cho đất nước.
Lợn nội, phổ biến nhất nước ta là giống Móng Cái, bên cạnh những đặc
điểm tốt: dễ nuôi, có khả năng sinh sản cao, sức chịu đựng tốt với điều kiện
ngoại cảnh và tính thích nghi rộng, song do khả năng tăng khối lượng và tỉ lệ
nạc thấp nên giống Móng Cái không được người chăn nuôi ưa chuộng trong
lĩnh vực khai thác thịt.
Trước thực tế đó đòi hỏi các nhà khoa học tạo chọn giống lợn phải
chọn lọc nâng cao khả năng sinh sản, đặc biệt số con sơ sinh sống/ổ cao. Vì
đó là cơ sở vật chất di truyền đóng góp quan trọng cho sự phát triển ngành
chăn nuôi lợn, để giống lợn Móng Cái có thể phát triển nhanh, đáp ứng nhu
cầu sản xuất, đặc biệt cho các hộ chăn nuôi ở những nơi chưa có điều kiện tốt,
nhóm lợn này cần được nghiên cứu nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng đàn giống.
Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu xác định giá trị giống để
nâng cao tính trạng số con sơ sinh sống/ổ đối với nhóm lợn Móng Cái tổng
hợp bằng chương trình PIGBLUP”.
4
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định được các tham số thống kê của các tính trạng cơ bản về sinh
sản của lợn Móng Cái tổng hợp.
- Xác định được giá trị giống về tính trạng số con sơ sinh sống/ổ của
lợn Móng Cái tổng hợp.
- Xác định được mối tương quan di truyền giữa các lứa đẻ của lợn
Móng Cái tổng hợp
- Ước tính hiệu quả chọn lọc ở các thế hệ sau. Từ đó giúp cho quá trình
chọn lọc tính trạng số con sơ sinh sống/ổ nhanh và chính xác.

Lợn Móng Cái có ngoại hình đặc trưng: lông da có màu đen vá trắng.
Lưng và mông có dải đen hình yên ngựa (đây là đặc điểm ngoại hình nổi bật
nhất), da mỏng mịn, lông thưa và thô. Đầu to, đen, có đốm trắng ở giữa trán
hình tam giác hoặc hình thoi. Tai đen, nhỏ và nhọn. Miệng nhỏ dài, trắng, có
nếp nhăn to và ngắn ở miệng.
Giữa vai và cổ có một vành trắng cắt ngang kéo dài đến bụng và bốn
chân. Cổ to, ngắn. Ngực nở và sâu. Lưng dài hơi võng, bụng xệ nhưng tương
đối gọn so với lợn Ỉ, mông rộng và xuôi.
Bốn chân trắng, tương đối cao, thẳng, móng xoè.
Nhìn chung, lợn Móng Cái có khả năng sinh sản tốt hơn lợn Ỉ (đẻ 10 - 16
con/lứa), có từ 12 - 16 vú, tuổi phối lần đầu tiên có hiệu quả nhất từ 6 - 8 tháng,
số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ cao, trung bình từ 9 đến 11 con.
Khối lượng sơ sinh thấp: 0,5 - 0,6 kg và khối lượng cai sữa lúc 45 - 50 ngày:
5 - 6 kg/con. Số lứa đẻ khá cao, trung bình từ 1,9 - 2,1 lứa/năm. Lợn Móng
Cái có khả năng sinh sản kéo dài, cho 10 - 15 lứa/nái. Khả năng tăng khối
lượng 327g/ngày, lợn thịt có tốc độ tăng trọng 390 - 420g/ngày. Khả năng tiêu
tốn thức ăn 5,0 - 5,5 kg thức ăn/kg tăng trọng, tỉ lệ thịt nạc thấp 35 - 39%, độ
dày mỡ lưng cao.
Hiện nay, lợn Móng Cái chủ yếu được sử dụng làm nái nền lai với lợn
đực ngoại sản xuất lợn lai F1 nuôi thịt hoặc dùng làm nái trong các công thức
lai phức tạp.
2.2. MỘT SỐ TÍNH TRẠNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
Sinh sản là một trong những thuộc tính trọng yếu của sinh vật trong đó
có gia súc, đó là đặc trưng quan trọng bậc nhất để duy trì nòi giống và đảm
bảo cho sự tiến hoá của con vật. Ở gia súc nói chung và lợn nói riêng thì sinh
sản là một chức năng quan trọng mang ý nghĩa tái sản xuất phục vụ đời sống
con người. Chính vì vậy sinh sản là một trong những tính trạng được người
7
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
chăn nuôi hết sức chú ý, với mục đích làm sao trong thời gian ngắn nhất gia

Tuổi đẻ lứa đầu là số ngày tính từ khi lợn cái đó được sinh ra cho đến
ngày lợn cái đẻ lứa đầu tiên. Đơn vị tính là ngày. Đây cũng chính là tuổi phối
giống có kết quả cộng với thời gian mang thai.
Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi phối giống lần
đầu, kết quả phối giống, thời gian mang thai và từng giống lợn khác nhau. Đối
với lợn nái nội tuổi đẻ lứa đầu thướng sớm hơn so với lợn ngoại do tuổi thành
thục về tính dục ngắn hơn.
2.2.3. Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là khoảng thời gian hình thành một chu kì
sinh sản. Bao gồm: thời gian chửa, thời gian nuôi con, thời gian chờ động dục
lại sau cai sữa và phối giống. Nói cách khác, khoảng cách lứa đẻ là số ngày
tính từ ngày đẻ lứa này đến ngày đẻ lứa tiếp theo. Đơn vị tính là ngày.
Nếu thời gian nuôi con và thời gian chờ động dục lại sau cai sữa ngắn
thì rút ngắn khoảng cách giữa các lứa đẻ, từ đó tăng số lứa đẻ/nái/năm. Như
vậy hiệu quả sử dụng lợn nái càng cao.
2.2.4. Số con sơ sinh sống/ổ
Đây là chỉ tiêu kinh tế, kĩ thuật rất quan trọng, nó nói lên khả năng đẻ
nhiều hay ít con của giống, nói lên kĩ thuật chăm sóc lợn nái có chửa và kĩ
thuật thụ tinh của dẫn tinh viên. Trong công tác giống lợn, tính trạng số lượng
được quan tâm nhất là số con sơ sinh sống/ổ đối với loại tính trạng sinh sản.
Vì vậy tính trạng này được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu
nhiều nhất vì đó là thành phần chính của hiệu quả kinh tế trong ngành chăn
nuôi lợn. Vì là tính trạng số lượng nên do nhiều kiểu gen điều khiển, mỗi gen
đóng góp một mức độ nhất định vào cấu thành năng suất. Giá trị kiểu hình
9
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
của tính trạng này có sự phân bố liên tục và chịu tác động nhiều bởi yếu tố
ngoại cảnh (Falconer,1993).
Lợn là loài động vật đa thai, nên tính trạng số con sơ sinh sống/ổ được
dùng làm chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái.

chung, có một số đặc điểm chung về hình thái và ngoại hình, sinh lí và năng
suất sinh vật học, khả năng chống chịu bệnh, đồng thời có thể truyền đạt các
đặc điểm đó cho đời sau (Nguyễn Văn Thiện, 1995). Tất cả các chức năng
trong cơ thể động vật đều chịu sự điều khiển của yếu tố di truyền để đạt đến
mức lớn hơn hay bé đi. Đồng thời các tính trạng sinh sản đều chịu ảnh hưởng
trực tiếp của yếu tố di truyền. Với giống khác nhau thì yếu tố di truyền cũng
ảnh hưởng đến các tính trạng sinh sản là khác nhau.
Để phân tích đặc tính di truyền của quần thể phải phân chia giá trị kiểu
hình thành các phần khác nhau tuỳ theo tính chất của chúng. Giá trị đo lường
được của tính trạng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình của cá thể đó.
Sự phân chia đầu tiên của giá trị kiểu hình là sự phân chia nó thành các
thành phần có thể bị ảnh hưởng của kiểu gen và môi trường. Quan hệ trên biểu
thị như sau:
P = G + E
Trong đó: P là giá trị kiểu hình, G là giá trị kiểu gen và E là sai lệch môi trường.
Giá trị G có thể phân thành giá trị cộng gộp của các gen (A), giá trị trội
của các gen (D) và giá trị át gen (I). Giá trị E gồm hai thành phần là sai lệch
môi trường chung (Eg) và sai lệch môi trường đặc biệt hay sai lệch môi
trường riêng (Es).
Tóm lại, khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai lôcut trở
lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị bằng:
P = A + D + I + Eg + Es
11
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
2.3.2. Yếu tố ngoại cảnh
Ngoài yếu tố di truyền, yếu tố ngoại cảnh cũng gây ảnh hưởng lớn đến
các tính trạng sinh sản.
Ảnh hưởng của năm đẻ: năm đẻ ảnh hưởng rõ rệt đến các tính trạng
năng suất sinh sản. Năm đẻ ảnh hưởng rõ rệt nhất đến các tính trạng như số con sơ
sinh sống/ổ, khối lượng sơ sinh/con, số con cai sữa/ổ, khối lượng cai sữa/ổ.

và prôtêin trong khẩu phần ăn của lợn nái sẽ làm cho lợn nái chóng béo, ảnh
hưởng xấu đến năng suất sinh sản.
Ảnh hưởng của nhân tố chuồng trại và ngoại cảnh xã hội: phương thức
chăn nuôi không phù hợp, điều kiện chăn nuôi không đảm bảo, chuồng trại
không sạch sẽ, quy mô đàn quá lớn, trình độ chuyên môn không được nâng
cao, phương thức chăn nuôi yếu kém,… tất cả đều ảnh hưởng đến năng suất
sinh sản của lợn nái.
Ảnh hưởng của yếu tố bệnh tật: bệnh sẽ làm giảm khả năng sinh sản của
lợn nái: mất khả năng thụ thai, số con sơ sinh sống/ổ ít, số con sơ sinh chết
tăng... Ở vùng có độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh
phát triển. Nếu hệ thống chuồng trại không đảm bảo, công tác phòng bệnh và
kiểm tra chưa tốt thì bệnh dịch sẽ lây lan và làm mất khả năng sinh sản của
lợn nái. Và điều này ảnh hưởng rõ rệt nhất với quy mô lớn - trong chăn nuôi
công nghiệp.
2.4. GIÁ TRỊ GIỐNG
Giá trị giống của một cá thể là một đại lượng biểu thị khả năng truyền
đạt các gen từ bố mẹ cho đời con. Vì các gen quy định tính trạng số lượng rất
nhiều, do đó người ta không thể biết được một cách thật chính xác giá trị
giống của một cá thể nào đó. Trong thực tế, người ta chỉ có thể xác định được
giá trị gần đúng của chúng từ các nguồn thông tin khác nhau và được gọi là
giá trị giống ước lượng hay giá trị giống dự đoán.
13
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
Giá trị giống được Galconer D.S định nghĩa như sau: “Giá trị giống của
một con vật chính là năng suất trung bình của các con cái của nó. Nếu một
con vật được phối ngẫu nhiên với nhiều con khác trong quần thể thì giá trị
giống của nó được tính bằng hai lần mức chênh lệch của nhóm con của nó so
với giá trị trung bình của quần thể. Sở dĩ phải nhân lên gấp đôi vì nó chỉ đóng
góp một nửa số gen cho thế hệ con cái. Giá trị giống có thể được thể hiện
bằng giá trị tuyệt đối, nhưng thông thường được thể hiện bằng mức độ chênh

BLUP có những ưu điểm sau:
- Sử dụng được tất cả các nguồn thông tin về giá trị kiểu hình của các
con vật họ hàng
- Loại trừ được các nhân tố ảnh hưởng của các nhân tố cố định như:
năm, mùa vụ, đực phối, lứa đẻ, giống, cơ sở, tính biệt...
- Đánh giá được khuynh hướng di truyền của đàn gia súc do xử lí các
nguồn thông tin thu được trong một khoảng thời gian nhất định.
- Sử dụng các nguồn thông tin dưới dạng số liệu giữa các nhóm không
cân bằng.
- Đánh giá được phẩm chất của giống và từng con giống.
Do vậy, giá trị giống thu được có độ chính xác cao và nhờ đó BLUP
giúp tính giá trị giống của các cá thể không có số liệu trên bản thân con vật.
BLUP có thể xác định được giá trị giống cho cả 2 giới tính đực và cái.
BLUP có thể giải quyết tốt nhất trong các trường hợp giao phối có chọn lọc
và có xem xét đến ảnh hưởng của cận huyết.
2.4.3. Độ chính xác của ước tính giá trị giống
Có nhiều phương thức và nhiều nguồn thông tin khác nhau dùng để ước
tính giá trị giống của vật nuôi. Để có thể đánh giá độ chính xác của các ước
tính này, người ta sử dụng khái niệm độ chính xác của các ước tính giá trị
giống. Về bản chất, độ chính xác của một phương thức đánh giá giá trị giống
15
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
hay của một nguồn thông tin dùng để đánh giá giá trị giống là hệ số tương
quan giữa phương thức đánh giá hoặc nguồn thông tin với giá trị giống của
con vật.
Độ chính xác của ước tính giá trị giống có giá trị từ 0 đến 1. Giá trị của
độ chính xác càng lớn chứng tỏ phương thức ước tính hoặc nguồn thông tin sử
dụng để ước tính giá trị giống càng chính xác.
2.4.4. Chỉ số chọn lọc
Để đáp ứng yêu cầu chọn lọc vật nuôi có giá trị giống cao không chỉ đối

Trong đó: I
α
: giá trị chỉ số của vật α.
X
i
: giá trị kiểu hình của các tính trạng mà ta quan sát được trên
bản thân vật α hoặc trên con vật họ hàng của vật α.
b
i
: hệ số tương ứng với từng tính trạng hoặc từng con vật họ hàng.
Một trong những hệ thống phân tích cơ bản nhất của chương trình đánh
giá giá trị giống các vật nuôi được so sánh một cách trực tiếp với nhau là
chúng đều phải có cơ hội như nhau để hình thành, sinh ra cùng một thời gian.
Có nghĩa là chung một điều kiện quản lí nuôi dưỡng như nhau gọi là nhóm
tương đồng. Vậy nhóm tương đồng là tập hợp những cá thể được nuôi trong
điều kiện chịu sự tác động giống nhau về thời tiết, khí hậu và chăm sóc nuôi
dưỡng.
( ) ( ) ( )
nnn
XXbXXbXXbI
−++−+−=
...
222111
α

( )

=
−=
n

Trên cơ sở nguyên tắc của phương pháp BLUP, các ứng dụng ngày
càng được áp dụng rộng rãi trong sản xuất. Điều đáng lưu ý là các ứng dụng
này thường được dùng để đánh giá chọn lọc đối với một quần thể lớn, sử dụng
một tập hợp lớn các số liệu theo dõi của nhiều cá thể có quan hệ họ hàng với
nhau. Sau đây là một số ứng dụng:
- Mô hình đánh giá con đực: mô hình này sử dụng các số liệu đời con để
ước tính giá trị giống của con đực.
- Mô hình gia súc: dùng để ước tính giá trị giống của bản thân con vật và
ước tính ảnh hưởng của các nhân tố cố định.
- Mô hình lặp lại: dùng để ước tính giá trị giống khi phép đo của cùng
một tính trạng của con vật được lặp lại một số lần. Ví dụ: các tính trạng trong
một lứa đẻ của lợn. Mô hình này còn được gọi là mô hình với các ảnh hưởng
ngoại cảnh ngẫu nhiên.
- Mô hình nhiều tính trạng: dùng để ước tính giá trị giống với hai hoặc
nhiều tính trạng dựa trên mối quan hệ kiểu hình và quan hệ di truyền giữa các
tính trạng này.
Để xác định giá trị giống bằng BLUP, 2 loại mô hình thống kê và tính
toán cần được xây dựng:
Mô hình thống kê
Mô hình thống kê trong tính giá trị giống của vật nuôi được Henderson
nghiên cứu ứng dụng từ năm 1975, phương pháp của ông đang được ứng
dụng rộng rãi trong chọn giống vật nuôi từ những năm 1980 đến nay. Phương
pháp này cho phép tính toán đồng thời ảnh hưởng của các yếu tố cố định do
môi trường và ảnh hưởng ngẫu nhiên do di truyền của cá thể con vật, trên cơ
18
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
sở xem xét mối quan hệ huyết thống của các cá thể trong hệ phả. Mô hình
tuyến tính cơ bản trong tính giá trị giống có dạng sau:
y = Xb + Za + e
Trong đó: y: là vectơ giá trị kiểu hình đo được trên cá thể.

Các mô hình phân tích thống kê khác nhau cho kết quả khác nhau về giá
trị giống cả về độ lớn cũng như trong phân loại con vật.
Một trong những hệ thống phân tích cơ bản nhất của chương trình đánh
giá giá trị giống các vật nuôi được so sánh một cách trực tiếp với nhau là
chúng đều phải có cơ hội như nhau để hình thành, sinh ra cùng một thời gian,
có nghĩa là có chung một điều kiện quản lý nuôi dưỡng như nhau gọi là nhóm
tương đồng.
Các yếu tố môi trường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng có thể thay
đổi theo thời gian. Như thay đổi về thời tiết nóng lạnh hay thay đổi về loại
thức ăn giữa các thời điểm trong năm. Nhưng có thể giả định sự thay đổi này
là không đáng kể trong một khoảng thời gian ngắn. Vì vậy ta có thể định
nghĩa các cá thể sinh ta trong cùng một thời điểm nhất định đều chịu tác động
của yếu tố môi trường tương đối đồng nhất và tập hợp các cá thể này gọi là
nhóm tương đồng. Số cá thể trong cùng nhóm tương đồng có ý nghĩa về độ
chính xác trong hiệu chỉnh giá trị giống.
Với trại giống lớn, số cá thể sinh ra trên cùng một thời điểm lớn hay
nhóm tương đồng lớn. Nhưng ở nước ta quy mô thường nhỏ nên nhóm tương
đồng nhỏ. Để làm tăng số lượng cá thể ở nhóm tương đồng là tăng khoảng
thời gian như cá thể sinh cùng quý hay mùa. Dù vậy phương pháp này sẽ tạo
sự không đồng nhất về môi trường.
Phương pháp BLUP cho phép sử dụng các thông tin có từ tất cả các
thân thuộc của một con vật. Do đó, BLUP có thể dự đoán tương đối chính xác
giá trị giống của con vật đó. Bằng phương pháp BLUP, có thể so sánh giá trị
giống giữa các con vật mà các thông tin thu thập được từ các đàn có chế độ
nuôi dưỡng khác nhau, qua các thời gian khác nhau trong các điều kiện ngoại
cảnh khác nhau.
Phương pháp BLUP có thể biết được hiệu ứng di truyền và không di
truyền đối với các tính trạng số lượng, đồng thời nó giúp các nhà tạo chọn
20
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901

đồng thời hai hoặc nhiều tính trạng gây ra. Có thể là do trường hợp một gen
quy định hai hay nhiều tính trạng hoặc có thể là 2 hệ thống gen liên kết điều
khiển cả hai tính trạng. Ví dụ, các gen làm tăng tốc độ lớn sẽ làm tăng cả thể
vóc và khối lượng của nó, do đó chúng sẽ gây ra mối tương quan giữa hai loại
tính trạng. Còn các gen làm tăng tốc độ béo thì làm tăng khối lượng nhưng
không có ảnh hưởng đến thể vóc, vì vậy chúng không có tương quan với
nhau. Một số gen có thể làm tăng hoặc giảm đồng thời cả hai tính trạng
(tương quan thuận), một số gen có thể làm tăng tính trạng này nhưng lại làm
giảm tính trạng khác (tương quan nghịch).
Mối liên hệ giữa hai tính trạng có thể trực tiếp quan sát được là giá trị
tương quan kiểu hình. Hệ số tương quan kiểu hình được xác định từ việc đo
lường hai tính trạng trên một số cá thể của quần thể. Tuy nhiên, chúng ta biết
không chỉ giá trị kiểu hình của các cá thể được đo lường, mà còn biết giá trị
kiểu gen và sai lệch môi trường của chúng đối với cả hai tính trạng. Hơn nữa
nếu chúng ta biết giá trị giống của các cá thể thì chúng ta cũng có thể xác định
được tương quan của giá trị giống.
Hệ số tương quan được tính theo công thức:
( )( )
( ) ( )
∑ ∑

1 1
22
1
--
- -
n
i
n
i

Y
: độ lệch chuẩn giá trị di truyền cộng gộp của Y.
Hệ số tương quan di truyền có giá trị từ -1 đến 1.
Nếu r
A
> 0 tương quan giữa 2 tính trạng đó là tương quan thuận.
Nếu r
A
< 0 tương quan giữa 2 tính trạng đó là tương quan nghịch.
0≤r
A
≤ 0,33: hai tính trạng có mối tương quan không chặt chẽ
22
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
0,33< r
A
≤ 0,67: hai tính trạng có mối tương quan chặt chẽ.
0,67< r
A
≤ 1: hai tính trạng có mối tương quan rất chặt chẽ.
Ví dụ: Hệ số tương quan giữa dày mỡ lưng và tỉ lệ nạc là: - 0,90 đến - 0,95.
Diện tích cơ thăn và tỉ lệ nạc là: 0,86 đến 0,92.
Khi xem xét mối quan hệ giữa 2 tính trạng X và Y, ta có thể đánh giá
mức độ tương quan qua 3 hệ số tương quan:
- Tương quan kiểu hình giữa X và Y, kí hiệu r
P
- Tương quan di truyền giữa X và Y (tương quan di truyền cộng hoặc
tương quan giữa 2 giá trị giống), kí hiệu r
A
- Tương quan ngoại cảnh giữa X và Y (bao gồm sai lệch ngoại cảnh

Năm đẻ ảnh hưởng rất rõ rệt đến tính trạng số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng
sơ sinh/con, số con cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa/ con với mức P < 0,01 - 0,001
(Nguyễn Văn Đức, 1997)
Johansson và Kennedy (1985) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các
yếu tố cố định đàn và năm đẻ thấy rằng sự sai khác có ý nghĩa đối với tính
trạng tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của 2 giống lợn Yorkshire
và Landrace (sai khác này dao động trong phạm vi 17,4 - 19,9 % đối với tính
trạng tuổi đẻ lứa đầu và 11,5 - 13,9% đối với tính trạng khoảng cách giữa 2
lứa đẻ, tương ứng cho hai giống nói trên)
Nhiều nghiên cứu liên quan đến yếu tố lứa đẻ cũng đưa ra kết luận
chung là số con/ổ tăng từ lứa đẻ thứ nhất đến lứa đẻ thứ 4 và 5 sau đó giảm chậm
dần đến lứa đẻ thứ 10 (Nguyễn Văn Đức, 1997, Tạ Thị Bích Duyên, 2003).
Lợn nái đẻ lứa thứ nhất có số con/ổ ít hơn nái đẻ từ lứa thứ 2 trở đi
Phùng Thị Vân và cộng sự, 1999) điều này có thể do tỉ lệ rụng trứng tăng lên
từ lứa thứ 2 (Đặng Vũ Bình, 1993). Dan và Summer(1995) cho rằng, khi tuổi
thụ thai lần đầu tăng, số con/ổ ở lứa đầu cũng tăng.
Trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đã cho biết yếu tố
đực phối có nhiều ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái (Nguyễn Văn
Đức, 1997, Nguyễn Văn Đức và Trần Thị Minh Hoàng, 2002, Nguyễn Văn
Đức và cộng sự, 2002, Nguyễn Văn Nhiệm và cộng sự, 2002).
Ngoài các yếu tố trên, năng suất sinh sản của lợn còn chịu nhiều ảnh
hưởng của các yếu tố ngoại cảnh như: dinh dưỡng, chuồng trại, bệnh tật,
chăm sóc…
24
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
2.7.2. Tính trạng số con sơ sinh sống/ổ
Tính trạng số con sơ sinh sống/ổ là tính trạng năng suất sinh sản rất
quan trọng góp phần vào việc quyết định số con cai sữa và số con cai
sữa/nái/năm.
Trong các nghiên cứu về khả năng sinh sản của giống lợn Móng Cái,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status