CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA CÁC BỆNH KHÔNG LÂY - Pdf 20

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA CÁC BỆNH KHÔNG LÂY
(TĂNG HUYẾT ÁP, ÐÁI THÁO ÐƯỜNG TÝP 2) Ở NGƯỜI LỚN TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Bệnh mạn tính không lây đang tăng nhanh gồm các bệnh tim
mạch, đái tháo đường, ung thư, loãng xương và các bệnh liên quan sức khỏe tâm thần.
Các yếu tố liên quan của các bệnh không lây là lối sống, thói quen ăn uống, vận động.
Nghiên cứu này dùng thiết kế nghiên cứu phân tích (bệnh chứng) để xác định các yếu
tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường tại tỉnh Bình Dương, đại diện
khu vực Đông Nam Bộ.
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát mối liên quan của các yếu tố nguy cơ trên các
bệnh mạn tính không lây (tăng huyết áp, đái tháo đường týp 2) ở người lớn (≥ 30 tuổi)
tại tỉnh Bình Dương năm 2006-2007.
Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu bệnh chứng bắt cặp theo tuổi và
giới cho 704 trường hợp được chọn tại 3 bệnh viện điều trị tại tỉnh Bình Dương. Có
176 trường hợp tăng huyết áp và 176 ca chứng, 176 trường hợp đái tháo đường týp 2
và 176 ca chứng.
Kết quả: Trong nhóm bệnh và chứng của bệnh THA các yếu tố có uống rượu
bia trong 12 tháng qua và tần suất uống rượu bia thường xuyên, tỷ lệ béo phì và béo
bụng, ăn mặn (được người khác cho là ăn mặn) là các yếu tố nguy cơ làm tăng nguy
cơ mắc bệnh. Trong nhóm bệnh và chứng của bệnh ĐTĐ, các yếu tố uống rượu bia
hàng ngày, béo phì là các yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy độ mạnh mối liên quan giữa các hành vi uống
rượu bia, ăn mặn với nguy cơ bệnh tăng huyết áp, mối liên quan giữa hành vi uống
rượu bia với nguy cơ bệnh đái tháo đường týp 2, mối liên quan chỉ số nhân trắc BMI
với hai bệnh trên.
ABSTRACT
RISK FACTORS OF NON-COMMUNICABLE DISEASES
(HYPERTENSION, TYPE-2 DIABETES)
IN ADULT ( 30 YEARS OLD) IN BINH DUONG PROVINCE, IN 2006-

Bệnh mạn tính không lây đang tăng nhanh trên toàn thế giới bao gồm các bệnh
tim mạch, đái tháo đường, ung thư, loãng xương và các bệnh liên quan sức khỏe tâm
thần. Các bệnh mạn tính đang đã được tính toán là đóng góp vào khoảng 60% của
56,5 triệu ca tử vong được báo cáo trên khắp thế giới và khoảng 46% gánh nặng toàn
cầu năm 2001
(19)
. Tỷ lệ gánh nặng của các bệnh mạn tính được ước tính sẽ tăng lên
tới 67% vào năm 2020. Gần một nửa tổng số ca tử vong do các bệnh mạn tính là do
các bệnh tim mạch. Đái tháo đường cũng cho thấy một xu hướng đáng lo ngại, không
chỉ bởi các bệnh này ảnh hưởng một bộ phân lớn dân cư, mà còn vì chúng đã được
bắt đầu xuất hiện sớm hơn trong cuộc đời
(1,(12)
.
Tổ chức Y tế Thế giới cũng phát hiện các yếu tố liên quan của các bệnh không
truyền nhiễm (bệnh tim, đột quị, tiểu đường, ung thư và bệnh hô hấp) đã được ghi
nhận như lối sống, thói quen ăn uống, vận động ở các nước phát triển cũng như các
nước đang phát triển trên thế giới
(17,18)
.
Trên thế giới hiện nay, bệnh đái tháo đường týp 2 phát triển rất nhanh. Bệnh
có xu hướng tăng rõ rệt theo thời gian và sự tăng trưởng kinh tế, ở các nước công
nghiệp phát triển, đái tháo đường týp 2 chiếm tới 70-90% tổng số bệnh nhân bị đái
tháo đường. Tại châu Á, tuỳ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế mà tỷ lệ mắc bệnh
khác nhau: Hàn quốc 2%, Malaysia 3%, Thái lan 3,5%, Philippinnes 4,2% ở người
trên 30 tuổi. Tại Singapore năm 1975 tỷ lệ mắc bệnh là 1,9% đến năm 1984 là 4,7%,
năm 1992 là 8,6% và đến năm 1998 tỷ lệ này lên tới 9%. Nguy cơ của các bệnh này
cũng là do lối sống, thói quen ăn uống và vận động
(3,15,16)
.
Sự bùng nổ của các bệnh mãn tính không lây đang xảy ra ở các nước Nam Á

áp, Đái tháo đường týp 2?
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát vai trò cuả các yếu tố nguy cơ trên các bệnh mãn tính không lây (tăng
huyết áp, tiểu đường týp 2) ở người lớn (≥ 30 tuổi) tại tỉnh Bình Dương năm 2006.
Mục tiêu cụ thể
Xác định vai trò cuả các yếu tố sau đây trên nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp ở
người lớn (≥ 30 tuổi) tại tỉnh Bình Dương: hút thuốc, uống rượu, thói quen ăn uống,
thói quen vận động, các chỉ số nhân trắc
Xác định vai trò cuả các yếu tố sau đây trên nguy cơ mắc bệnh tiểu đường ở
người lớn (≥ 30 tuổi) tại tỉnh Bình Dương: hút thuốc, uống rượu, thói quen ăn uống,
thói quen vận động, các chỉ số nhân trắc
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu bệnh chứng được thực hiện tại tỉnh Bình Dương từ 12/2005-
07/2007, 1 nghiên cứu bệnh - chứng với bệnh tăng huyết áp và 1 nghiên cứu bệnh
chứng với bệnh đái tháo đường týp 2.
Dân số nghiên cứu
Người lớn (≥ 30 tuổi) có hộ khẩu cư trú (cho cả nhóm bệnh và nhóm chứng)
đang điều trị và sinh sống tại tỉnh Bình Dương.
Cách chọn mẫu
Đây là một thiết kế nghiên cứu bệnh chứng. Trong đó:
Ca Bệnh: Các ca bệnh sẽ được chọn từ các đối tượng đã khám, chẩn đoán và
điều trị hoặc huyết áp, hoặc tiểu đường tại các cơ sở y tế của tỉnh Bình Dương (bao
gồm cả nội và ngoại trú).
Ca Chứng: Các trường hợp đến khám tổng quát tại các cơ sở y tế cuả tỉnh Bình
Dương, được đưa vào nhóm chứng khi được xác định là không có tiền sử tiểu đường,
huyết áp hiện đang dùng thuốc, hoặc không dùng thuốc.
Mặt khác, các ca bệnh và chứng sẽ được bắt cặp theo tuổi và giới tính.
Cỡ mẫu

tỉ lệ đại học, sau đại học là 4,84%. Thời gian đi học trung bình của nhóm đối tượng
này là 8,0±5,1 năm. Thành phần dân tộc có khác so với nghiên cứu của tác giả Phạm
Hùng Lực điều tra năm 2002 trên địa bàn đồng bằng sông Cửu Long trong đó người
Kinh là 88,5%, người Khmer là 11% và người Hoa là 0,5%
(10)
. Lý do là Phạm Hùng
Lực điều tra ở các khu vực vùng ven trong khi người Hoa lại sống tập trung nhiều ở
thị trấn.
Phân tích liên quan giữa các yếu tố liên quan rượu bia với bệnh THA
Bảng 1: Phân bố đặc điểm uống rượu bia với bệnh THA
Yếu tố tiếp xúc Tăng huyết áp
OR
P
Bệnh

Chứng

(KTC 95%)


60
(34,29)
46
(26,29)
U
ống

ợu bia
trong 12
tháng qua

0,004

So sánh giữa nhóm bệnh và nhóm chứng thì tỷ lệ uống rượu, bia trong 12
tháng qua của nhóm bệnh (34,29%) cao hơn nhóm chứng (26,29%), sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê (p=0,02).
Những đối tượng ở nhóm cao huyết áp có tỉ lệ uống bia rượu thường xuyên
cao gấp 3,5 lần so với nhóm chứng (p=0,04).
Điều này cùng kết quả với các nghiên cứu: Trong nghiên cứu của tác giả Phạm
Hùng Lực tại đồng bằng sông Cửu Long năm 2002 kết quả có mối liên quan giữa thói
quen uống rượu và tình trạng THA, người có thói quen uống rượu có nguy cơ THA
gấp 1,2 lần so với nhóm không có thói quen uống rượu
(10)
. Tác giả Vũ Bảo Ngọc
trong nghiên cứu ở quận 4, TP. Hồ Chí Minh năm 2004 cũng có phát hiện tương tự
với người có uống rượu bia có nguy cơ THA gấp 2,82 lần và người nghiện rượu,
uống thường xuyên hàng ngày có có nguy cơ THA gấp 4,87 lần so với người không
uống rượu bia
(14)
.
Phân tích liên quan giữa yếu tố dinh dưỡng với bệnh THA
Bảng 2: Tần suất sử dụng các loại thức ăn trong một tuần với bệnh THA
Tăng huyết áp
Yếu tố tiếp xúc
Bệnh

Chứng

OR
(KTC
95%)

ram mặn
>=
5ngày/tuần
98
(56,32)
116
(66,29)
0,64
(0,39-
1,03)
0,055


83
(47,43)
56
(32,0)
M
ọi
ngư
ời cho
là ăn mặn
Không

92
(52,57)
119
(68,0)
1,9
(1,2-

đ
ộng thể
l
ực nhẹ
chung
Không

66
(37,71)
52
(29,71)
0,65
(0,38-
1,09)
0,08

118
(67,43)
123
(70,29)
Ho
ạt
đ
ộng thể
l
ực nhẹ
trong công
việc
Không


ải
trí
Không

15
(8,57)
3
(1,71)
0,2
(0,03-
0,7)
0,005

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê về hoạt động giải trí nhẹ với THA
(p=0,005), nhóm THA có tỉ lệ giải trí chủ yếu là nằm ngồi thấp hơn đáng kể so với
nhóm chứng là 0,2 lần.
Đối với hoạt động thể lực nhẹ (chủ yếu là ngồi, đứng một chỗ) cả trong công
việc và giải trí thì nhóm Tăng huyết áp có tỉ lệ hoạt động nhẹ thấp hơn bằng 0,65 lần
so với nhóm chứng, chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong nghiên
cứu với p=0,08. Không tìm thấy mối liên quan trong hoạt động thể lực nhẹ trong công
việc với THA (p>0,05).
Phân tích liên quan giữa chỉ số nhân trắc với THA
Bảng 4: Phân bố tỉ lệ béo phì theo BMI và béo bụng với bệnh THA
Tăng huyết áp
Ch
ỉ số nhân
trắc
Bệnh

Chứng

Ch

số v
òng
eo/vòng
mông
Bình
thường
103
(58,86)
128
(73,14)
2,08
(1,24-3,59)

0,003
Chỉ số khối cơ thể là một trong những cách khá chính xác để xác định tình
trạng cân nặng dư thừa. Tỉ lệ các đối tượng nghiên cứu có chỉ số BMI trên 23 trong
nhóm bệnh (50%) cao gấp 3,5 lần so với nhóm chứng bắt cặp theo tuổi và giới với
p=0,0001.
Tích tụ mỡ trên eo (béo bụng) là yếu tố nguy cơ mạnh hơn tích tụ mỡ ở dưới
eo (béo đùi). Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ chỉ số vòng eo/vòng mông cao ở nhóm
THA cao gấp 2 lần nhóm chứng được bắt cặp theo tuổi và giới với p=0,003.
Phân tích liên quan giữa yếu tố uống rượu bia với bệnh ĐTĐ
Bảng 5: Phân bố đặc điểm các yếu tố liên quan uống rượu bia với bệnh ĐTĐ
Đái tháo đường p
Yếu tố tiếp xúc
Bệnh

Chứng

17
(9,6)
4
(2,26)
7,5
(1,74-
0,0016

rượu bia
Không
thường xuyên
160
(90,4)

173
(97,74)
67,59)
Tỷ lệ uống rượu bia trong 12 tháng qua và tỷ tần suất uống rượu bia thường
xuyên ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng và sự liên quan có ý nghĩa thống kê
(p<0,05).
Phân tích liên quan giữa tình trạng béo phì với bệnh ĐTĐ
Bảng 6: Phân bố chỉ số BMI và tình trạng béo bụng với bệnh ĐTĐ
Đái tháo đường
Ch
ỉ số nhân
trắc
Bệnh
Chứn
g
OR

Cao

102(57,63
)
54
(30,51)
Ch
ỉ số v
òng
eo/vòng
mông
Bìn
h thường
75 (42,37)

123
(69,49)
10,6(4,2
-33,9)
0,0000
1
Có sự khác biệt về tình trạng béo phì giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. Nhóm
bệnh có tỉ lệ béo phì cao hơn hẳn nhóm chứng và sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê (p< 0,005). Có sự khác biệt về tình trạng béo bụng giữa nhóm bệnh ĐTĐ và nhóm
chứng. Nhóm bệnh có tỉ lệ béo bụng cao hơn hẳn nhóm chứng. (p<0,05).
KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho các kết quả sau:
Trong nhóm bệnh và chứng của bệnh THA các yếu tố có uống rượu bia trong
12 tháng qua và tần suất uống rượu bia thường xuyên, tỷ lệ béo phì và béo bụng, ăn
mặn (được người khác cho là ăn mặn) là các yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ mắc

trình để tăng cường năng lực hệ thống.
Kiến nghị cần soạn thảo các thông tin cốt lõi để tư vấn cho các trường hợp
bệnh không lây và cập nhật thông tin đến tận các tuyến y tế cơ sở. Mục tiêu để các
tuyến y tế có cùng một cách và cùng một thông điệp truyền thông đến người nghe.
Cần mở rộng mạng lưới bảo hiểm y tế đến tận người dân sao cho các đối
tượng bệnh mạn tính không lây được chăm sóc y tế tốt nhất.
Chương trình khám sức khỏe định kỳ cho người từ tuổi 30 trở lên sẽ góp phần
trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, trong đó có phát hiện sớm THA và ĐTĐ.
Giám sát định kỳ các yếu tố nguy cơ cần được đặt ra. Việc sàng lọc đối với
bệnh không lây như tăng huyết áp, đái tháo đường là ít tốn kém và có hiệu quả cao.
Đề xuất về các hoạt động phòng chống bệnh không lây
Chương trình giáo dục dinh dưỡng hợp lý: giảm muối là thông điệp quan trọng
hiện nay vì các nghiên cứu khác đã cho thấy chế độ ăn của người Việt hiện nay có
lượng muối cao hơn so với nhu cầu cơ bản như theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế
giới.
Đẩy mạnh xây dựng các câu lạc bộ sức khỏe cộng đồng, câu lạc bộ những
người bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường để chia sẻ kinh nghiệm, thông tin giúp
người bệnh hỗ trợ nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status