Ứng dụng các lĩnh vực ngôn ngữ trong quá trình biên tập - Pdf 20

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ
Tiểu luận cuối kỳ
Môn: Ứng dụng các lĩnh vực ngôn ngữ trong quá trình biên tập
Đề tài:
CÁC LOẠI VĂN BẢN VÀ MỘT SỐ LƯU Ý TRONG QUÁ TRÌNH
BIÊN TẬP

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
I. Khái quát
Trong thời đại thông tin bùng nổ, vai trò của người biên tập ngày càng
quan trọng. Xã hội phát triển, trình độ của mỗi người nâng cao, nhu cầu về tinh
thần trong đó có nhu cầu thưởng thức các tác phẩm ngày càng cao. Do đó, với
một tác phẩm thuộc bất kì loại văn bản nào cũng cần có những con người cần
mẫn chỉ ra từng lỗi sai dù nhỏ nhất để đưa tới người đọc với chất lượng cao
nhất. Vì thế, việc chỉ ra từng đặc điểm của mỗi loại văn bản và cách biên tập
từng loại văn bản là vấn đề trở nên cấp thiết.
Vì điều kiện không cho phép nên trong bài tiểu luận này chúng tôi không
thể phân tích kĩ đặc điểm của từng loại văn bản và cách biên tập cho từng loại,
mà chúng tôi chỉ dẫn ra những đặc trưng của văn bản và kể tên các loại văn bản
mà các tác giả đã phân chia. Sau đó, chúng tôi đi vào đào sâu đặc điểm của một
loại văn bản là văn bản báo chí. Để phân tích đặc điểm loại văn bản này, chúng
tôi đã tiến hành khảo sát trên một số báo (Tiền Phong, Thanh Niên, Hạnh Phúc
Gia Đình) để lấy dẫn chứng minh hoạ cho từng luận điểm đưa ra. Từ những đặc
điểm đó chúng tôi đưa ra một số lưu ý trong quá trình biên tập một tác phẩm nói
chung mà cụ thể là tác phẩm báo chí.
II. Nội dung
1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của văn bản
1.1. Khái niệm văn bản
Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó vừa là

Mỗi văn bản đều hướng tới một mục tiêu nhất định. Nó trả lời cho câu
hỏi: Văn bản viết ra nhằm mục đích gì? Viết để làm gì? Chính tính mục đích đã
quy định việc lựa chọn chất liệu nội dung, việc tổ chức chất liệu nội dung và
việc lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và tổ chức văn bản theo cách thức nhất
định.
Như vậy, văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ ở dạng
viết, thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về
hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất
định
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2. Các loại văn bản
Tuỳ theo từng quan điểm khác nhau, với những tiêu chí khác nhau mà
mỗi tác giả có sự phân chia văn bản thành từng loại khác nhau. Ở đây, chúng tôi
trích dẫn ra hai quan điểm phân loại văn bản, đó là quan điểm của các tác giả
cuốn Tiếng Việt thực hành (Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng) và quan điểm
của Đinh Trọng Lạc
Trước hết theo các tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng thì văn
bản có thể được chia thành 6 loại là: văn bản khoa học, văn bản hành chính, văn
bản nghị luận, văn bản báo, văn bản nghệ thuật và văn bản sinh hoạt. Cách phân
chia này cũng tương đối thống nhất với cách phân chia của PGS.TS Hữu Đạt
trong cuốn “phong cách học Tiếng Việt hiện đại”. Điểm khác nhau chỉ là ở cách
gọi tên, tác giả Hữu Đạt gọi phong cách “khẩu ngữ tự nhiên” thay cho cách gọi
“văn bản sinh hoạt” của nhóm tác giả trên. Hay tác giả Hữu Đạt gọi phong cách
“hành chính công vụ” thay cho cách gọi “văn bản hành chính” ở trên. Các giả
tác này phân chia văn bản theo một bộ tiêu chí đó là: Dựa trên chức năng giao
tiếp, hình thức thể hiện và phạm vi giao tiếp.
Đinh Trọng Lạc chia văn bản ra làm hai nhóm lớn theo tiêu chí mô hình
cấu trúc:
Nhóm thứ nhất: gồm những văn bản được xây dựng theo các mô hình

như sau: “...Công ty này đăng ký kinh doanh với nhiều ngành nghề, nhưng không
có ngành nghề nào là đầu tư tài chính. Một số công ty gọi là đầu tư tài chính qua
mạng như Colony, Cally...nhưng trên thực tế tất cả tiền trả cho thành viên đều là
tiền lấy từ thành viên mới trả cho thành viên cũ, không hề có sự đầu tư tài chính
nào.”
Sử dụng ngôn từ trong tác phẩm một cách chính xác, nhà báo không chỉ
đạt hiệu quả giao tiếp cao, mà còn góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt. Vì số lượng người tiếp nhận các sản phẩm của báo chí rất
đông. Đa phần họ lại xem các cơ quan báo chí là “ngọn đèn” chỉ dẫn trong việc
dùng ngôn từ. Do vậy, ngôn ngữ báo chí càng hoàn thiện thì tiếng Việt càng có
điều kiện phát triển.
Thứ hai: Tính cụ thể
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí trước hết thể hiện ở chỗ cái mảng hiện
thực được nhà báo miêu tả, tường thuật cụ thể, cặn kẽ tới từng chi tiết nhỏ. Có
như vậy, người đọc, người nghe mới có cảm giác mình là người trong cuộc,
đang trực tiếp được chứng kiến những gì nhà báo nói tới trong tác phẩm của
mình.
Ví dụ: Báo Thanh Niên số 181 (30/6/2007) có bài “Báo động về độc chất
trong thực phẩm” có nhiều chi tiết tác giả thống kê số liệu rất cụ thể, chi tiết như
“Theo Cục Thú y, tại TP.HCM và Đồng Nai, chỉ có khoảng 50-75% lò giết mổ
heo đạt chỉ tiêu yêu cầu về các loại vi khuẩn E.coli, Salmonella, S.aureus...Ngoài
ra, có 57.9 mẫu không đạt tiêu chuẩn về vi sinh vật, 21/90 mẫu không đạt chỉ tiêu
về tồn dư kháng sinh, kim loại nặng...” hay “Trong số 2557 mẫu rau quả tại Tây
Ninh, Tiền Giang, TP.HCM, Bến Tre và Bình Dương được xét nghiệm có 107
mẫu có mức tồn dư độc chất vượt mức cho phép, đặc biệt tại Bến Tre trong 190
mẫu phân tích thì đã có 151 mẫu có tồn dư...”
Bên cạnh đó, tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí còn nằm ở việc tạo ra sự
xác định cho đối tượng được phản ánh. Như thực tế cho thấy, mỗi sự kiện được

ngành hẹp, các từ ngữ địa phương, tiếng lóng cũng như các từ ngữ vay mượn từ
tiếng nước ngoài.
Thứ tư: Tính ngắn gọn
Ngôn ngữ báo chí cần ngắn gọn, súc tích. Sự dài dòng có thể làm loãng
thông tin, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc, người nghe. Hơn
nữa việc viết dài dòng dễ dẫn đến mắc nhiều lỗi khác, đặc biệt là lỗi về sử dụng
ngôn từ.
Tính ngắn gọn thể hiện ngay trong tít bài. Nhiều khi người đọc chỉ cần
lướt qua tiêu đề là có thể hiểu nội dung toàn bài. Báo Thanh Niên số 319
(15/11/2007) có bài “Bị truy tố vì gây thất thoát tài sản Nhà Nước 2,1tỉ đồng”-
chỉ với hơn 10 âm tiết nhưng người đọc lĩnh hội được rất nhiều thông tin như:
hậu quả (bị truy tố), nguyên nhân (gây thất thoát tài sản Nhà Nước), số lượng
(2,1 tỉ đồng) hay “Thu hồi 26 lô thuốc nhập khẩu không đảm bảo chất lượng”...
Câu nói nổi tiếng của đại văn hào Nga A.P.Chekhov có lẽ chính xác hơn
cả với phong cách ngôn ngữ báo chí “Ngắn gọn là chị của thành công”.
Thứ năm: Tính định lượng
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các tác phẩm báo chí có tính định lượng về ngôn từ vì chúng thường bị
giới hạn trong một khoảng thời gian hay một diện tích nhất định. Vì thế, việc lựa
chọn và sắp xếp các thành tố ngôn ngữ cần kĩ lưỡng, hợp lí để phản ánh được
đầy đủ lượng sự kiện mà không vượt quá khung cho phép về không gian và thời
gian.
Ví dụ: Qua khảo sát 20 số trên chuyên mục Kinh tế của báo Thanh Niên,
chúng tôi thấy số lượng âm tiết trong mỗi bài cũng như số lượng bài phản ánh về
Kinh tế trong mỗi số báo khá ổn định. Cho dù số lượng bài là bao nhiều thì mỗi
số báo cũng chỉ dành đúng 1 trang cho mục này (trang 4).Trên mỗi số báo
thường có từ 3 tới 6 bài. Nó có thể là 2 bài dài và một bài vừa hoặc 1 bài dài và
4 đến 5 bài ngắn, hoặc 1 bài dài và 2 đến 3 bài vừa. Bài dài từ 800 đến 1000 âm
tiết, bài vừa từ 400 đến 600 âm tiết, bài ngắn khoảng 100 đến 300 âm tiết,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status