MỞ ĐẦU
Trong sự vận động lịch sử văn hoá nhân loại, báo chí ra đời khá muộn.
Phải đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, những tờ báo đầu tiên mới xuất
hiện ở một số nước châu Âu. Ở nước ta, báo in bằng chữ quốc ngữ xuất hiện
vào giữa thế kỷ XIX, khởi đầu là tờ Gia Định báo (ra số đầu tiên ngày 1-4-
1865).
Trong báo chí, có các thể loại báo chí như : báo in, báo phát thanh, báo
truyền hình, báo mạng điện tử. Truyền hình tuy ra đời sau so với báo in hay
phát thanh nhưng với thế mạnh về sự tích hợp các loại hình truyền thông và
sử dụng hình ảnh sống động, âm thanh, ngôn từ, tác động đến hàng triệu
người cùng một lúc…đã làm cho truyền hình nhanh chóng trở thành một loại
hình truyền thông có sức nặng và sự “công phá” rất lớn trong các vấn đề mà
báo chí đề cập. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ số ngày nay, với sự biến
chuyển nhanh chóng của xã hội, nhiều vấn đề được đặt ra cần sự vào cuộc
của báo chí mà trong đó cần những bước đi tiên phong của truyền hình.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều công nghệ mới được ứng
dụng vào trong truyền hình nh ư truy ền h ình
Với hình ảnh và âm thanh sinh động cùng với sự hỗ trợ đắc lực của công
nghệ, truyền hình ngày càng khẳng định vị thế cũng như sức mạnh to lớn
của mình trong đời sống xã hội.
1
Phần I - LỊCH SỬ TRUYỀN HÌNH
Truyền hình, hay còn được gọi là TV hay vô tuyến là một loại máy thu
hình truyền tải nội dung chủ yếu bằng hình ảnh sống động và âm thanh kèm
theo
Năm 1920, hai nhà khoa
học Mỹ Charles Francis
Jenkins và nhà khoa học
Anh John Logie Baird đã
tạo ra vật mẫu thành công
đầu tiên của chiếc TV.
sóng của các kênh. Đây
là bức ảnh chụp năm
1952 tại Mỹ với các
kiểu cần antenna thu
phát sóng truyền hình
khác nhau.
4
Sức mạnh của TV là việc phát trực tiếp những bước đi lịch sử của nhà
du hành Mỹ Neil Amstrong trên mặt trăng, ngày 20/1/1969
Nỗ lực phát triển TV màu xuất hiện từ đầu những năm 1950 và chiếc
đầu tiên được hãng RCA giới thiệu năm 1954. Nhưng phải đến những
năm 1960 việc bán các TV màu mới bắt đầu sinh lợi. Tới năm 1974 thì
TV màu đã trở thành biểu tượng cho các gia đình giàu có tại Mỹ.
5
Khi TV đã phổ biến trong các gia
đình Mỹ, giới phát minh lại lao vào
tìm cách thu nhỏ chúng để khách
hàng có thể xem bất cứ đâu khi đang
đi trên đường. Năm 1959, hãng
Philco đưa vào thị trường chiếc TV
chỉ có màn hình rộng 2 inch và có
thể thu cả sóng radio.
Cho tới những
năm 1980, ngành
truyền hình Mỹ do 3
mạng lưới chính
thống trị, trong khi
khán giả tại các nước
châu Âu và châu Á bị
giới hạn trong các lựa
vào mỗi tối. Người dân Mỹ cùng ngồi với nhau để xem các nhân vật yêu
thích, các chương trình thể thao và thông tin về các sự kiện lịch sử. Truyền
hình vẫn là nguồn cung cấp tin tức và phương tiện quảng cáo chủ yếu có thể
thu hút sự chú ý nhiều nhất của người Mỹ.
Tuy nhiên, ngày nay những thay đổi trong công nghệ, trong cách hành xử
của khán giả và các mô hình kinh doanh đang liên tục thách thức hoạt động
phát sóng truyền thống.
7
Những đối thủ cạnh tranh cũ
Mặc dù những đĩa CD nhạc chất lượng cao xuất hiện, song đài phát thanh
vẫn thu được lợi nhuận nhiều hơn bao giờ hết trong thập kỷ 1990 sau khi có
những thay đổi về quy định của Chính phủ Hoa Kỳ cho phép sự hợp nhất và
sự phát sóng đồng thời cùng một chương trình của nhiều đài phát thanh khác
nhau trong cùng một khu vực đô thị, cũng như sang nhiều khu vực khác.
Tuy vậy, kết quả thường là các chương trình hay nhưng thiếu thông tin về
địa phương.
Hội đồng Truyền thông Liên bang đã cấp phép hoạt động cho 13.450 đài
phát thanh trong năm 2003, gấp hai lần số lượng đài được cấp phép năm
1970. Hoa Kỳ là một trong số ít quốc gia trên thế giới mà ở đó các đài
thương mại, với con số khoảng 10.000, lại lấn lướt đài phát thanh của chính
phủ.
Truyền hình gặp phải trở ngại đầu tiên của nó khi hệ thống ăng-ten dùng
chung hoặc hệ thống truyền hình cáp bắt đầu bắt được tín hiệu từ các đài
truyền hình khác và sau đó có thêm các kênh như CNN hoặc MTV. Những
đài nhỏ của cá nhân bắt đầu hợp nhau lại thành các nhóm khi truyền hình
cáp xuất hiện ở các khu vực đô thị trong những năm 1980. Các đài truyền
hình cố gắng giữ khán giả của mình bằng việc nhấn mạnh rằng các quy định
quốc gia yêu cầu các hệ thống cáp phải hỗ trợ các đài truyền hình địa
phương.
Sự cạnh tranh gia tăng trong những năm 1990 do sự xuất hiện của các vệ
người vừa vào Internet vừa xem TV cùng một lúc. Truyền hình có thể quảng
cáo cho các chương trình của mình với những tin tức và thông tin về lịch
phát sóng trực tuyến. Một đài phát thanh địa phương cũng có thể giới thiệu
các chương trình của mình ở bất cứ đâu trên thế giới với một đường kết nối
Internet. Các đài phát thanh truyền hình có thể hướng khán giả vào những
trang web của mình để có được thông tin chi tiết hơn, song họ cũng cảm
thấy khó khăn hơn trong việc hướng khán giả của các trang web tới các
chương trình tin tức.
Mặc dù tổng lượng tin tức được xem tăng lên song các nhà đưa tin đã phải
đối mặt với việc khán giả hay thay đổi và khó tính hơn. CNN và các đài
khác cung cấp tin tức, dự báo thời tiết và tin thể thao bất cứ khi nào mà
người xem cần chúng. Nhiều kênh khu vực chỉ phát toàn tin tức khác cũng
học theo cách làm đó. Các đài đưa tin địa phương và đưa tin qua mạng cũng
gia tăng số lượng các chương trình, đặc biệt là vào các buổi sáng.
Không còn những hạn chế về thời gian phát sóng nữa. Tin tức luôn có sẵn và
được cập nhật. Các phóng viên than phiền rằng họ không có thời gian để viết
các câu chuyện bởi vì họ luôn phải đưa được các tin tức mới và trực tiếp.
Việc đưa tin nhanh chóng 24 giờ mỗi ngày cũng như các thông điệp tức thì
từ Internet đã làm cho những người cung cấp tin, chẳng hạn như các nhà
9
chính trị và các chuyên gia quan hệ công chúng, có ít thời gian hơn để phản
ứng, đặc biệt là khi những kênh chỉ phát toàn tin tức làm cho cuộc khủng
hoảng này thêm trầm trọng với những cuộc phỏng vấn phát trực tiếp qua vệ
tinh. Nhiều người xem đã liên tục chuyển kênh từ tin tức sang thời tiết, tin
thể thao hoặc chương trình giải trí. Một số chương trình tin tức thậm chí còn
tăng số lần quảng cáo cho những tin sắp đưa của mình nhằm kéo những
người xem lướt qua các kênh quay trở lại với kênh tin của mình nếu họ
chuyển sang kênh khác.
Phần quan trọng nhất trong các chương trình tin tức của Hoa Kỳ, chương
trình tin tức buổi tối đã bị mất dần khán giả mặc dù đã có những cố gắng để
các đài phát thanh vẫn phải đối mặt với những vấn đề khác, trong đó có cuộc
điều tra về payola (trả tiền mặt hoặc tặng quà để được phát trên đài phát
thanh). Các đài phát thanh sử dụng vệ tinh liên tục tăng lên như một loại
hình thay thế cho các đài thương mại và ngoài ra, sự cạnh tranh còn đến từ
iPod (thiết bị nghe nhạc số) và các thiết bị kỹ thuật số tương tự vừa tiện
dụng vừa làm cho âm nhạc có thể đi theo người.
iPod và các thiết bị tương tự có thể lưu trữ các nội dung phát thanh để nghe
lại. Quy trình này, được goi là podcasting, cũng giống như thiết bị TiVo
dành cho đài phát thanh. Nội dung có thể thay đổi từ các chương trình phát
thanh quốc gia đến loại hình tin trên trang web hay tin tức được sản xuất tại
nhà.
Từ lâu, người nghe đã có thể ghi lại chương trình phát thanh và nghe lại
bằng thiết bị di động, song họ chưa bao giờ có nhiều nội dung, sự đa dạng,
sự kiểm soát và khả năng để quản lý thông tin nhiều đến vậy.
Từ nhiều năm, ngành công nghiệp truyền hình đã nhìn thấy trước được việc
tăng cường chất lượng – truyền hình với độ phân giải cao (HDTV). Bây giờ
thì cuối cùng nó đã đến, dù là muộn nhiều năm.
Các đài phát thanh sử dụng kỹ thuật số cũng đã được phát triển trong nhiều
năm, với cam kết đưa ra những thiết bị thu có chất lượng như nghe từ CD và
được cải thiện rất lớn, song ngành công nghiệp này vẫn thiếu sự táo bạo
nhằm tạo ra được sự đầu tư lớn cần thiết cho việc nâng cấp rộng lớn như
vậy. Công nghệ cho phép một đài phát thanh tiếp tục phát tín hiệu tương tự
thường xuyên của nó đồng thời tăng tín hiệu sử dụng kỹ thuật số.
Những đối thủ cạnh tranh mới
Có lẽ truyền hình phát sóng và truyền hình cáp đã bước vào thế kỷ 21 cùng
với HDTV, những kênh mới; và cũng không khác là mấy đối với những
bước nhảy vọt về công nghệ trong những năm 1990 là dịch vụ Internet băng
thông rộng phù hợp túi tiền và công nghệ nén phim video.
Dịch vụ băng thông rộng là DSL (đường truyền kỹ thuật số) do các công ty
điện thoại phát minh, và mô-đem cáp do truyền hình kỹ thuật số sáng tạo ra.
pháp cung cấp tài chính thay thế là phí đăng ký và phí trả cho mỗi chương
trình. Bất kỳ ai cũng có thể đưa phim video lên Google để lưu hành miễn phí
hoặc để mua bán. Các chương trình truyền hình trả tiền theo chương trình
cũng sẵn có trên đài truyền hình cáp hoặc đài phát thanh truyền hình trực
tiếp qua vệ tinh, cũng giống như việc xem và trả tiền theo từng phim. Hiện
nay, các công ty sản xuất, nhà viết kịch, diễn viên, các mạng lưới truyền
thanh và những đối tượng khác đang tranh chấp xem liệu doanh thu được
12
phân chia như thế nào.Các đài truyền hình có thể còn có thêm nhiều thách
thức, lớn và nhỏ khi mà Internet cho lưu hành nhiều phim hơn nữa. Các
công ty công nghệ thông tin và viễn thông đang cho ra đời IPTV (TV dùng
giao thức Internet).
II - Bước đột phá của công nghệ truyền hình
Trước đây, để thu sóng truyền hình, khán giả chỉ cần một tivi (TV) và
một anten xương cá. Ngày nay, khán giả có thể lựa chọn nhiều công
nghệ.
Theo kỹ sư Đặng Tấn Mầu, nguyên Trưởng phòng Kỹ thuật Đài Truyền
hình TPHCM, Chi hội trưởng Chi hội Vô tuyến điện - điện tử TPHCM,
tổng số kênh mà khán giả thu được qua các hệ thống kỹ thuật truyền
hình hiện nay có thể sử dụng tại TPHCM hiện lên đến gần 1.000 kênh
sóng.
Từ năm 1993, với sự xuất hiện của Công ty Truyền hình Cáp Sài Gòn
Tourist (SCTV), khán giả truyền hình TPHCM đã có thêm 2 công nghệ
truyền hình mới để lựa chọn, đó là MMDS (truyền hình viba) và truyền hình
dây dẫn (CATV). Ở thời điểm đó, khi CATV chỉ mới có một số tuyến
đường, thì công nghệ MMDS với ưu thế vượt trội của công nghệ vô tuyến đã
thu hút được một lượng khán giả đáng kể ở các quận trung tâm (như quận
1,3 5, 10…).
Không chỉ dừng lại đó, 5 năm sau đó, phát huy thành quả đã đạt được,
MMDS tiếp tục nâng cấp, mở rộng phục vụ khán giả không chỉ trên toàn địa
một số lớn công nghệ truyền hình hiện đại đã được triển khai ở TPHCM. Có
loại truyền hình trả phí, có loại truyền hình miễn phí (có thể chỉ thu phí qua
thiết bị), nhưng tất cả đã hình thành một cuộc cạnh tranh công nghệ truyền
hình nhằm thu hút tối đa số lượng khán giả về phía mình.
III - Công nghệ truyền hình Việt Nam
Nếu vẽ một biểu đồ về tốc độ thay đổi công nghệ trong truyền hình thì sẽ
thấy đường biểu diễn từ cuối thập niên 60 đến cuối thập niên 90 gần như rất
ít thay đổi.
LCD ra đời làm một cuộc cách mạng trong truyền hình
Phải nói kỹ thuật cấy những bóng bán dẫn phát sáng đã cho ra những tấm
LCD panel đã cải tiến đáng kể độ phân giải truyền hình. Tivi LCD ngày
càng sáng hơn và độ phân giải ngày càng cao hơn. Hình ảnh được tái tạo
không phải bằng kỹ thuật tương tự (analog) mà bằng kỹ thuật rời rạc từng
ảnh điểm (pixel), từ đó khái niệm TV số (digital) ra đời.
14
Những năm đầu thế kỷ 21, Tivi LCD phát triển mạnh mẽ và người ta chứng
kiến sự chuyển tiếp giữa analog và digital. Nếu đỉnh cao của truyền hình
analog là độ phân giải SD (độ nét bình thường) với chuẩn DVD 720x576 thì
đỉnh cao của truyền hình digital hoàn toàn chưa có điểm dừng. Chất lượng
DVD đã lùi về quá khứ, nhường bước cho HD (độ nét cao) ra đời. Hiện nay,
người ta còn có HD-ready và Full-HD.
Tại Việt Nam, thị trường đã có nhiều loại Tivi LCD đạt chuẩn độ nét Full-
HD 1920x1080. Tuy nhiên chưa có nguồn phát tín hiệu cho các Tivi này trừ
các kênh thử nghiệm trong truyền hình cáp. Muốn xem được độ phân giải
Full-HD, người ta phải mua các đầu máy thế hệ mới như Blu-ray nhưng việc
tìm kiếm đĩa phim cho các đầu máy này không dễ dàng gì.
Bởi độ nét cao tức nhiều ảnh điểm (pixel), mỗi frame hình chứa đến 2 triệu
pixel khiến lượng thông tin truyền đi trong mỗi giây vô cùng lớn, người ta
phải dùng nhiều giải thuật nén để tiết kiệm đường truyền và cả vật chứa