Mở đầu
Chè là cây công nghiệp dài ngày có vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã
hội nớc ta. Uống chè từ lâu đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng
ngày, một tập quán mang nét văn hoá của ngời Việt Nam. Chè còn là sản phẩm
xuất khẩu quan trọng trong ngành nông nghiệp nớc ta. Hiện nay, trên thế giới
có 39 nớc trồng và chế biến chè thì Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích và đứng
thứ 8 về sản lợng.
Mặt khác cây chè phát triển còn tạo công ăn việc làm cho một lợng lao
động rất lớn ở các vùng nông thôn, đem lại thu nhập cho họ, góp phần xoá đói
giảm nghèo, giúp nông thôn rút ngắn khoảng cách về kinh tế với thành thị, thiết
lập công bằng xã hội. Đây là mục tiêu mà Đảng và Nhà nớc ta đang cố gắng
thực hiện trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đất nớc.
Do lợi thế và vị trí quan trọng của cây chè trong nền kinh tế nói chung và
trong sản xuất nông nghiệp nói riêng nên năm 1995 Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đã xây dựng Tổng quan phát triển chè ở Việt Nam đến năm
2000 và 2010. Ngày 10/3/1999 Thủ tớng Chính phủ đã có quyết định số
43/1999/QĐ-TTg về kế hoạch sản xuất chè năm 1999-2000 và định hớng phát
triển chè Việt Nam đến năm 2005-2010. Trong quyết định này đã nêu rõ: Trên
địa hình, thổ nhỡng, khí hậu và quỹ đất đai hiện có ở các địa phơng, quy hoạch
vùng theo hớng khai thác lợi thế của từng vùng, có kế hoạch phục hồi thâm
canh các vờn chè hiện có, đồng thời tập trung trồng mới bằng các giống có năng
suất và chất lợng cao.
Thực hiện những quyết định trên, trong những năm gần đây, sản xuất chè
cả nớc đã đạt đợc kết quả quan trọng, tổng diện tích và sản lợng chè đều vợt
mục tiêu đề ra. Tuy nhiên ngành sản xuất chè ở nớc ta đang đứng trớc những
thách thức tiềm ẩn hết sức gay go: năng suất chè của ta thấp hơn so với các nớc
trên thế giới, chất lợng chè cha tốt, giá xuất khẩu liên tục giảm... Vì vậy cần có
1
các biện pháp phù hợp để ngành chè khắc phục đợc những khó khăn và tiếp tục
phát huy vai trò của mình.
Xuất phát từ yêu cầu phát triển khách quan của ngành chè Việt Nam kết
Việt Nam từ khoảng 3000 năm trớc. Nhân dân vùng biên giới của Việt Nam đã
học đợc cách trồng và chế biến của ngời Trung Quốc để phát triển các vờn chè
trồng phân tán rải rác và hái lá để uống. Ngay từ trớc thế kỷ thứ XVII, ở Việt
Nam đã hình thành hai vùng sản xuất chè: chè vờn miền trung du và chè rừng
miền núi.
-Vùng chè miền trung du chủ yếu sản xuất chè tơi, chè nụ và chè băm, chế
biến đơn giản.
- Vùng chè miền núi sản xuất loại chè chi, chè mạn, lên men nửa chừng
của đồng bào dân tộc Mông, Dao,...
Kỹ thuật trồng chè thời kỳ này chủ yếu là quảng canh, có nơi coi đó là một
cây rừng chế biến đơn giản, mang tính tự cung, tự cấp trong gia đình hoặc trong
cộng đồng lãnh thổ phạm vi nhỏ.
3
Đến thế kỷ thứ XIX, một số ngời Pháp bắt đầu kiểm soát việc sản xuất và
buôn bán chè ở Hà Nội. Đến năm 1980 Paul Chaffajon xây dựng đồn điền đầu
tiên của Việt Nam tại Tĩnh Cơng (Phú Thọ) nay thuộc huyện Sông Thao tỉnh
Phú Thọ với diện tích khoảng 60 ha. Đến năm 1918, thành lập Trung tâm
nghiên cứu nông lâm nghiệp Phú Thọ tại Phú Hộ. Từ năm 1925, cây chè bắt đầu
phát triển mạnh, cả nớc hình thành ba vùng chè chính:
-Vùng chè Tây Nguyên: Có diện tích tính đến năm 1939 là 2.759 ha, sản l-
ợng bình quân mỗi năm đạt 900 tấn. Đã có những đồn điền quy mô 400-500 ha.
Bắt đầu hình thành một số nhà máy (thiết bị của Anh) có sản phẩm chính là loại
chè đen truyền thống (OTD) tiêu thụ ở thị trờng Tây Âu và một ít chè xanh xuất
khẩu sang Bắc Phi.
- Vùng chè Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ: Chè đợc trồng rải rác trong các vờn
gia đình, một số đồn điền nhỏ (vài chục ha), kỹ thuật trồng và chế biến còn rất
đơn giản, sản phẩm gồm chè đen, chè xanh, chè tơi và chè nụ.
- Vùng chè Trung Bộ: Tổng diện tích khoảng 1900 ha, trong đó có một
đồn điền của ngời Pháp với diện tích khoảng 250 ha. Chế biến chè ở vùng này
còn thô sơ, sản phẩm chính là chè xanh xuất khẩu sang Bắc Phi.
trung du, miền núi, đặc biệt là Trung du Miền núi Bắc Bộ, đã tạo công ăn việc
làm cho hàng vạn ngời lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo, chuyển nền
kinh tế tự cấp tự túc của đồng bào dân tộc miền núi bằng một nền kinh tế sản
xuất hàng hoá, góp phần phân công lao động giữa miền ngợc và miền xuôi. Chè
cũng đem lại nguồn lợi tơng đối lớn cho Ngân sách Nhà nớc. Chè có vai trò to
lớn trong nhiều lĩnh vực:
2.1. Sản xuất chè với phát triển nông nghiệp:
Chè là cây trồng rất lâu đời ở Việt Nam, đến nay xác định đợc 33 tỉnh có
khả năng thích hợp nhất để trồng chè, tập trung chủ yếu ở Trung du Miền núi
Bắc Bộ và Tây Nguyên. Bên cạnh u thế về khí hậu, đất đai của tự nhiên nhiệt
đới Việt Nam có lợi cho sinh trởng cây chè (mùa hái chè dài, thời gian kiến
5
thiết ngắn) và các nguồn gen phong phú (chè rừng miền núi), cây chè còn có
nghĩa to lớn đối với ngời dân:
- Những năm gần đây, việc triển khai giao đất và khoán chè cho ngời lao
động theo Nghị định 01 của Chính phủ cùng với những giải pháp của ngành chè
Việt Nam đợc giải quyết tốt việc làm cho ngời lao động. Cùng với cơ chế và ph-
ơng thức mua chè thuận lợi cho ngời lao động đã tạo động lực khuyến khích ng-
ơì lao động phấn khởi chủ động đầu t thâm cạnh chè để đạt năng suất, chất lợng
cao. ở trung du miền núi ngời dân có tập quán trồng lúa nơng với thu nhập
trung bình là 1-2 triệu đồng/ha trong khi đó 1 ha chè trên vùng đồi núi khô cằn
thu đợc 10-12 triệu đồng. Điều này dẫn tới quan điểm chuyển sang trồng chè
thay vì lúa nơng trong nhân dân miền núi.
- Chè là mặt hàng có thị trờng và giá cả ổn định với mức dao động về giá ở
thời điểm biến động cao nhất không quá 8% đối với loại chè trung bình so với
các ngành kinh tế công nông nghiệp khác, chè cũng đã khẳng định đợc vị trí
của mình. Trồng chè đúng kỹ thuật sẽ tạo ra một thảm thực vật có tác dụng phủ
xanh đất trống đồi núi trọc.
- Cây chè là cây không kén đất nh cà phê, ca cao, hồ tiêu, năng suất lại t-
ơng đối ổn định, ít biến động hàng năm không lớn ngay cả những năm thiên tai,
phát triển kinh tế xã hội các vùng sâu, vùng xa của đồng bào dân tộc khai hoang
ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. ở đây cây chè gần gũi với từng gia đình,
góp phần định c, ổn định cuộc sống và xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân
tộc ít ngời. Hơn nữa cây chè đã tạo công ăn việc làm cho hơn 20 vạn lao động
góp phần ổn định đời sống cho 10 vạn hộ gia đình. Việc quy hoạch các vùng
sản xuất chè tập trung bao gồm sản xuất nông - công nghiệp -dịch vụ, hình
thành các cụm dân c đã góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân.
7
Cây chè là cây công nghiệp lâu năm, có chu kỳ kinh tế dài nhng nhanh cho
sản phẩm thu hoạch, là cây trồng xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế ở
vùng núi và trung du Việt Nam, góp phần thúc đẩy trung du miền núi có điều
kiện tiến kịp với các vùng khác trong cả nớc. Cây chè là cây trồng có thể áp
dụng rộng rãi vào các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế trang trại. Trồng
chè sẽ mở rộng diện tích canh tác ở vùng cao cho ngời dân ở đây.
Ngoài ra, về mặt y học, từ xa đến nay nớc chè là thứ nớc uống giải khát
phổ biến của nhân dân ta có tác dụng chống lại đợc lạnh, khắc phục sự mệt mỏi
của cơ bắp và hệ thần kinh trung ơng, kích thích vỏ đại não, làm cho tinh thần
minh mẫn, sảng khoái, hng phấn trong thời gian lao động căng thăng về trí óc
và chân tay. Ngoài ra còn có tác dụng bảo vệ sức khoẻ. Chất catesin của chè
xanh có chức năng phòng ngừa bệnh ung th bằng cách củng cố hệ thống miễn
dịch, phòng ngừa bệnh cao huyết áp, chống lão hoá.
Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc giai đoạn 2000-2010,
và do giá trị dinh dỡng, kinh tế, xã hội, văn hoá và bảo vệ sức khoẻ con ngời
nên cây chè đã đợc ghi vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nớc
Việt Nam, trong chơng trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và chơng
trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi.
II. các nhân tố ảnh hởng đến phát triển sản xuất chè ở
Việt Nam
1. Điều kiện tự nhiên
thể trồng chè là nhóm vàng đỏ trên đất bazan, có nhiều tầng mỏng, độ dốc lớn.
Đây là vùng có khí hậu không thuận lợi, đất đai nghèo dinh dỡng và không có
độ dốc phù hợp với phát triển sản xuất chè nên năng suất và chất lợng thấp. Chế
độ ma của vùng cũng chịu ảnh hởng của gió mùa phía Bắc, phân bố không đều
và trái với mùa sinh trởng của chè. Ngợc lại ma thiếu vào mùa xuân, thời điểm
lá chè và búp chè hình thành lá non.
9
1.4. Vùng Tây Nguyên
Là vùng mang khí hậu nhiệt đới gió mùa. Độ cao từ 700 đến 1.500 m so
với mặt nớc biển. Nhiệt độ bình quân hàng năm là 23 độ C, lợng ma trung bình
hàng năm là 2000 mm. Đất đai có thể trồng chè chủ yếu là đất bazan, đặc biệt là
đất nâu vàng trên đá bazan ở Bảo Lộc, Di Linh khá tốt, hàm lợng ma phùn và độ
ẩm cao. Đất ở vùng này có kết cấu và tầng dày tốt.
2. Khả năng nguồn vốn
Để phát triển sản xuất chè, việc huy động vốn đầu t là rất quan trọng. Hiện
nay có rất nhiều nguồn vốn có thể huy động, nhng nguồn vốn quan trọng nhất là
Nhà nớc đã giao quyền sử dụng đất lâu dài cho ngời trồng chè. ở các nông tr-
ờng công nghiệp cũng đợc giao khoán vờn chè và giao đất để trồng chè mới.
Huy động nguồn vốn tự có trong nhân dân: Đây là nguồn vốn rất quan
trọng, nó có tác dụng thúc đẩy ngời nông dân tham gia vào qúa trình phát triển
cây chè, mặt khác khi ngời dân tự bỏ vốn ra kinh doanh thì họ sẽ có trách nhiệm
với nguồn vốn mà mình đã bỏ ra.
Vốn vay ngân hàng Nhà nớc: Đây là nguồn vốn không thể thiếu. Thông
qua các dự án phát triển, trong những năm qua ngân hàng Nhà nớc đã đầu t cho
nhiều cơ sở kể cả khu vực quốc doanh và t nhân, góp phần ổn định, đảm bảo l-
ợng chè tăng trởng ổn định. Tuy nhiên so với một số cây chè khác nh cà phê,
cao su,... chè vẫn là cây đợc đầu t thấp nhất.
Vốn dự trữ ở các doanh nghiệp : Thông qua hoạt động điều tiết ở các
doanh nghiệp đã mở ra khả năng khuyến khích các doanh nghiệp tồn tại và phát
triển.
năm sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè, ngành chè nớc ta đã rút ra đợc những thế
mạnh và tồn tại chủ yếu trong khâu chế biến chè. Mặt khác trong những năm
gần đây, nhiều tổ chức, công ty liên doanh nớc ngoài đã sẵn sàng ký kết hợp
11
đồng với ta không chỉ ở vốn đầu t cho các nhà máy mà còn cả quy trình công
nghệ tiên tiến, bao gồm cả hớng dẫn kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm ... Nh vậy, khả
năng ứng dụng khoa học kỹ thuật của nớc ta trong chế biến biến sản phẩm chè
không có gì trở ngại.
4. Hệ thống chính sách hỗ trợ của Nhà nớc
Để việc phát triển sản xuất chè đạt đợc mục tiêu mà ngành chè đã đặt ra
thì cần phải có một hệ thống các chính sách hỗ trợ phát triển chè. Nh vậy yếu tố
chính sách là yếu tố không thể thiếu đợc trong phát triển sản xuất chè ở Việt
Nam. Thực tế cho thấy rằng những nớc phát triển cha ban hành các chính sách
tơng xứng với vai trò và tiềm năng của cây chè. Nếu các chính sách này chỉ tập
trung chú trọng đến mặt cầu tức là chú trọng đến việc trồng và chế biến chè mà
không có các chính sách thúc đẩy thị trờng tiêu thụ thì sau một thời gian sẽ
không tìm đợc đầu ra cho sản phẩm và do đó ngành chè sẽ gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, khi tiến hành phát triển sản xuất chè Nhà nớc cần ban hành một hệ
thống chính sách hỗ trợ cần thiết cho việc phát triển chè. Sau đây là một số
chính sách tiêu biểu:
Chính sách ruộng đất: ở nông thôn sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị,
ruộng đất đợc giao quyền sử dụng lâu dài cho nhân dân (10-20) năm. Bởi vậy
đây là yếu tố quan trọng làm cho ngời dân yên tâm sản xuất.
ở các đơn vị quốc doanh, nhiều đơn vị đã chia đất, khoán vờn chè cho
công nhân. ở nông trờng 28/3 giao cho mỗi lao động 0,65-1,7 ha với nhiệm vụ
bảo đảm sản lợng theo mức khoán, giao nộp cho nông trờng theo giá thoả
thuận. Phía nông trờng ngoài việc cung ứng vật t cho công nhân, còn cử các cán
bộ hớng dẫn kỹ thuật sản xuất cho họ... Một số nông trờng vẫn thừa đất cũng
giao khoán cho dân làm, cũng theo chế độ nh công nhân Nhà nớc, không phải
đóng chi phí bảo hiểm xã hội, nhng phải nộp thêm 2% sản lợng để xây dựng cơ
13
qua, nằm trong lới điện quốc gia còn phần lớn vùng nguyên liệu chè nằm ở
vùng xa xôi, hẻo lánh.
Cơ sở hạ tầng phục vụ chế biến: Các cơ sở chế biến, các máy móc thiết bị
chế biến,... đây là yếu tố quan trọng ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng chè. Tăng
cờng cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng chế biến đã có và phát triển mới, mở rộng
mạng lới chế biến trên toàn quốc để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sản
xuất chè, dần xoá bỏ sự chênh lệch về mức sống giữa miền núi trung du và đồng
bằng.
6. Nhân tố lao động
Nhân tố con ngời có vai trò quyết định trong sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội nói chung và cũng là nhân tố quan trọng trong phát triển sản xuất chè.
Lao động trong sản xuất chè bao gồm lao động trong trồng chè, lao động chế
biến và tiêu thụ. Để đạt đợc năng suất, chất lợng cao trong sản xuất chè thì
ngoài công nghệ chế biến hiện đại, yếu tố quan trọng hơn cả là ngời lao động
phải có trình độ tay nghề. Trong cả ba khâu: trồng, chế biến, tiêu thụ đều đỏi
hỏi ngời lao động phải có kỹ năng lao động. Hiện nay ở nớc ta trình độ của ngời
lao động ngày càng đợc nâng cao, tuy nhiên số lợng lao động này lại phân bố
không đều. Vì vậy ngành chè cần phải có biện pháp phân bố lại lao động sao
cho hợp lý và đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho lao động ở các vùng trồng
chè vùng sâu, vùng xa.
Với dân số 80 triệu ngời, cơ cấu dân c trẻ và có gần 80% dân số sống
bằng nghề nông. Có thể nói nguồn nhân lực cho nông nghiệp là rất dồi dào. Với
mức độ tăng dân số nh hiện nay thì bình quân mỗi năm sẽ có gần 1 triệu nguời
bớc vào tuổi lao động, trong đó ở nông thôn và các tỉnh miền núi là 35 vạn
nguời, số lao động dôi d sẽ tạo ra nguồn lao động to lớn để tiến hành khai
hoang mở đất, đi xây dựng kinh tế mới, tận dụng những vùng đất còn tiềm
năng. Mặt khác, lao động nớc ta nhìn chung là rẻ, lại cần cù lao động, thông
minh sáng tạo, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học công nghệ, có nhiều kinh
nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Bởi vậy, lực lợng này thực sự đáp ứng yêu
này đã chiếm trên 85% sản lợng chè thế giới.
15
Cầu: Năm 2002, mức tiêu thụ chè trên thế giới đạt 2,072 triệu tấn, tăng
2,4% (tơng đơng 49 nghìn tấn) so với năm 2001, trong đó nhóm 5 nớc tiêu thụ
chủ yếu vẫn là ấn Độ, Anh, Pakistan, CIS và Hoa Kỳ (chiếm khoảng 58,5%
tổng mức tiêu thụ trên thế giới) tăng 5 nghìn tấn và nhóm các nớc khác giảm 1
nghìn tấn.
Giá chè trên thế giới: Từ năm 1997 trở lại đây có xu hớng cung vợt quá
cầu. Số lợng chè xuất khẩu cao hơn nhập khẩu. Các nớc nhập khẩu lớn đều
giảm số lợng chè đen nhập khẩu. Do cung có xu hớng vợt cầu nên giá bình quân
tính theo đồng USD ở hầu hết các thị trờng đấu giá đều giảm một cách đáng kể
từ năm 1998.
2. Kinh nghiệm của một số nớc sản xuất chè trên thế giới
Trên thế giới chỉ có khoảng hơn 30 nớc là có điều kiện tự nhiên thích hợp
để trồng chè trong khi đó hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng chè với
mức độ khác nhau. Các nớc trồng chè đã tận dụng u thế đó để phát triển sản
xuất, có những nớc xem chè là cây trồng chính của đất nớc nh Kênya, ấn Độ...
Sau đây là kinh nghiệm sản xuất chè của một số nớc trên thế giới.
Trung Quốc: Là nớc phát hiện và sử dụng chè sớm nhất trên thế giới.
Chè trở thành thứ nớc uống giải khát phổ thông trong mọi tầng lớp nhân dân và
đợc coi là 1 trong 7 thành phẩm quan trọng của đời sống nhân dân Trung Hoa.
Trung Quốc là nớc có điều kiện tự nhiên rất phù hợp với sản xuất chè, tận
dụng lợi thế này, Trung Quốc xây dựng các vùng chè nguyên liệu, đa dạng hoá
các giống chè có năng suất và chất lợng cao. Xây dựng các nghiên cứu chè cả n-
ớc, xây dựng các trờng đại học và cơ sở nghiên cứu ở các tỉnh. Xuất bản các tạp
chí, sách tham khảo và phổ biến tài liệu khoa học kỹ thuật trồng và chế biến
chè. Đặc biệt Trung Quốc rất chú trọng phát triển văn hoá trà: xây dựng các nhà
bảo tàng văn hoá, biên soạn các tác phẩm về trà, tổ chức các lễ hội văn hoá trà,
trà sử, trà pháp... Điều này đã thu hút nhiều du khách và nâng cao đợc vị thế của
chè Trung Quốc trên thị trờng thế giới.
17
giống chè mới. Vờn chè có năng suất 18 tấn búp/ha phải tuân theo quy trình
bón nghiêm ngặt: N 540 kg, P
2
O
5
180 kg, K
2
O 270 kg, bón nhiều lần. Sử dụng
cơ khí nhỏ trong công tác chăm sóc.
Hầu hết các nớc sản xuất chè chính trên thế giới nh ấn Độ đều là những
nớc đang phát triển. Việc phát triển ngoài mục đích đem về cho đất nớc một
nguồn ngoại tệ lớn mà nó còn giúp thực hiện các mục đích xã hội khác. Những
nớc này mở rộng sản xuất dựa vào lực lợng lao động nông thôn dồi dào, giá
nhân công rẻ. Tuy vậy do coi trọng phát triển chè họ cũng đầu t vào công nghệ
chế biến cho năng suất cao, chất lợng tốt, từ đó nâng cao giá thành và uy tín sản
phẩm xuất khẩu trên thị trờng thế giới.
18
Ch ơng II
Thực trạng sản xuất chè ở Việt Nam
trong những năm qua
I. Trồng chè
1. Địa bàn phân bố cây chè
Hiện nay, cả nớc có 33 tỉnh trồng chè với diện tích năm 2002 là 100.061
ha chia thành 4 vùng trồng chè lớn theo bảng sau đây:
Bảng 1: Các vùng trồng chè ở Việt Nam (số liệu năm 2002)
Vùng Số tỉnh trồng chè Diện tích (ha) % so với cả nớc
Cả nớc 33 100.061 100
Vùng Trung du
Miền núi Bắc Bộ
Tỉnh Thái Nguyên: 13.358 ha.
Tỉnh Hà Giang: 12.356 ha.
Tỉnh Tuyên Quang : 4.177 ha.
Tỉnh Lào Cai: 3.545 ha.
Tỉnh Yên Bái: 11.4.7 ha.
Tỉnh Phú Thọ: 8.437 ha.
Tỉnh Lâm Đồng: 22.018 ha.
Trong 9 tỉnh trên thì có 8 tỉnh thuộc vùng Trung du Miền núi Bắc Bộ và 1
tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên. Trong đó 5/9 tỉnh có diện tích trên 10.000 ha,
Lâm Đồng là tỉnh có diện tích chè lớn nhất nớc (22.018 ha), chiếm 22% tổng
diện tích chè năm 2002.
20
2. Diện tích, năng suất, sản lợng chè cả nớc.
Chè là cây công nghiệp lâu năm phát triển không bột phát nh những cây
công nghiệp lâu năm khác nh cây cà phê, cao su, hồ tiêu, cây chè phát triển ổn
định và vững chắc. Điều này đợc thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Quá trình phát triển cây chè thời kỳ 1995-2002
Diện tích Sản lợng
Nghìn ha
Chỉ số phát
triển so với
năm trớc
Nghìn tấn
búp khô
Chỉ số phát
triển so với
năm trớc
1995 66,7 99,1 40,2 95,7
1996 74,8 112,1 46,8 116,4
1997 78,6 105,1 52,2 115,5
kinh
doanh
Năng
suất
Sản l-
ợng
Diện
tích
Diện
tích
trồng
mới
Diện
tích
kinh
doanh
Năng
suất
Sản l-
ợng
Cả nớc 89.942 5.699 71.587 4,96 355.080 100.061 10.119 77.541 4,97 385.251
Tr. đó:
9 tỉnh
trọng
điểm
72.666 4.646 58.121 5,33 309.860 90.660 8.266 62.890 5,34 355.561
Trung
du
Miền
núi Bắc
địa hình bán sơn địa: Hà Tây, Hà Nội, Ninh Bình và một số nơi khác nhng diện
tích không đáng kể. Tính đến năm 1995, tổng diện tích chè toàn vùng là 1.862
ha (chiếm 2,4% tổng diện tích cả nớc), tổng sản lợng chè búp tơi là 7.034 tấn
(chiếm 3,9% cả nớc). Đến năm 2000, tổng diện tích chè trong vùng đã tăng lên
3.588 ha chiếm 3.8% tổng diện tích cả nớc, sản lợng chè búp tơi là 9.934 tấn,
năng suất bình quân đạt 3,2 tấn/ha, trong đó chủ yếu là Hà Tây chiếm 70% diện
tích trồng chè toàn vùng.
Riêng Hải Dơng có 8 ha chè thuộc nông trờng Chí Linh, có năng suất đạt
trên 4,5 tấn/ha . Còn ở Hà Tây chè đợc trồng nhiều nhất ở Ba Vì nhng co tới
39,7% diện tích có năng suất dới 2 tấn/ha.
Vùng Duyên hải Miền Trung: Đây là một trong những vùng có lịch sử sản
xuất chè sớm nhất ở nớc ta. Đến đầu thế kỷ XX, nhiều vùng sản xuất chè đợc
hình thành ở Quảng Nam, các trung tâm chính nh: Đà Nẵng khoảng 500 ha,
Duy Xuyên 400 ha, Tam Kỳ 100 ha. Dần dần mở rộng ra các vùng khác nh
Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Trị.
Tính đến năm 1995, diện tích chè toàn vùng là 7.381 ha, đến năm 2000
diện tích đã tăng lên 8.067 ha chiếm 9% diện tích chè cả nớc, năng suất trung
bình đạt 3,75 tấn/ha. Toàn vùng có 4 nông trờng quốc doanh: Bình Định có 2
nông trờng là Hoài Ân và Vĩnh Thanh, Quảng Ngãi có nông trờng Bình Khơng
và Quảng Nam có nông trờng Quyết Thắng.
Vùng Tây Nguyên: Năm 1995 diện tích chè cả vùng đạt 15.217 ha nhng
đến năm 2000 lên tới 21.721 ha chiếm 24,2% diện tích chè cả nớc, năng suất
bình quân 6,16 tấn/ha. Đến năm 2002 diện tích chè vùng đạt 23.322 ha, năng
suất 5,85 tấn/ha, sản lợng cả năm đạt 126.168 tấn.
23
Nh vậy, so với những mục tiêu mà ngành chè đặt ra năm 1995 thì diện tích
chè cả nớc đạt 108,6% (số liệu dự kiến diện tích chè năm 2000 là 82,9 nghìn ha,
số liệu thực tế đạt 90,0 ha). Về sản lợng năm 2000 thực tế đạt 355.080 tấn chè
búp tơi, so với dự kiến của phơng án quy hoạch chè năm 1995 là 103,5% (mục
tiêu dự kiến là 342.960 tấn). Riêng vùng Trung du Miền núi Bắc Bộ so với mục
Yên Bái, các tỉnh khu 4 cũ. Tiếp đến là giống chè Shan Tuyết phân bố ở các tỉnh
vùng cao trên 500 m so với mực nớc biển nh Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Yên
Bái, Lâm Đồng. Số còn lại là chè cành đợc trồng ở vùng thấp đợc tuyển chọn
nhập nội nh PH1, TRI777, Bát Tiên, Kim Huyên, Vân Sơng, Yabukita, giống lai
LD1, LD2.
Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu chè nớc ta vẫn diễn ra chậm.
Nguyên nhân là tâm lý ngời trồng chè vẫn giữ cách trồng chè bằng hạt, vì nếu
chuyển sang cách trồng chè mới bằng cành thì chi phí đầu t cao gấp 4 lần so với
cách trồng cũ, trong khi trồng chè bằng cành đòi hỏi phải tuân theo một quy
trình nghiêm ngặt. Mặt khác, các giống chè mới đang trong giai đoạn thử
nghiệm nên cha thể phổ biến đến các vùng trong cả nớc.
3.2. Chất lợng các giống chè Việt Nam
Thực tế trồng chè cho thấy hai giống chè Trung du và Shan Tuyết là hai
nhóm giống chè chiếm tỷ trọng lớn nhất và đại diện cho hai mức địa hình, tuy
nhiên năng suất và chất lợng của hai giống chè này không cao. Giống Trung du
trồng bằng hạt lấy ngay từ nơng chè để sản xuất đại trà, không đợc chọn lọc từ
giống đầu dòng nên sinh trởng không đều, năng suất thấp, nguyên liệu không
đồng đều, chất lợng kém hơng. Giống Shan Tuyết cha đợc tuyển chọn theo quy
trình chuẩn, chất lợng kém.
Chất lợng chè ở Việt Nam đã làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm chè
Việt Nam trên thị trờng thế giới. Đây là vấn đề bức xúc đợc nhiều ngời trong và
ngoài nớc quan tâm. Chúng ta đã đi quá chậm trong việc nghiên cứu và triển
khai.
25