Không gian nghệ thuật trong một áng ca dao - Pdf 20


Không gian nghệ thuật trong một áng ca dao
Gặp lời ca dao trên có không ít người đã cho rằng tác giả dân gian vay mượn
Truyện Kiều. Đã hẳn là không có căn cứ gì nhưng theo lẽ thường ai cũng nghĩ:
Nguyễn Du là bậc thiên tài trong văn giới, vậy một câu thơ hay như thế hẵn phải là
do ông sáng tác. Điều đó thật bất công bởi chính ông, khi sáng tác ra Truyện Kiều
bất hủ, đã phải mượn một thể thơ được hoàn thiện bởi bàn tay sáng tạo tài tình của
các tác giả dân gian. Cũng thật không đúng khi đem một tác phẩm dân gian so tài
với những câu thơ của Nguyễn bởi chính ông đã từng “xăm xăm đè nẻo Lam
Kiều(2)” tham gia vào những sáng tác dân gian, tham gia vào những cuộc hát
phường vải để rồi duyên nợ với nhị nữ đất Trường lưu(3). Từ những lẽ trên khi
phân tích bài ca dao này một mặt chúng tôi muốn chỉ ra tài năng của tác giả dân
gian trong sáng tạo nghệ thuật, mặt khác để nếu có ai nghĩ rằng tác giả dân gian đã
học Nguyễn Du sẽ thấy họ là bậc “học trò” tài nghệ bởi câu ca dao đã sử dụng
không gian nghệ thuật vượt trội cả “thầy”. Đấy cũng là lý do để bạn đọc lượng thứ
cho chúng tôi bởi cái việc so sánh không nên có như trong bài viết này.

Trước tiên chúng ta hãy bắt đầu bằng không gian nghệ thuật trong câu Kiều đã
dẫn. Sau khi được Thúc ông cho làm lễ cưới, Thúc Sinh từ biệt Kiều về báo với
Hoạn Thư. Cuộc giã biệt của họ đầy quyến luyến nhưng không ít lo âu bởi “Sao
cho trong ấm thì ngoài mới êm”. Nỗi niềm đó thấm đượm cả đất trời. Vầng trăng
xưa đã từng chứng kiến những phút giây ân ái “bầu tiên chuốc rượu” nay lại chứng
kiến “người lên ngựa, kẻ chia bào”. Cả rừng phong, cả vầng trăng, cả cái không
gian vũ trụ bao la rộng lớn đó như chứa đầy nỗi buồn ly biệt. Một cuộc biệt ly
không “Chia nửa vầng trăng” cho nhau như của những người đi chiến đấu để bảo
vệ hạnh phúc cho cả dân tộc bởi quanh họ còn có cộng đồng. Cuộc biệt ly của
Kiều với chàng Thúc là cuộc biệt ly chỉ của hai người. Giữa cái không gian bao la
rộng lớn vắng lặng lạnh lẽo đến rợn người, giữa ngút ngàn trời đất “dâu xanh”

ca dao thử xem. Điều đó không thể thực hiện được bởi lẽ câu bát kề sau không
phải là sự triển khai cái không gian đã được thiết lập ở câu lục. Sang câu bát trong
lời ca dao đã chuyển sang một không gian khác - không gian trần thế: “Đường trần
ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?”

Cái khác của không gian thứ hai trong bài ca dao này không phải là ở một toạ
độ mới. Cái không gian “đường trần' mà tác giả dân gian thiết lập trong câu bát
này trần trụi giữa nhân thế nhưng lại không nhìn thấy được như không gian vũ trụ
ở câu lục của bài ca dao hay như trong câu thơ cụ Nguyễn. Không gian này chỉ
được người nghe(4) cảm nhận, cảm thấy, nó thấm thía trong gan ruột con người,
nó vô hình mà con người không thể tránh được. Cái đường trần mà ai vẽ ra để đôi
lứa càng đi càng cách xa nhau bởi hai vectơ chuyển động ngược chiều đó đã đẩy
nhanh hơn sự xa cách của đôi bạn tình. Một bức tranh không chỉ có sự chia đôi của
một vầng trăng, mà còn có sự ngược xuôi của đường đời, sự cắc cớ của mối duyên
tình. Không gian đó tưởng tĩnh mà động, không chỉ có cái hiển thị mà còn có cả
cái hàm ẩn, có cả tầng nổi lẫn tầng chìm, có gần, có xa nhưng bao trùm lên cả là
nỗi buồn ly biệt. Đưa vào đây không gian thứ hai - không gian trần thế - tác giả
dân gian đã cho ta một bức tranh khái quát hơn, sâu
hơn, thấm thía hơn về một cuộc chia ly đầy lưu
luyến.

Thêm vào nữa, nếu trong câu thơ của mình Nguyễn Du chỉ sử dụng một câu hỏi
tu từ “ai xẻ?' thì trong bài ca dao tác giả dân gian lại sử dụng thêm câu hỏi tu từ
thứ hai: “ai vẽ?”. Tác dụng của câu hỏi này một mặt nhằm nhấn mạnh thêm nhiều
lần cái nghịch lý, cái cắc cớ của cuộc đời nhưng mặt khác lại vẽ được một bức
tranh hoàn chỉnh về những thế lực đối lập với hạnh phúc của con người. Nếu trong
câu Kiều chủ thể gây chia lìa đôi lứa chỉ là đối tượng ám chỉ: là trời đất, là con
người thì ở câu ca dao, khi câu hỏi thứ hai xuất hiện chủ thể gây biệt ly cho đôi lứa
lại được xác định: đó dù là ai thì hẳn vẫn là con người. Như vậy với hai câu hỏi tu
từ tác giả dân gian đã khẳng định rằng trong cuộc đời, trời đất hay con người đều

có tới 24 chữ dành để nói không gian của cuộc chia ly, chỉ còn 4 chữ để nói tình
người, vậy mà lệ tuôn lai láng, vậy mà tình người bao la. Hỏi có nỗi buồn đau nào
lớn hơn?

Hẵn sẽ có bạn đọc cho rằng tôi suy diễn khi nói về tài năng sử dụng không gian
nghệ thuật để sáng tác thơ ca của tác giả dân gian. Dĩ nhiên khi làm ra những câu
ca dao này tác giả dân gian không hề biết tới cái gọi là thi pháp, cũng không hề
nghĩ tới việc sử dụng không gian nghệ thuật để sáng tạo văn chương nhưng nỗi
lòng của chính họ thì họ hiểu còn cảm hứng nghệ thuật là hành vi tiềm năng ở họ
thì một khi đủ trí tuệ kiểm soát được mình những cảm xúc đó có thể xuất thần trở
thành những tác phẩm nghệ thuật. Điều đó có từ lâu lắm vậy mà đến thế kỷ thứ IV
trước Công nguyên Aristôt mới chỉ ra đặc trưng thi pháp của văn chương. Vậy
nghĩa là thi pháp đã có trong sáng tạo nghệ thuật của con người, còn thi pháp học
là khoa học chúng ta mới biết từ sau Aristôt. Tác phẩm văn chương có thể có được
từ những giây phút thăng hoa của những xúc cảm thầl kỳ, nó không hẳn và càng
không nhất thiết phải là sản phẩm có ý thức của những lý thuyết sáng tạo. Cái giá
trị bất ngờ có được trong những sáng tạo nghệ thuật của quần chúng nhân dân
không có gì đáng bất ngờ chính là chỗ đó. Và điều bất ngờ còn lại chính là ở sự
khẳng định “chỉ có dân gian học tập Truyện Kiều”, dẫu Truyện Kiều luôn luôn là
một kiệt tác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status