Đề tài lý thuyết tài chính-tiền tệ: Ngân hàng thương mại doc - Pdf 20

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Đề tài lý thuyết tài chính-tiền tệ:
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
GVHD: Ths.Hoàng Thọ Phú
Nhóm NYSE –Lớp:K09404B
1-Vy Thị Trúc Linh K094040700
2-Ninh Thị Phương K094040728
3-Nguyễn Thị Xuân Quỳnh K094040737
4-Trịnh Thị Kim Thu K094040750
5-Nguyễn Minh Thư K094040754
6-Lê Nguyễn Thảo Vy K094040783
1
Bảng phân công công việc các thành viên
Tên thành viên nhóm Phân công công việc
1.Vy Thị Trúc Linh Soạn lời mở đầu,phân loại các ngân
hàng thương mại,quá trình ra đời và
phát triển ngân hàng thương mại ở
VN.
2.Ninh Thi Phương Quá trình ra đời và phát triển ngân
hàng thương mại ở VN,soạn bài
word,tổng hợp tài liệu.
3.Nguyễn Thị Xuân Quỳnh Hoạt động của ngân hàng thương
mại,thuyết trình, soạn powerpoint.
4.Trịnh Thị Kim Thu Khái niệm và bản chất của ngân hàng
thương mại,hoạt động của ngân hàng
thương mại.
5.Nguyễn Minh Thư Mô hình hoạt động cùa ngân hàng
thương mại,thuyết trình.
6.Lê Nguyễn Thảo Vy Chức năng,vai trò của ngân hàng
thương mại,chỉnh sửa powerpoint.

III.Mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại………………………………… Tr6.
IV.Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại
1.Chức năng……………………………………………………………………………………Tr6.
2.Vai trò……………………………………………………………………………………… Tr7.
V.Các hoạt động của ngân hàng thương mại……………………………………………… Tr8.
Chương II: QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
1.Khái quát thực trạng về hoạt động của hệ thống NHTM ở nước ta hiện nay………… Tr13.
2.Nhận xét khái quát………………………………………………………………………… Tr14.
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………………… Tr16.
4
Chương I:SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I.Khái niệm và bản chất của ngân hàng thương mại:
1.Khái niệm ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức
kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết
khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói
trên.
2.Bản chất của ngân hàng thương mạị:
-Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt và là môt đơn vị kinh tế kinh doanh
trong ngành dịch vụ tài chính ngân hàng.
-Hoạt động của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh, các ngân
hàng phải có:
+Vốn
+Phải tự chủ về tài chính
+Mục tiêu cuối cùng phải đạt được là lợi nhuận
-Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng
II.Phân loại ngân hàng thương mại:
1. Dựa vào hình thức sở hữu :

III.Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại:
1.Chức năng của ngân hành thương:
a.Chức năng trung gian tín dụng:
- Ngân hàng huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để
tạo lập nguồn vốn cho vay và sử dụng nguồn vốn đó cho vay đáp ứng các nhu cầu sản xuất kinh
doanh và tiêu dùng của các chủ thể khác trong nền kinh tế. Như vậy” ngân hàng vừa mua tiền lại vừa
bán tiền” phần tiền chênh lệch giữa giá “bán” và giá “mua” chính là bộ phận lớn trong lợi nhuận của
ngân hàng thương mại.
-Chức năng này có ý nghĩa giúp điều hòa vốn tiền tệ từ nơi tạo dư thừa đến nơi tạm thời thiếu
hụt làm giảm tối đa lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình vận động của
vốn tiền tệ trong xã hội. Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này sẽ là cơ sở cho sự tồn tại và
phát triển, tạo nguồn vốn để ngân hàng thương mại kinh doanh và tăng thu lợi nhuận, đồng thời là cơ
sở để ngân hàng thương mại tạo “bút tệ”.
-Đối với khách hàng gửi tiền, vừa giúp cho vốn nhàn rỗi tăng khả năng sinh lời lại vừa đảm bảo
an toàn vốn. Đối với khách hàng vay tiền, vừa kịp thời thỏa mãn nhu cầu về vốn tạm thời thiếu hụt
trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tiêu dùng, lại vừa tiết kiệm chi phí, thời gian tìm kiếm nguồn
vốn tiện lợi, an toàn và hợp pháp.
b.Chức năng trung gian thanh toán:
-Trên cơ sở những hoạt động đi vay để cho vay, NHTM (ngân hàng thương mại) đã cung cấp
các dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Thay cho việc thanh toán trực tiếp, các doanh nghiệp, cá nhân
có thể nhờ NHTM thực hiện những công việc này dựa trên những khoản tiền họ đã gửi ở ngân hàng,
thông qua việc mang tiền của người phải trả chuyển cho người được hưởng bằng nhiều hình thức
khác nhau với kỹ thuật ngày càng tiên tiến và thủ tục ngày càng đơn giản.
6
- Chức năng này có ý nghĩa với nền kinh tế vì đã tạo điều kiện thuận lợi giúp khách hàng thanh
toán nhanh chóng, hiệu quả và an toàn. Từ đó, đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
-Chức năng trên là tiến đề và cơ sở để các NHTM tạo ra tiền ghi sổ, góp phần tăng quy mô tín
dụng cho nền kinh tế, vừa tiết kiệm tiền mặt lưu thông dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ. Lại
vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch vụ ngân hàng khác phát triển. Mặt khác chức năng thanh

NHTW.
- NHTM làm cầu nối giữa NHTW với nền kinh tế để thực hiện các chính sách tiền tệ.
7
- NHTM phục vụ cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.
IV.Các nghiệp vụ của ngân hàng tương mại:
1.Nghiệp vụ tạo vốn - Nghiệp vụ nợ:
Là nghiệp vụ dùng để hình thành nguồn vốn của NHTM. Nguồn vốn của NHTM gồm: vốn
chủ sở hữu (vốn tự có), vốn huy động và vốn vay
a.Vốn chủ sở hữu:
Trước hết mỗi ngân hàng phải có một số vốn tự có làm điều kiện hình thành và duy trì hoạt
động kinh doanh của mình. Số vốn tự do này thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của
ngân hàng thương mại. Vốn tự có gồm:
-Vốn điều lệ: là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp, vốn điều lệ phải lớn
hơn hoặc bằng vốn pháp định. Vốn điều lệ phụ thuộc vào hình thức sở hữu của ngân hàng, nếu là:
ngân hàng tư nhân thì đó là vốn riêng của một doanh nghiệp đầu tư, với ngân hàng cổ phần thì vốn
điều lệ được hình thành do phát hành cổ phiếu, nếu ngân hàng quốc doanh thì toàn bộ do ngân sách
nhà nước cấp. Vốn điều lệ quy định cho một ngân hàng nhiều hay ít tùy thuọc vào quy mô và phạm vi
hoạt động của nó. Vốn này chủ yếu được dùng để mua sắm động sản và bất động sản, phát triển kỹ
thuật nghiệp vụ ngân hàng, hùn vốn liên doanh, cho vay và mua cổ phần của các tổ chức tín dụng
khác. Pháp lệnh về ngân hàng không cho phép dùng vốn điều lệ để chia lợi tức, lập quỹ phúc lợi và
khen thưởng.
- Quỹ ngân hàng bao gồm: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư và phát triển, quỹ dự
phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khác….ngoài ra còn có các quỹ không hình
thành từ lợi nhuận ngân hàng như quỹ khấu hao cơ bản tài srn cố định, quỹ khấu hao sữa chữa lớn,
các quỹ khác theo quy định của pháp luật tài chính.
b.Vốn huy động:
Là vốn thu hút được qua các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng, nguồn vốn huy động bao gồm:
- Tiền gửi ngân hàng: NHTM tập trung huy động tiền gửi của các cá nhân, doanh nghiệp,
công ty… để hình thành quỹ cho vay. Tiền gửi NHTM huy động được bao gồm:
+Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi mà người sở hữu nó có thể rút ra để sử dụng bất cứ

2.Nghiệp vụ sử dụng vốn-Nghiệp vụ Có:
a.Nghiệp vụ ngân quỹ:
Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kiếm lời. Song cần phải bảo đảm an toàn
để giữ vững được lòng tin của khách hàng. Muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết
phải bảo đảm khả năng thanh toán làm sao để đáp ứng được các nhu cầu rút tiền của khách hàng.
Muốn vậy, các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn, không sử dụng nó, để sẵn sàng đánh
ứng nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành này gọi là dự trữ.
Tiền dự trữ của ngân hàng thương mại bao gồm:
-Tiền mặt tại quỹ: bao gồm giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại, tùy thuộc vào quy mô hoạt
động của NHTM, nhu cầu thường xuyên cũng như nhu cầu thời vụ của các khoản chi tiền mặt mà
NHTM để tồn quỹ tiền mặt cho hợp lý. Tồn quỹ tiền mặt có khả năng thanh toán kịp thời nhất, nhưng
tiền này không sinh lời cho ngân hàng. Vì vậy NHTM cần phải tính toán duy trì cho hợp lý.
-Tiền gửi ở ngân hàng Trung ương: theo quy định, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản
tại ngân hàng trung ương và gửi vào đó một số tiền nhất định gồm 2 phần:
+Tiền gửi dự trữ bắt buộc:
+Tiền gửi thanh toán:
-Tiền gửi của ngân hàng thương mại tại các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác để đáp ứng nhu cầu thanh toán, chuyển tiền khác địa phương của khách hàng, số này cao hay
thấp tùy theo mức độ quan hệ với đại lý và số lượng đại lý.
-Tiền đầu tư vào các chứng phiếu có giá trị, những chứng phiếu này có thể bán ra bất cứ lúc
nào trên thị trường chứng khoán. Hoạt động này vừa tạo ra sự an toàn vừa mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng thương mại.
b.Nghiệp vụ cho vay:
Ngân hàng thương mại sử dụng phần lớn nguồn vốn của mình vào việc cho vay đối với các
doanh nghiệp và cá nhân nên còn gọi là tài sản có tín dụng. Trong nghiệp vụ sử dụng vốn thì nghiệp
vụ cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất, nên lợi nhuận của NHTM chủ yếu được sinh ra từ nghiệp vụ
này. Nghiệp vụ cho vay của NHTM chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Việc cho vay ngắn hạn giúp
9
NHTM giữ đoực khả năng thanh toán. Cho vay là nghiệp vụ hoạt động sinh lời chủ yếu của các
NHTM. Hoạt động nà rất đa dạng và phong phú.

người ta thường tìm cách để phòng ngừa, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất.
Hoạt động kinh doanh nói chung, cũng như hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng cũng
không thể tránh khỏi rủi ro.
Quá trình mở rộng kinh doanh đồng thời cũng là quá trình mở rộng rủi ro. Hoạt động kinh
doanh ngân hàng cũng không thoát khỏi quy luật này. Tuy nhiên, rủi ro trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng có những đặc điểm, bản chất riêng của nó.
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng về cơ bản có thể chia làm hai loại:
.*Rủi ro đặc thù:
Rủi ro đặc thù do bản chất của ngành hay lĩnh vực kinh doanh tạo ra. Các rủi ro này có thể được
giảm thiểu bằng cách đa dạng hóa danh mục cho vay giống như đa dạng hóa danh mục đầu tư trên thị
trường tài chính.
10
Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, rủi ro đặc thù thường bao gồm các yếu tố:
*Rủi ro về quản lý: đây là rủi ro do hoạt động sử dụng nguồn nhân lực bên trong ngân hàng
tạo ra. Rủi ro này có thể bắt nguồn từ ban quản lý ngân hàng thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức hoặc
thiếu khả năng điều hành. Nó có thể xảy ra do sự yếu kém về năng lực hay đạo đức của nhân viên
ngân hàng.
*Rủi ro cung cấp các dịch vụ tài chính hay rủi ro kinh doanh (tín dụng). Rủi ro này gòm 6 loại
chính: rủi ro về hạt động, rủi ro về sản phẩm, rủi ro về văn hóa, rủi ro về công nghệ, rủi ro đòn cân nợ
và cuối cùng là rủi ro do thiếu nỗ lực nghiên cứu và phát triển.
*Rủi ro thích ứng vốn: đây cũng là rủi ro trong quản lý vốn của ngân hàng, nó thể hiện vấn đề
ngân hàng có quy mô vốn nhỏ thường ít an toàn hơn ngân hàng có quy mô vốn lớn.
*Rủi ro tài sản thế chấp: là rủi ro do tài sản thế chấp không đủ giá trị để bù đắp thiệt hại cho
ngân hàng.
2.Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường là rủi ro không thể giảm thiểu bằng cách đa dạng hóa nên còn được gọi là rủi ro
không thể đa dạng hóa. Có thể chia rủi ro thị trường ra thành hai loại
a .Rủi ro môi trường vĩ mô:
Môi trường mà ngân hàng hoạt động đầy rẫy các rủi ro, chúng tác động đến ngân hàng bằng nhiều
cách hoặc làm suy yếu khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng hoặc gây cho ngân hàng những thiệt

đảm bảo khả năng thanh khoản nếu có sự không tương thích về thời hạn Tài sản có và tài srn nợ diễn
ra.
*Rủi ro lãi suất: là rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho
vay của ngân hàng với lãi suất phải trả cho việc đi vay dẫn đến làm giảm thu nhập của ngân hàng.
Rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất. Trong nền kinh tế lãi suất là yếu tố rất nhạy
cảm đối với biến động của nền kinh tế, hơn nữa nó là công cụ trong việc thực hiện chính sách tài
chính tiền tệ của chính phủ. Vì vậy, rủi ro lãi suất là rủi ro xuất hiện thường xuyên trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Đối với loại rủi ro này ngân hàng trung ương có thể chủ động ngăn ngừa
bằng cách ổn định mức lãi suất đầu vào và đầu ra cho phù hợp với sự chuyển biến từng thời kỳ của
nền kinh tế sao cho vừa bảo đảm các ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả, vừa có tác dụng
kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
*Rủi ro tỷ giá: kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của ngân hàng nhằm phục vụ
cho nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu hoạt động
thuận lợi.
Rủi ro tỷ giá xuất hiện do sự thay đổi tỷ giá giữa đồng tiền trong nước với đồng tiền nước
ngoài. Rủi ro này xuất hiện hầu hết trong các hoạt động kinh doanh ngân hàng, đặc biệt trong khâu đi
vay và cho vay. Khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lãi về hối đoái, tỷ giá giảm sẽ tạo ra lỗ về hối đoái. Những
điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng cũng như đối với các khách hàng của ngân hàng là
những nhà kinh doanh xuất nhập khẩu.
Đối với rủi ro này, ngân hàng có thể ngăn ngừa bằng cách thường xuyên nghiên cứu biến
động tỷ giá trên thị trường thế giới, qua đó dự đoán được hoạt động ngoại hối để dự trữ ngoại tệ thích
hợp và chủ động đo lường, giới hạn mức tình thế ngoại hối của mỗi loại ngoại tệ vào cuối ngày giao
dịch
*Rủi ro tín dụng: trước hết là một dạng rủi ro do không ăn khớp về thời hạn thanh toán sinh ra
do chu chuyển tiền tệ diễn ra không đồng thời. Sự sai biệt này xuất phát từ khách hàng vay chứ không
phải từ ngân hàng, khi người vay thanh toán không đúng hạn khoản vay theo thời hạn đã quy định.
Mặt khác rủi ro tín dụng là rủi ro về định giá vì quan hệ tín dụng là tiền tệ hóa các lời hứa hẹn, đổi
tiền mặt hiện tại lấy lời hứa hẹn và rủi ro cho ngân hàng.
Chương II: QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM:

- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống ngân
hàng Việt Nam, nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, tăng cường khả năng
13
tổng hợp, hệ thống tư duy xây dựng các văn bản pháp luật trong hệ thống ngân hàng, đáp ứng yêu cầu
hội nhập và thực hiện cam kết với hội nhập quốc tế.
- Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo động lực giúp các NHTM VN học hỏi được nhiều kinh nghiệp
trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng của các ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng trong
nước sẽ phải nâng cao trình độ quản lý, cải thiện chất lượng dịch vụ để tăng cường độ tin cậy đối với
khách hàng
-Hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng Việt Nam từng bước mở rộng hoạt động
quốc tế, nâng cao vị thế của các NHTM VN trong giao dich tài chính quốc tế
- Mở ra cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các NHTM trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, đề ra
giải pháp tăng cường giám sát và phòng ngừa rủi ro, từ đó nâng cao uy tín và vị thế của hệ thống
NHTM trong các giao dịch quốc tế. từ đó, tiếp cận các nhà đầu tư nước ngoài hợp tác kinh doanh,
tăng nguồn vốn cũng như doanh thu hoạt động
- Chính hoạt động kinh tế quốc tế cho phép các ngân hàng nước ngoài tham gia tấc cả các dịch
vụ ngân hàng tại Việt Nam buộc các NHTM VN phải chuyên môn hóa sâu hơn về nghiệp vụ ngân
hàng, quản trị tài sản nợ, quản trị tài sản có, quản trị rủi ro, cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn vốn, dịch vụ ngân hàng và phát triển các dịch vụ ngân hàng mới mà các ngân
hàng nước ngoài dự kiến sẽ áp dụng ở Việt Nam.
• Có hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp.
• Am hiểu về thị trường trong nước.
• Đội ngũ khách hàng của NHTM VN khá đông đảo.
• Chiếm thị phần lớn về hoạt động tín dụng, huy động vốn và dịch vụ.
• Đội ngũ nhân viên tận tuỵ, ham học hỏi và có khả năng tiếp cận nhanh các kiến thức, kỹ thuật
hiện đại.
• Có được sự quan tâm và hỗ trợ đặc biệt từ phía ngân hàng trung ương.
• Môi trường pháp lý thuận lợi.
• Hầu hết đều đang thực hiện hiện đại hoá ngân hàng.


cam kết cam kết quốc tế. Các ngân hàng Việt Nam đầu tư quá nhiều vào các Doanh Nghiệp Nhà
Nước, trong khi phần lớn các Doanh Nghiệp này đều có thứ bậc xếp hạng tài chính thấp và thuộc các
ngành có khả năng cạnh tranh yếu. Đây là nguy cơ tiềm tàng rất lớn đối với các NHTM. Hội nhập
kinh tế quốc tế làm tăng các giao dịch vốn và rủi ro của hệ thống Ngân Hàng, trong khi cơ chế quản
lý và hệ thống thông tin giám sát Ngân Hàng còn rất sơ khai, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
-Cấu trúc hệ thống Ngân Hàng tuy phát triển mạnh mẽ về chiều rộng nhưng còn quá cồng kềnh,
giàn trải, chưa dừa trên một mô hình tổ chức khoa học làm cho hiệu quả và chất lượng hoạt động còn
ở mức kém xa so với khu vực. Biết đào tạo và sử dụng cán bộ nhân viên còn bất cập so với nhu cầu
của nghiệp mới, đặc biệt còn coi nhẹ hoạt động nghiên cứu chiến lược và khoa học ứng dụng làm cho
khoảng cách tụt hậu và công nghệ Ngân Hàng Việt Nam còn khá xa so với khu vực.
-Nền văn minh tiền tệ của nước ta chưa thoát khỏi một nền kinh tế tiền mặt. Việc hội nhập kinh
tế quốc tế mở ra cơ hội tiếp cận và huy động nhiều nguồn vốn mới từ nước ngoài nhưng đồng thời
cũng mang đến một thách thức không nhỏ của các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam là làm thế nào
để huy động vốn hiệu quả.
Vì khi đó, Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam thua kém các Ngân Hàng Thương Mại nước ngoài
về nhiều mặt như công nghệ lạc hậu, chất lượng dịch vụ chưa cao,… sẽ ngày càng khó thu hút khách
hàng như trước. Vậy thách thức lớn nhất của hội nhập không đến từ bên ngoài mà đến từ những nhân
tố bên trong của Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam. Vấn đề cần quan tâm hàng đầu là nguồn nhân
lực và cơ chế khuyến khích làm việc tại ngân hàng hiện nay. Đồng thời, chảy máu chất xám là vấn đề
khó tránh khỏi khi mở cửa hội nhập. Do đó, các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam cần có các chính
sách tiền lương và chế độ đãi ngộ hợp lý để lôi kéo và giữ chân các nhân viên giỏi.

15
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
*Giáo trình những nguyên lý tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính(.PGS.TS.Nguyễn Văn
Luân,TS.Trần Viết Hoàng,TS.Cung Trần Việt/NXB ĐHQGTPHCM)
*Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại(PGS.TS Lê Văn Tề/NXB thống kê)
*Giáo trình ngân hàng thương mại(GS.TS Lê Văn Tư/NXB tài chính)
*Giáo trình ngân hàng thương mại(EDWard W.Reed PHD/NXB thống kê)
*Giáo tình tiền tệ ngân hàng ĐH ngân hàng TPHCM(TS Lê Thị Tuyêt Hoa/NXB thống kê)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status