Trong nền kinh tế thị trường các tổ chức ngày càng ý thức được sự cần thiết và
tính ưu việt của việc thường xuyên phát triển sản phẩm mới và dịch vụ mới, do nhu
cầu của việc người tiêu dùng đã và đang phát triển ngày càng phong phú và đa
dạng, cũng như do những sản phẩm ở giai đoạn sung mãn và suy thoái cần được
thay thế bằng những sản phẩm mới.
Nhưng vấn đề không phải bất kì một sản phẩm mới nào ngay khi mới ra thị
trường đều được khách hàng mục tiêu chấp nhận và ủng hộ rộng rãi được, để sản
phẩm mới đến tay khách hàng và được chấp nhận là cả một quá trình mà công cụ
xúc tiến đảm nhiệm – hiệu quả của nó là phải thu hút và tạo ra được thiện cảm, từ
đó gây được sự tò mò hiếu kì chủ động muốn tìm hiểu, dùng thử để đánh giá sản
phẩm.
Tại công ty liên doanh TNHH Hải Hà – Kotobuki, hoạt động nghiên cứu và
phát triển sản phẩm mới được triển khai thường xuyên và liên tục với khoảng 15
sản phẩm mới/năm. Tuy nhiên, do công ty chưa có phòng marketing nên công tác
truyền thông sản phẩm mới vẫn do phòng thị trường đảm nhận, nhưng với khuynh
hướng định hướng truyền thông sản phẩm nhiều hơn là định hướng theo khách hàng
nên hiệu quả vẫn chưa cao.
Hiệu quả chưa cao ở chỗ phần lớn khách hàng chỉ biết đến sản phẩm mới khi
đến cửa hàng và được nhân viên bán hàng giới thiệu, lại hầu như không được biết
đến qua các công cụ truyền thông.
Vấn đề đặt ra là khách hàng luôn luôn bị động trong việc tiếp nhận thông tin về
sản phẩm mới mà ít có thời gian tìm hiểu hay lên kế hoạch mua sản phẩm mới từ
trước, nên việc ra quyết định mua còn rè rặt, có khi không mua. Việc mua bán
1
thường chỉ diễn ra đối với những nhân viên bán hàng đã có mối quan hệ tốt sẵn có
với khách hàng.
Lí do chính ở chỗ công tác truyền thông sản phẩm mới còn rất hạn chế kể cả về
nguồn lực lẫn cách thức tiếp cận nên hiệu quả rất hạn chế, nên tác giả đã lựa chọn
đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đưa ra giả pháp cho hoạt động truyền thông
sản phẩm mới tại công ty liên doanh TNHH Hải Hà – Kotobuki” với mục tiêu là
nghiên cứu thực trạng hoạt động truyền thông sản phẩm mới tại công ty, nghiên cứu
thức để họ tự thể hiện bản thân, chính vì vậy người tiêu dùng ngày nay đang có xu
hướng lựa chọn “thương hiệu” thay vì chọn sản phẩm. Điều này cho thấy nếu doanh
nghiệp chỉ chú trọng vào chất lượng sản phẩm thôi chưa đủ mà họ còn cần phải xây
dựng cho sản phẩm của mình một thương hiệu có vị trí vững chắc trên thị trường.
Để làm được điều này không còn cách nào khác là doanh nghiệp phải truyền thông,
phải giao tiếp với khách hàng hiện tại và tiềm ẩn làm cho họ nhận thức được những
tính năng ưu việt, lợi ích nổi bật của sản phẩm. Ngoài ra, doanh nghiệp đưa ra các
3
hoạt động chăm sóc khách hàng để duy trì, củng cố mối quan hệ với những khách
hàng cũ và lôi kéo thêm khách hàng mới.
Một doanh nghiệp thực hiện truyền thông marketing thành công là một doanh
nghiệp luôn khiến cho khách hàng có ước muốn sử hữu sản phẩm của mình và có
khả năng thanh toán.
2. Những công cụ truyền thông marketing
2.1 Quảng cáo:
Đúng vậy, quảng cáo là tập hợp những thông điệp bán hàng nhằm thuyết phục
nhằm tác động tới sự nhận thức, thói quen và hành vi mua hàng của khách hàng
mục tiêu. Bằng những thông điệp của mình quảng cáo thu hút sự chú ý của người
xem thông qua cung cấp thông tin và một số giá trị nhằm mục đích tạo ra một phẩn
ứng nào đó từ phía người tiêu dùng, chẳng hạn như những phản ứng: chỉ có thiện
cảm với sản phẩm đó, rất thích và có ý định mua chẳng hạn, hay như không thích
và có những phàn nàn về thông tin đưa ra. Nhưng vấn đề là phàn nàn của công
chúng mục tiêu lại không trực tiếp đến với những người àm quảng cáo được vì
quảng cáo mang tính chất độc thoại – đây là hạn chế lớn nhất của quảng cáo, bằng
chứng là phần lớn các quảng cáo đều không có số điện thoai hoặc địa chỉ E-mail để
khách hàng có thể phản ánh.
Tuy nhiên không thể phủ nhận hiệu quả của hoạt động quảng cáo, hiện nay nó
vẫn là công cụ truyền thông mang tính chất chiến lược tốt nhất trong thị trường
hàng tiêu dùng để duy trì khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Chúng ta cũng biết, chi phí cho hoạt dộng quảng cáo là rất lớn. Jonh
( Thấu hiểu tiếp thị từ A đến Z – Philip Kotler )
2.2 Marketing trực tiếp:
KN: Là việc sử dụng một hoặc nhiều công cụ truyền thông marketing để ảnh
hưởng đến quyết định mua trực tiếp của khách hàngvà tạo nên các giao dịch kinh
doanh ở mọi địa điểm.
5
(Marketing căn bản – PGS.TS Trần Minh Đạo)
Marketing trực tiếp bao gồm các hoạt động như: Marketing trực tiếp qua thư,
điện thoại, catalog giới thiệu sản phẩm, kênh bán hàng trực tuyến qua internet hay
qua truyền hình.Đó những công cụ liên lạc gián tiếp nhằm thông tin cho những
khách hàng hiện có và khách hàng triển vọng. Điều này giúp cho công ty thiết lập
được mối quan hệ lâu dài với khách hàng, qua đó có thể chào hàng cho hệ thống
khách hàng để kích thích nhu cầu mua sắm của họ.
2.3 Kích thích tiêu thụ:
Là những kỹ thuật vận dụng các hình thức bán hàng khác nhau nhằm tạo nên
một chương trình thu hút khách hàng và kích thích vào sở thích mua sắm của người
tiêu dùng một cách nhanh nhất.
Kích thích tiêu thụ có 2 công cụ chủ yếu là: Khuyến mãi và khuyến mại
+ Khuyến mại ( kích thích mua hàng), áp dụng đối với khách hàng là các cá
nhân. Theo đó, chủ thể đưa ra các chương trình khuyến khích nhằm thu hút sự chú
ý và tạo ra hành động mua của khách hàng, có khi là ra quyết định ngay tại nơi
trưng bày và bán sản phẩm. Nó bao gồm: Thưởng và quà tặng, tham gia trò chơi,
quay trúng thưởng, bán kèm có bớt giá, tặng phiếu mua hàng, giảm giá theo ngày
+ Khuyến mãi: Công ty đưa ra một số ưu đãi đối với các thành viên trong kênh
phân phối nhằm thúc đẩy hoạt động bán hàng của họ, thường là những ưu đãi tác
động đến lợi ích của bản thân thành viên kênh vì họ có thể cũng là đại lý cho một tổ
chức khác, nếu nhận được ưu đãi nhiều thì họ sẽ ưu tiên trong việc trưng bày và
giới thiệu sản phẩm của công ty đến tay khách hàng.
Những công cụ khuyến mãi bao gồm: Chiết khấu, tặng thêm hàng hoá, tài trợ
lãi suất thấp, bớt tiền khi thanh toán ngay
Người gửi: Đó là các doanh nghiệp, tổ chức muốn gửi thông tin của mình
cho khách hàng mục tiêu
Mã hóa: Là tiến trình chuyển ý tưởng thành những hình thức có tính biểu
tượng ( quá trình thể hiện ý tưởng bằng một ngôn ngữ truyền thông nào đó).
Thông điệp: Là tập những biểu tượng ( nội dung tin) mà chủ thể truyền đi
Phương tiện truyền thông: Các kênh thông tin mà qua đó thông điệp được
truyền từ người gửi đến người nhận
Giải mã: Tiến trình mà theo đó người nhận xứ lí thông điệp để nhận tin và tìm
hiểu ý tưởng của chủ thể gửi tin.
Người nhận: Là đối tượng nhận thông điệp do chủ thể gửi đến, bao gồm những
công chúng mục tiêu của doanh nghiệp.
Phản ứng đáp lại: Tập hợp những phản ứng mà người nhận có được sau khi
tiếp nhận và xử lý thông điệp.
Phản hồi: Một phần sự phản ứng của người nhận được truyền thông trở lại cho
chủ thể.
Nhiễu: Tình trạng biến lệch ngoài dự kiến do do môi trường trong quá trình
truyền thông làm cho thông tin đến với người nhận không trung thực với thông điệp
gửi đi.
8
Phương tiện truyền thông
N
g
ư
ờ
i
g
ử
i
M
ậ
n
N
h
i
ễ
u
L
i
ê
n
h
ệ
n
g
ư
ợ
c
P
/
ưđ
á
p
l
9
+Thiện cảm : nếu khách hàng mục tiêu có sự hiểu biết về hàng hoá thì cảm
giác của họ như thế nào? Có những thứ bậc để đánh giá mức độ thiện cảm là: Rất
thích, Thích, Bình thường, Thờ ơ, Không thích, Rất không thích
+Ưa chuộng : mức độ thiện cảm đối với sản phẩm hay dịch vụ của doanh
nghiệp như thế nào?
+Ý định mua : khách hàng mục tiêu có thể ưa chuộng nhưng chưa tin tưởng để
ra quyết định mua? Ý định mua đã hình thành trong đầu họ. Chính vì vậy cần phải
cổ vũ bằng những lời khuyên hay những lợi ích gia tăng về kinh tế, tâm lý nhằm tác
động tới ý định mua của họ.
+Hành động mua : từ ý định mua đến hành động mua là cả 1 quá trình bị chi
phối bởi nhiều yếu tố như động cơ chưa mạnh mẽ, những trở ngại về kinh tế, thời
gian hay công sức
2.3.Soạn thảo thông điệp :
Sau khi xác định được mong muốn của người nhận tin, người truyền thông
tin cần thiết kế một thông điệp hiệu quả. Thông điệp lý tưởng phải thu hút được sự
chú ý, tạo ra được sự quan tâm, kích thích được sự mong muốn và thúc đẩy hành
động. Việc thiết kế thông điệp cần phải giải quyết 3 vấn đề: nội dung, cấu trúc và
hình thức thông điệp.
+ Nội dung thông điệp: do các chủ thể truyền thông soạn thảo hoặc chủ thể thể
hiện các ý tưởng cho các tổ chức trung gian soạn thảo. Nội dung thông điệp cần đi
vào một số hướng đề tài có tính thiết thức đối với đối tượng nhận tin như: đề cập tới
lợi ích kinh tế của người mua, đề cập tới yếu tố quyền quyết định mua, đề cập tới
lĩnh vực tình cảm, đề cập đến khía cạnh đạo đức, nhân bản.
+ Cấu trúc của thông điệp: cần phải logic và hợp lý nhằm tăng cường sự nhận
thức và tính hấp dẫn về nội dung đối với người nhận tin. Cần phải giải quyết ba vấn
đề khi xây dựng cấu trúc thông điệp:
có nên đưa kết luận dứt khoát hay không?
10
Trình bày lập luận trên một mặt “nên” và trên cả 2 mặt “nên”
Các sự kiện cũng là những phương tiện truyền thông hiệu quả, người truyền
tin có thể truyền tải thông điệp qua những hình thức phong phú như họp báo, hội
chợ, hội thảo
Mặc dù truyền thông trực tiếp thường hiệu quả hơn truyền thông đại chúng,
nhưng việc sử dụng truyền thông đại chúng vẫn là phương thức cơ bản để thúc đẩy
truyền thông trực tiếp.
2.5 Xác lập hệ thống xúc tiến hỗn hợp
Hoạt động truyền thông marketing đòi hỏi chi phí rất lớn mà không phải bất kì
một doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng để thực hiện nó, chính vì vậy công ty nên
nghiên cứu để lựa chọn công cụ nào là có hiệu quả nhất đối với công ty trong việc
truyền tải một số thông điệp hoặc có sự hỗ trợ thêm của một số công cụ xúc tiến
khác nhằm tiếp cận và tuyền tin hiệu quả nhất tới khách hàng mục tiêu.
Việc lựa chọn các phương tiện truyền thông còn phụ thuộc bản chất của từng
công cụ, cụ thể là 5 công cụ: quảng cáo,bán hàng cá nhân, xúc tiến bán, quan hệ
công chúng và marketing trực tiếp ( đã được đề cập ở trên), và các yếu tố ảnh
hưỏng đến việc lựa chọn phối hợp xúc tiến, các yếu tố đó là:
Kiểu loại hàng hoá/ thị trường: Hiệu quả của các công cụ truyền thông còn phụ
thuộc vào loại hàng hoá là đối tượng truyền thông và thị trường là nơi hoạt động
truyền thông tác động vào.Vì mỗi loại hàng hoá khác nhau nhắm vào những đối
tượng khách hàng khác nhau nên không thể tác động đến những đối tượng này cùng
thông điệp được, ví dụ như hàng tiêu dùng và hàng tư liệu sản xuất không thể sử
dụng cùng công cụ và thông điệp truyền thông được
Trong thị trường hàng tiêu dùng quảng cáo mạng lại hiệu quả cao nhất, sau đó
đến xúc tiến bán, bán hàng trực tiếp và cuôi cùng là quan hệ công chúng.Còn đối
với thị trường tư liệu sản xuất thì bán hàng trực tiếp và marketing trực tiếp là hiệu
12
quả nhất, sau đó đến kích thích tiêu thụ tiếp theo là quảng cáo và cuối cùng là quan
hệ công chúng.
Xác định chiến lược kéo hay đẩy:
Chiến lược đẩy: Yêu cầu phải sử dụng nhân viên bán hàng và khuyến khích
cho hoạt động truyền thông theo 4 phương pháp sau:
Phương pháp dựa trên tỉ lệ % doanh số bán: Xác định 1 tỉ lệ % nhất định trên
doanh số bán dự kiến, các doanh nghiệp thường lấy doanh số bán của năm hoặc chu
kì kinh doanh trước liền kề để áp đặt tỉ lệ.
Phương pháp cân bằng cạnh tranh: Xác định dựa trên mức ngân sách chi cho
hoạt động truyền thông của đối thủ cạnh tranh trong khu vực và trong chu kì kinh
doanh.
Phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ phải hoàn thành: Đòi hỏi những
ngời làm marketing phải xây dựng ngân sách cho hoạt động truyền thông trên cơ sở
xác định mục tiêu cụ thể và nhiệm vụ cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu đó.
Sau đó phải tính toán chi phí để thực hiện mục tiêu đó.
Đối với phương pháp này đòi hỏi ngân sách dự toán cần nằm trong khuôn khổ
ngân sách dành cho hoạt động truyền của công ty.
Phương pháp căn cứ theo khả năng: Tuỳ thuộc vào khả năng của công ty mà
quyết định chi cho ngân sách của hoạt động truyền thông.
Phương pháp này không tính đến sự tác động của truyền thông đối với lượng
hàng hoá tiêu thụ, tới doanh số bán ra. Vì thế ngân sách này không ổn định hàng
năm và gây trở ngại cho việc hình thành chiến lược dài hạn về thị trường của
doanh nghiệp.
2.7 Đo lường và đánh giá hiệu quả truyền thông marketing
Sau khi thực hiện kế hoạch xúc tiến hỗn hợp, người làm công tác truyền thông
marketing cần phải đo lường tác dụng của nó tới công chúng mục tiêu. Việc này đòi
hỏi phải khảo sát công chúng mục tiêu xem họ có nhận thấy hay ghi nhớ thông điệp
đó không, họ đã nhìn thấy nó bao nhiêu lần, họ ghi nhớ được những điểm nào, họ
cảm thấy như thế nào về thông điệp đó, thái độ trước kia và hiện tại của họ đối với
sản phẩm đó và đối với công ty. Ngoài ra, người làm truyền thông marketing cũng
14
phải thu thập những số đo hành vi phản ứng đáp lại của công chúng, như có bao
nhiêu người đã mua sản phẩm, thích nó và nói chuyện với những người khác về nó.
III. Ảnh hưởng của môi trường tới các quyết định xúc tiến hỗn hợp
người trong xã hội. Những niềm tin này được truyền từ thế hệ này sang thế ghệ
khác và được các định chế xã hội củng cố thêm. Việt Nam là một đất nước có bề
dày lịch sử và có truyền thống văn hóa lâu đời. Những nét văn hóa truyền thống
được truyền lại và vẫn được hầu hết mọi người dân Việt Nam gìn giữ như: đạo lý
làm người, đạo hiếu giữa con cái và cha mẹ, mối quan hệ thuận hòa giữ người và
người…
Khi xây dựng những thông điệp truyền thông cho thị trường Việt Nam, nếu
như người làm truyền thông marketing không chú ý tới những giá trị văn hóa – xã
hội của Việt Nam thì sẽ rất dễ bị đông đảo công chúng mục tiêu đào thải và rõ ràng,
việc chiến dịch truyền thông đó thất bài là điều dễ hiểu.
Ngòai ra, có những giá trị văn hóa thứ yếu và biến đổi theo thời gian, ví dụ như
phong trào ăn mặc thời trang hip hop mới được thịnh hành vài năm trở lại đây. Đây
chính là cơ hội cho những người làm truyền thông marketing, nếu nắm bắt hoặc dự
đoán được những thay đổi này thì hiệu quả của truyền thông sẽ được tăng lên rất
nhiều.
3. Môi trường chính trị - luật pháp
Những quyết định truyền thông marketing cũng chịu tác động mạnh mẽ của
những diễn biến trong môi trường chính trị - luật pháp. Những thể chế của Nhà
nước, các quy định của pháp luật bắt buộc tất cả những hoạt động truyền thông
marketing phải tuân theo.
Theo nhận xét của Bộ Công nghiệp, môi trường pháp lý ở nước ta được đánh
giá là vẫn còn nhiều bất cập như các thể chế kinh tế thị trường chưa được xây dựng
hoàn chỉnh và đồng bộ, nhiều bộ luật cơ bản như luật cạnh tranh và kiểm soát độc
quyền…. chậm được ban hành, chưa đủ minh bạch, thiếu sự ổn định cần thiết, tính
16
nhất quán chưa cao và khó tiên liệu trước. Đặc biệt là còn nhiều văn bản Quy phạm
pháp luật được xây dựng và ban hành chưa sát hợp với điều kiện và đòi hỏi của
thực tiễn.
Tuy vậy, trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều cố gắng
trong việc thay đổi những quy định pháp lý trong kinh doanh theo hướng có lợi cho
Do hoạt động nghiên cứu như vậy không nên không nắm rõ được tâm lí, thu
nhập, cá tính, nhóm ảnh hưởng đến hành vi mua của người tiêu dùng nên không
nhận rõ được đối tượng khách hàng mục tiêu của mình là ai ? Mà chỉ đưa ra nhóm
khách hàng mục tiêu là những người có mức thu nhập từ trung bình khá mà không
hề có đặc điểm gì về hành vi, sở thích của họ.
Vấn đề là ở chỗ việc xác định rõ đối tượng mục tiêu ảnh hưởng quan trọng tới
phương thức hoạt động, soạn thảo nội dung thông điệp, lựa chọn phương tiện
truyền tin tức là ảnh hưởng đến việc sẽ phải truyền thông cái gì, như thế nào, khi
nào, ở đâu và truyền thông cho ai.
Sau đây là các giai đoạn trong quá trình truyền thông sản phẩm mới của công
ty.
Giai đoạn 2: Xác định mục tiêu
Giai đoạn3: Xây dựng thông điệp
Trên thực tế công ty không sử dụng bước này, vì hầu hết các sản phẩm mới
đều không được thiết kế một slogan riêng nên không có một thông điệp rõ ràng để
truyền tải đến khách hàng mà tất cả sản phẩm mới đều được truyền thông dưới một
khẩu hiệu chung của công ty.
Điều này có thể được hiểu vì lí do là hàng năm công ty có khoảng 15 sản phẩm
mới nên công ty không có đủ nguồn lực để xây dựng một thông điệp riêng cho mỗi
sản phẩm mới.
Giai đoạn 4: Lựa chọn phương tiện truyền tin
18
Đối với bất cứ chủ thể truyền thông nào thì mục tiêu sau cùng cũng là tạo ra
hành động mua hàng của người nhận tin. Vì vậy lựa chọn kênh truyền thông có hiệu
quả nhằm truyền tải được những thông điệp của mình tới công chúng nhận tin một
cách hiệu quả nhất. Thông thường có 2 loại kênh truyền thông là trực tiếp và gián
tiếp nhưng tại công ty chỉ sử dụng kênh truyền thông trực tiếp là chủ yếu.
Các công cụ truyền thông thường được sử dụng nhất là truyền hình, báo, tờ
rơi,hệ thống các cửa hàng bán và giời thiệu sản phẩm cả công ty.
Cụ thể:
làm hai loại là sản phẩm mới theo mùa vụ và sản phẩm mới không theo mùa vụ.
Những thời điểm được coi là mùa vụ đối với công ty là Tết, Trung thu, ngày lễ
Valentine Đặc điểm của các sản phẩm mới theo mùa vụ thường là những sản
phẩm mang tính chất truyền thống có những quy chuẩn mà bất kỳ công ty nào cũng
phải tuân theo ví dụ như mứt tết bao gồm các loai mứt như mứt dừa, mứt bí, mứt
lạc Màu đỏ gần như là cố hữu trong tâm linh người tiêu dùng tượng trưng cho sự
an khang phú quý mà không công ty nào dám phá cách làm hộp mứt màu vàng hay
bất cứ màu nào khác ,Tuy nhiên, tuỳ theo từng năm mà công ty thay đổi mẫu mã,
bao bì hay gia giảm thành phần phục vụ sát với nhu cầu của khách hàng theo từng
thời kỳ.
Còn đối với sản phẩm mới không mang tính chât mùa vụ thì có 2 loại là sản
phẩm mới hoàn toàn và sản phẩm chỉ có bao bì mới còn chất lượng bên trong không
thay đổi. Đối với sản phẩm mới hoàn toàn thì nó được sản xuất từ những đề xuất
của các nhân viên phòng thị trường của công ty, sau khi thăm dò thị trường thu thập
các ý kiến của khách hàng kết hợp với phòng kỹ thuật lên kế hoạch đưa ra sản phẩm
mới phù hợp với nhu cầu của khách hàng nhất.
Đặc điểm tiêu thụ của những loại sản phẩm mới này cũng rất khác nhau. Đối
với sản phẩm mới theo mùa vụ thì có sức tiêu thụ mạnh, hầu hết công chúng đều có
20
nhu cầu, số lượng/ mỗi lần mua thường lớn vì phải mua cho cả nhu cầu tiêu dùng
cho gia đình hay biếu tặng nên sản lượng bán ra thường rất lớn, đem lại doanh thu
và lợi nhuận nhanh chóng.
Còn đối với sản phẩm không theo mùa vụ thì sức tiêu thụ rất chậm, chưa kể có
rất nhiều đối thủ cạnh tranh. Việc truyền thông sản phẩm mới phải thu hút được sự
chú ý, tò mò dẫn đến hành động mua.
Chính vì vậy mà công ty đã chủ động đưa ra cách thức truyền thông các sản
phẩm mới này hơi khác nhau, cụ thể là việc sử dụng các công cụ truyền thông khác
nhau.
Trong thị trường hàng tiêu dùng, cụ thể là bánh kẹo thì quảng cáo mang lại
hiệu quả cao nhất, sau đến xúc tiến bán, bán hàng trực tiếp và cuối cùng là quan hệ
phẩm mới cũng như chính sách đãi ngộ của công ty trong việc tiêu thụ đối với các
sản phẩm mới này. Chính sách đãi ngộ chỉ áp dụng đối với các đại lý và nhà phân
phối của công ty, cụ thể các loại bánh cookies thì chiết khấu 3%, 5% và 10% trừ
tiền trực tiếp trên hoá đơn,mua 10 thùng tặng 1 thùng. Các loại kẹo cứng thì 3 -5%,
kẹo Lolipop thì 5%, kẹo cao su khoảng 4%, Socola 5%, 10%, hỗ trợ vận chuyển và
hỗ trợ tiêu thụ, thưởng doanh thu theo luỹ tiến nếu đạt từ mức khoản trở lên. Ngoài
ra công ty các đại lý và nhà phân phối còn được trừ 0.9% trực tiếp trên hoá đơn nếu
thanh toán ngay đơn hàng.
Nói chung công ty có mối quan hệ với các đại lý, nhà phân phối rất tốt, vì đây
là cơ sở để họ ưu tiên trong việc trưng bày và giới thiệu sản phẩm đến khách hàng.
Giai đoạn 6: Phân bổ ngân sách
Trên thực tế công ty chưa xác định cụ thể ngân sách giành cho hoạt động
truyền thông marketing sản phẩm mới, các chi phí phát sinh cho hoạt động được
tình vào các khoản giảm trừ doanh thu, mục tiêu của công ty là giảm tối thiểu chi
phí càng tốt nên hiệu quả hoạt động truyền thông còn chưa cao.
Giai đoạn 7: Đo lường và đánh giá hiệu quả của hoạt động truyền thông.
22
2. So sánh với hoạt động truyền thông sản phẩm mới của một số đối thủ cạnh
tranh chính của công ty như: công ty cổ phần Kinh Đô, Hải Hà, Hải Châu
Công ty
Chỉ tiêu
Hải Hà -
Kotobuki
Hải Châu Kinh Đô Hải Hà
Định vị
sản phẩm
mới
-Chất lượng tốt
-Giá cao hơn
các đối thủ khác
mình.
-Tầng lớp dân cư
có thu nhập trung
bình trở lên
Phương
tiện truyền
thông
- Truyền
hình(chỉ áp
dụng cho một số
sản phẩm)
- Báo
- Hệ thống cửa
hàng bán & giới
thiệu sản phẩm,
các đại lý, nhà
- Truyền hình
- Báo chí
- Phương tiện
quảng cáo
ngoài trời
-Truyền hình
- Báo
-Phương tiện
quảngcáo ngoài
trời
-Hệ hống cửa
hàng bán & giới
thiệu sản
phẩm,các đại lý,
chương đã đạt
được
- Kích thích
tiêu thụ
Quảng cáo trên
truyền hình, kết
hợp với báo chí
và pano apphích
rất có hiệu quả
- Các sự kiện
- Giải đáp thắc
mắc của KH
qua thư điện tử
-Quảng cáo trên
truyền hình với
tần xuất thấp.
-Sử dụng PT QC
ngoài trời rất có
hiệu quả
-Kích thích tiêu
thụ: tặng hàng
mẫu ăn thử
Ngân sách Không xác định Xác định dựa
trên
Xác định dựa
trên doanh thu
Không xác định
Hiệu quả Mức độ nhận
biết và nhớ đến
của khách hàng
trường hợp bánh cookies phủ sôcôla NIDRE - một sản phẩm mới nhất của công ty.
3.1 Thực trạng truyền thông bánh cookies NIDRE
- Xác định vị thế của Nidre và khách hàng mục tiêu:
Bánh Nidre thuộc dòng bánh cookies của công ty, bánh cookies là sản phẩm
cạnh tranh của các loại bánh quy bơ của các công ty khác như Hải Hà, Hải Châu,
Bibica mà đối thủ cạnh tranh chính là bánh cookies của Kinh Đô,…Bánh cookies
phủ socola là một loại bánh khá cao cấp, nhắm vào đối tượng có mức thu nhập từ
khá trở lên, nhằm thay thế cho bánh cookies phủ socola ngoại nhập mà giá thành lại
rất cao
Có một lợ thế cho Nidre là công ty Kinh Đô chưa cho ra mắt thị trường sản
phẩm cùng loại với sản phẩm này.
- Xác định thông điệp truyền thông:
Trên thực tế chỉ là mong muốn của công ty nhằm mở rộng thêm chủng loại sản
phẩm mới, thâm nhập sâu vào thị trường và thay thế hàng ngoại nhập bằng hàng
sản xuất trong nước nhưng hoàn toàn trên dây truyền Nhật Bản, giúp khách hàng
tận hưởng hương vị bánh cookies phủ socola.
- Lựa chọn phương tiện truyền thông:
Truyền hình
Báo Thương mại
Hệ thống cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của công ty
Các đại lý, nhà phân phối của công ty
- Quyết định hệ thống truyền thông marketing:
25