CỐ ĐỊNH MÃNH GHÉP Ở XƯƠNG ĐÙI TRONG TÁI TẠO
DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC BẰNG ỐC SIGN CẢI BIÊN Tóm tắt
Mở đầuKỹ thuật cố định mãnh ghép gân ở xương đùi trong tái tạo ây
chằng chéo trước đang phổ biến hiện nay là cố định ngang với ốc ngang. Ốc
SIGN và ốc ngang có hình dạng bên ngoài gần giống nhau nếu ốc SIGN
được mài trơn láng ở đầu ren chìm. Với một số cải biên trong kỹ thuật chúng
tôi đã đưa được ốc SIGN vào khe giữa mãnh gân ghép.
Mục tiêu Ốc SIGN có thể thay ốc ngang nếu nó thỏa mãn về tính chịu
lực và kỹ thuật đưa ốc không làm tổn hại đến mãnh ghép.
Phương pháp nghiên cứu Chúng tôi đo giới hạn bền của ốc SIGN từ
đó tính được khả năng chịu lực của nó. Chúng tôi cũng thực hiện kỹ thuật tái
tạo dây chằng chéo trước trên bò (phần cố định mãnh ghép ở xương đùi) rồi
lấy phần gân tiếp xúc vói ốc quan sát vi thể. Chúng tôi chọn ốc ngang của
hãng Stryker làm đối tượng đối chứng về giải phẫu bệnh lý.
Kết quả trên 5 mẫu ốc SIGN giới hạn bền thay đổi rất ít, trung bình
1078, 6N/mm. Không có sự khác nhau rõ rệt các thương tổn trên 20 mẫu gân
quan sát được của cả 2 nhóm. Chúng tôi đã dùng ốc SIGN cho 6 bệnh nhân
đứt dây chằng chéo trước với triệu chứng lâm sàng, MRI và tổn thương quan
sát được qua nội soi điển hình. Kết quả về cảm giác chủ quan của bệnh và
điểm số Lysholm cho thấy có sự cải thiện chức năng rõ rệt.
Kết luận Ốc SIGN có khả năng thay thế ốc ngang trong tái tạo dây
chằng chéo trước khớp gối. Kỹ thuật dùng ốc SIGN đáng được nghiên cứu
với số lượng lớn hơn vì với ốc SIGN chi phí phẫu thuật chắc chắn sẽ giảm
đáng kể.
ABSTRACT
Background The popular technique in anterior cruciate ligament
reconstruction at the femoral site is now transfix with crosspin. The external
appearance of SIGN screw and crosspin is nearly similar if the small thread
(2 6)
.
Kỹ thuật “Transfix” (cố định ngang) với ốc ngang (cross pin) bắt xuyên
qua khe giữa mảnh gân ghép chập đôi được nhiều phẫu thuật viên chọn lựa nhờ
đặc tính chịu lực và cố định tốt mảnh ghép
(1,6)
. Tuy hình dáng kích thước có thể
khác nhau nhưng các ốc có đặc điểm thân trơn láng, rỗng ruột, một đầu có ren
hoặc gai bám chặc vào xương xốp, đầu còn lại thuôn nhỏ nên theo que hoặc
dây dẫn đường chui qua khe giữa gân dễ dàng.
Ốc SIGN chốt hai đầu đinh nội tủy dùng trong gãy thân xương chày
và đùi có hình dáng tương tự như ốc ngang với 2 đầu có ren (một ren nổi,
một ren chìm) và không rỗng ruột. Nếu làm đầu có ren chìm của ốc SIGN
trở nên thuôn nhỏ trơn láng và tìm cách đưa ốc vào khe giữa mãnh gân ghép
thì ốc SIGN cải biên này có thể thay thế được ốc ngang hay không?
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tính khả thi của việc sử dụng ốc SIGN (có cải biên) trong cố
định mảnh ghép tái tạo dây chằng chéo trước.
Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang. Chúng tôi tiến hành thực nghiệm và từng bước ứng
dụng vào lâm sàng.
Thực nghiệm
Khảo sát tính chịu lực của ốc SIGN
Các thông số cơ học của ốc SIGN được khảo sát bằng máy Autograph
50Ake (Nhật), cấp tải 20000N tại Trung Tâm nghiên cứu ứng dụng công
nghệ xây dựng thuộc trường đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh
Qua các thông số này chúng tôi sẽ tính lực lớn nhất mà ốc SIGN có
thể chịu được.
Khảo sát sang thương giải phẫu
Do ốc SIGN cải biên tạo ra trên gân bò. Chúng tôi chọn ốc ngang của
và phần chỉ soie chập đôi rồi chập đôi gân lại. Kéo phần đuôi chỉ soie và
căng dây kéo gân để gân đi vào đường hầm (h1c). Chú ý tránh gân bị
xoay khi di chuyển.
Mở kim dẫn đường ra khỏi đầu trong của dây kéo gân rồi gắn lại ở
đầu ngoài. Kéo dây ngược lại để kim dẫn đi vào rãnh giữa gân và xuyên đến
vỏ xương bên trong (h1d). Mở dây kéo gân ra khỏi kim dẫn.
Bắt ốc ngang Stryker theo kim dẫn từ ngòai vào trong.
Trường hợp sử dụng ốc SIGN cải biên phải dùng ống cái luồn theo
kim dẫn từ vỏ xương trong ra vỏ ngòai (hình 1e). Rút kim dẫn. Cho đầu
nhọn của ốc SIGN chui vào lòng ống cái rồi đẩy dần ống cái trở lại vào
trong (h1f, g). Như vậy ốc SIGN đã chui vào khe giữa gân.
Tháo ốc ngang. Lấy đoạn gân nơi ốc đi ngang qua làm giải phẫu bệnh
lý (phương pháp mù đơn). Các thương tổn trên gân được định lượng bằng
diện tích thương tổn trên đoạn gân quan sát.
Ứng dụng lâm sàng
Bệnh nhân đứt dây chằng chéo trước đã được chẩn đoán xác định dựa
trên triệu chứng lâm sàng và kết quả MRI, có biên độ gấp duỗi gối bình thường
hoặc gần bình thường. Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu. Chúng tôi tái
tạo dây chằng chéo trước qua nội soi, sử dụng mảnh ghép là gân cơ bán gân và
cơ thon tự thân chập đôi. Kỹ thuật tái tạo tương tự như thực nghiệm. Để cố
định mảnh ghép ở đường hầm xương chày chúng tôi sử dụng ốc đường hầm có
tăng cường 1 staple không gai.
Sau tái tạo bệnh nhân lập luyện theo một chương trình phục hồi chức
năng: tuần 1 lấy lại tầm họat động khớp, tuần 2-3 tập đi với nẹp gối có trợ
giúp, tăng cường sức cơ, tuần 4 bỏ nạng, tập đi và thăng bằng, tập tăng tiến
dần sức cơ và tầm hoạt động khớp. Chú ý tập duỗi hoàn toàn (nằm sấp với
chân đau không được nâng đỡ, ngồi với gót tựa lên ghế, gối để hổng ).
Đánh giá kết quả bằng thang điểm Lysholm (rất tốt 84-100đ, trung
bình: 65-83đ, xấu<65 đ) và so sánh thăm khám lâm sàng trước và sau mổ.
Kết quả
2
>0,
5cm
2
Stryker
4 6 3 7 8 2
SIGN 5 5 3 7 7 3
Không có sự khác biệt rõ rệt trên các mẫu thử của cả hai nhóm.
Kết quả ứng dụng lâm sàng
Có 6 bệnh nhân. Tuổi đều dưới 45. Nguyên nhân 3 do té ngã khi chơi
đá banh, 3 do tai nạn giao thông. Thời gian từ lúc tai nạn đến lúc phẫu thuât
từ 6 tháng - 2 năm. Các bệnh nhân đều có dấu hiệu mất vững như đi sụm
gối, lên xuống cầu thang khó khăn, không chạy bộ, cảm giác lỏng lẻo gối khi
đi. Thời gian theo dõi từ 4-6 tháng. 6 bệnh nhân đều có dấu hiệu ngăn kéo
trước và Lachmann 2+. Điểm số Lysholm: một trường hợp 35, một 40, một
50, một 53, một 54, một 75. Thăm khám qua nội soi có 2 trường hợp phối
hợp với rách sụn chêm trong. Vị trí đứt của dây chằng chéo ở giữa hoặc chỗ
bám vào lồi cầu. Mặt sụn khớp chưa bị tổn thương. 3 trường hợp hoạt mạc
sung huyết. Đường kính đường hầm: 2 trường hợp 7mm, 4 trường hợp 8mm.
6 ốc SIGN cải biên được sử dụng dài 5cm
Kết quả chức năng
2 trường hợp có dấu Lachmann nhẹ, đều có cảm giác chắc ở cuối thì
làm tét. Không còn cảm giác lỏng khớp, sụm gối. 2 trường hợp có thể chơi
bóng chuyền và cầu lông như trước khi tai nạn. Điểm số Lysholm: một
trường hợp 78, một 83, các trường hợp còn lại đều #84.
Biến chứng
1 trường hợp giảm cảm giác nông ở mặt trước trong.
P: trọng lượng vật treo
l: chiều dài thanh kim lọai được gói hạn bởi 2 gối tức là l=D
Từ (III) ð M=M2= (P×D)/4 (IV)
W= (p×d
3
)/32 (V)
Từ (II), (IV) và (V) ðd = ((P×D)/4) / ((p×d
3
)/32)
Từ (I)ð ((P×D/4) / ((p×d
3
)/32)# dth
P# (4×p ×d
3
×dth)/ (32D)
Ốc SIGN có dth=1078, 6N/mm
2
d= 4, 5mm
D=Đường hầm xương đường kính 8mm
P# 4824, 68N
Như vậy ốc SIGN có khả năng chịu lực tối đa đến 4824,68N. Con số
này càng lớn nếu đường kính D đường hầm càng nhỏ.
So sánh khả năng chịu lực tối đa của dây chằng chéo và gân
ghép
(1,2,4)
Dây chằng chéo bình thường: 2160N
Gân cơ bán gân (hoặc cơ thon) chập 4: 4.090 N
Như vậy gân ghép sẽ bị đứt trước khi ốc SIGN bị hỏng.
sánh tổn thương mảnh ghép khi sử dụng ốc SIGN và ốc ngang của hãng
Stryker do có kích thước tương đương nhau.
Quan sát vi thể cho thấy cả hai đều có những sang thương: phù nề,
dập, đứt, nhưng không thấy có sự khác biệt về mức độ cũng như diện tích.
Người đọc kết quả và nhận xét hoàn toàn không biết mẫu bệnh phẩm do ốc
nào gây ra, do vậy đảm bảo được tính khách quan.
Tìm hiểu trong y văn thế giới chúng tôi nhận thấy các tác giả dường
như chỉ quan tâm đến việc các dụng cụ cố định có cắt đứt mảnh ghép hay
không. Ống luồn cái tự chế từ vỏ của lưỡi cạo (shaver) có mép ống đã được
làm tù nên giảm được sự cắt đứt các thớ sợi của gân ghép.
Tuy nhiên chúng tôi chưa có bảng phân độ rõ ràng các thương tổn này
nên gặp khó khăn trong cách đánh giá thật chính xác và khách quan.
Kết quả lâm sàng
Tuy số bệnh còn ít, thời gian theo dõi chưa đủ dài nhưng kết quả bước
đầu thật đáng khích lệ. Các bệnh nhân đều có điểm số Lysholm tăng, cải
thiện chức năng đi lại rõ rệt. 2 bệnh nhân có thể chơi được môn thể thao có
tính chất tranh đua sau 4 tháng. Đó là một bằng chứng cho thấy nhiều khả
năng ốc SIGN đã làm tròn nhiệm vụ cố định mãnh ghép, tạo điều kiện cho
mảnh ghép dính vào xương và được tu chỉnh dần.
Triển vọng của ốc SIGN
Số lượng bịnh nhân đứt dây chằng chéo ngày một tăng dần. Điều đó
đồng nghĩa với tổng chi phí dành cho điều trị sẽ tăng theo. Bác sĩ chỉnh hình
phải cân bằng giữa chi phí và hiệu quả điều trị. Khác với nước ngòai chi phí
điều trị tăng cao chủ yếu do thời gian mổ và thời gian nằm viện (5), chi phí
điều trị đứt dây chằng chéo ở nước ta cao do giá thành các dụng cụ không rẻ.
Nếu ốc SIGN thay thế được ốc ngang thì chi phí điều trị sẽ giảm đáng kể vì
ốc SIGN có giá thành thấp hơn ốc ngang gần 20 lần. Nếu nhân số chi phí
giảm đi với số lượng bịnh nhân hàng năm chúng ta chắc chắn sẽ được một
con số không nhỏ.
Do làm thực nghiệm trên bò nên chúng tôi không thể sử dụng khung