Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
Trong cuộc sống xã hội hiện đại, nét truyền thống văn hoá, tinh hoa, đậm đà
bản sắc dân tộc kết hợp với hiện đại luôn là ý tưởng cho nhiều lĩnh vực kinh doanh.
Những ý tưởng ấy tạo ra nhiều sản phẩm tiêu dùng khác nhau, trong đó phải kể tới
ngành thủ công mỹ nghệ với các sản phẩm: mây tre đan, gốm sứ, thêu ren, đồ gỗ…
Từ trong rừng sâu, những sợi mây, sợi song được xử lí qua nhiều công đoạn làm
thành các sản phẩm thủ công khác nhau, tạo nên nét đẹp đặc trưng của Việt Nam.
Cuộc sống của người Việt đã gắn liền với đồ mây tre đan từ rất lâu, nó có vai trò
quan trọng. Các vật dụng cần thiết như rổ, rá, chiếc gối, chiếc vali mây… đến vật
dụng lớn hơn để làm nhà, bàn ghế, tủ đều có sự đóng góp của loại vật liệu này.
Hiện nay ngành mây tre đan của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều cơ hội,
thách thức khi gia nhập WTO. Muốn tồn tại và phát triển trong “sân chơi” đó đòi hỏi
các doanh nghiệp chúng ta phải có đủ tiềm lực và vị thế trên thương trường.
Mặc dù đã có khá nhiều ý kiến xung quanh vấn đề phát triển ngành mây tre đan
Việt Nam nhưng cho đến nay vẫn còn khá nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp thuyết
phục, như tiềm năng phát triển của ngành mây tre đan là như thế nào, khả năng cạnh
tranh của ngành mây tre đan trong nước lớn đến đâu, những rào cản phát triển của
ngành là gì và ngành mây tre đan Việt Nam nên phát triển như thế nào.
Nhằm góp phần tìm hiểu về ngành mây tre đan trong bối cảnh Việt Nam vừa
chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã
thực hiện đề tài nghiên cứu: “Ngành mây tre đan Việt Nam trong bối cảnh đẩy
mạnh hội nhập quốc tế”.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NỘI DUNG
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHÊN CỨU
Vấn đề nghiên cứu: Tổng quan về ngành mây tre đan, điều kiện thuận lợi, khó khăn,
cơ hội thách thức, tiềm năng ngành
Phạm vi nghiên cứu: Toàn ngành mây tre đan Việt Nam.
2. Công ty mây tre đan Ngọc Động_Duy Tiên_Hà Nam.
Giám đốc: Nguyễn Xuân Mai.
3.Cơ sở sản xuất mây tre đan Du Dương_Thượng Hiền_Thái Bình .
Chủ cơ sở sản xuất: Phạm Văn Du.
4.Cơ sở trồng mây Thượng Hiền_Thái Bình.
Chủ cơ sở: Phạm Bá Vang, Phạm Bá Vinh.
Dữ liệu thu thập được từ các nghiên cứu tình huống trên đây bao gồm đánh giá
của các chủ cơ sở sản xuất về thực trạng ngành mây tre đan của cơ sở sản xuất cũng
như trong toàn ngành mây tre đan hiện nay, đánh giá chủ quan của các chủ cơ sở về
xu hướng phát triển của ngành mây tre đan Việt Nam, đồng thời đưa ra một số kiến
nghị. Dữ liệu này được sử dụng kết hợp với dữ liệu thứ cấp trên đây nhằm làm rõ
hơn các kết luận rút ra từ phân tích dữ liệu thứ cấp.
3. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Lịch sử phát triển ngành mây tre đan Việt Nam
Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam có truyền thống hàng trăm ngàn năm, gắn
liền với tên nhiều làng nghề, phố nghề được biểu hiện qua nhiều sản phẩm độc đáo
tinh xảo và hoàn mỹ. Việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng được thực hiện
từ rất sớm. Khi đó các sản phẩm chỉ bao gồm: gốm, đồ gỗ, mây tre, tơ lụa... Qua
nhiều thế kỉ các phường thợ làng nghề truyền thống đã trải qua nhiều bước thăng
trầm, một số làng nghề bị suy vong (giấy sắc,dệt quai thao...), nhưng bên cạnh đó
cũng có mốt số làng nghề mới xuất hiện và phát triển. Hiện nay cả nước có 52 nhóm
nghề với 1451 làng nghề trên 100 năm với những sản phẩm từ lâu đã có tiếng tăm
như thổ cẩm (dân tộc Mông - Lào Cai), chạm khắc gỗ (Bắc Ninh), đúc đồng (Quảng
Ngãi)...[11].
Nghề mây tre đan được hình thành vào cuối thế kỉ 19. Trải qua hơn 100 năm
tồn tại và phát triển với bao biến cố thăng trầm nghề mây tre đan đang ngày càng
khởi sắc, đời sống của người dân làng nghề từng bước được cải thiện bằng chính
nghề truyền thống của mình. Mây tre đan là một trong những mặt hàng thủ công mỹ
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên... Nguyên liệu và công cụ để sản xuất hàng
mây tre đan rất đơn giản rẻ tiền dễ kiếm vì có rất nhiều ở Việt Nam đó là tre, nứa,
mây, song, guột và giang. Nguyên vật liệu phụ là bột diêm sinh để bảo quản sản
phẩm. Một số cơ sở sản xuất nhỏ thì người dân sử dụng các hóa chất, chất tẩy rửa,
bột diêm sinh để tẩy rửa và bảo quản sản phẩm không có quy trình kĩ thuật sử dụng
nên gây ô nhiễm môi trường và gây độc hại cho người trong nghề. Người dân mới
chỉ quan tâm tới các biện pháp sao cho sản phẩm được tốt nhất chứ chưa quan tâm
tới sức khỏe của chính mình. Công cụ để sản xuất cũng rất đơn giản, rẻ tiền như cưa
để cắt nứa tre, dao để chẻ vót nan. Nguồn nguyên liệu chính được khai thác tại địa
phương và một số vùng trong nước. Tuy nhiên lượng nguyên liệu này vẫn chưa đủ
để cung cấp cho ngành nên các cơ sở đôi khi phải nhập cả nguyên liệu từ nước
ngoài như Lào, Philipin. Hầu hết các cơ sở sản xuất đều sử dụng nguồn nguyên liệu
tự nhiên nhưng việc tổ chức khai thác cung ứng nguyên liệu sản xuất chưa tốt nên
các hộ các cơ sở đều phải mua lại nguyên liệu từ các nguồn cung ứng không rõ
nguồn gốc, giá cao làm tăng chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và chất lượng sản
phẩm không đều nhau. Thực tế cho thấy nhiều sản phẩm khi xuất khẩu sang nước
ngoài đã bị trả lại do không đủ tiêu chuẩn. Hiện nay nguồn nguyên liệu đang rất
khan hiếm. Các doanh nghiệp cơ sở sản xuất phải đi thu gom các nguyên liệu của
tất cả các nơi nhiều khi phải nhập khẩu từ bên Lào. Nguồn nguyên liệu đang cạn
kiệt. Bác Mai cho biết: theo chương trình 135 thì tại Thanh Hóa đã có kế hoạch
trồng rừng, đã được đầu tư nhưng vẫn chưa có kết quả. Nhà cung ứng nguyên liệu
có thể gây áp lực lớn đối với ngành. Khi nguồn nguyên liệu khan hiếm thì các nhà
cung cấp nguyên liệu lại tăng giá nguyên liệu gây khó khăn cho các doanh nghiệp
trong việc nhập nguyên liệu. Chính vì nguyên liệu thu gom từ rất nhiều nơi nên khó
khăn trong việc xác định giá và chất lượng nguyên liệu. Nhiều khi chất lượng không
đảm bảo nhưng vì thiếu nên các doanh nghiệp vẫn phải sử dụng dẫn đến chất lượng
sản phẩm giảm sút theo. Trước đây việc sơ chế nguyên liệu phải sử dụng hoàn toàn
bằng thủ công như dùng dao chẻ mây tre bằng tay nhưng khi khoa học kĩ thuật phát
triển nên đã được thay thế bằng các công cụ hiện đại hơn đó là dùng máy chẻ và
uốn. Đối với việc nhân tạo giống cây con: Do thời gian từ khi bắt đầu gieo giống
đến 1,8m, giá xuất xưởng xấp xi 500.000đồng [8]. Các sản phẩm hiện nay đang phải cạnh
tranh với các sản phẩm của nước ngoài. Trong khi các sản phẩm của nước ngoài mẫu mã
thiết kế thường xuyên được đổi mới hấp dẫn nhìn chung là sáng tạo thì ta phần lớn đang
sản xuất theo mẫu mã của nước ngoài theo đơn đặt hàng hoặc nhái lại. Cũng không thể phủ
nhận có một phần nhỏ mẫu mã là do các nghệ nhân của chúng ta thiết kế ra trong quá trình
sản xuất sản phẩm. Các doanh nghiệp đang đứng được trong lĩnh vực mây tre đan chủ yếu
là gia công cho tập đoàn nước ngoài theo mẫu mã của họ nên bị ép giá. Đó là chưa kể các
làng nghề chủ yếu hàng được xuất qua quá nhiều các doanh nghiệp trung gian nên lợi
nhuận thu được cũng không được nhiều. Tuy các sản phẩm của Việt Nam chưa sánh được
với các sản phẩm của Trung Quốc và Indonexia nhưng giá của sản phẩm lại vừa phải do
giá nhân công và nguyên liệu rẻ nên có thể cạnh tranh được. Hàng mây tre đan không thể
làm bản quyền do mẫu mã thay đổi thường xuyên vì vậy việc xây dựng thương hiệu cho
sản phẩm cũng là vấn đề rất quan trọng. Nếu chúng ta xây dựng được một thương hiệu lớn
mạnh trên thị trường thế giới thì chắc chắn các sản phẩm của chúng ta cũng được nâng lên
rất nhiều. Giá sản phẩm của chúng ta cũng thấp hơn giá của các sản phẩm nước ngoài do
chúng ta có nguồn nguyên liệu tự nhiên rẻ cộng với giá nhân công rẻ. Các cơ sở sản xuất
nhỏ chủ yếu là sản xuất đến một giai đoạn giai đoạn nhất định rồi chuyển đến nơi khác để
hoàn thiện sản phẩm. Như ở các cơ sở sản xuất tại xã Thượng Hiền thì sản phẩm mới chỉ
tương đối hoàn thiện sau đó được đưa đến các cơ sở lớn như Ngọc Động để hoàn thiện các
giai đoạn cuối cùng trước khi xuất khẩu. Quá trình tạo ra một sản phẩm cũng trải qua rất
nhiều công đoạn từ thu nhập nguyên liệu đến đan các sản phẩm và qua khâu xử lí sản
phẩm như chống ẩm mốc, sơn dầu, tăng độ cưng của sản phẩm. Các cơ sở sản xuất ngành
nghề hầu như chưa quan tâm đến khía cạnh pháp lí kinh doanh. Có rất ít các cơ sở quan
tâm đăng kí nhãn hiệu cho sản phẩm của mình. Điều này làm giảm khá nhiều khả năng
cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường quốc tế. Mà trong tương lai ngay cả thị trường
trong nước khi nước ta hội nhập WTO.
3.2.3. Nguồn nhân lực
Ngành mây tre đan chủ yếu được làm ở các làng nghề truyền thống. Do đó đã
tận dụng được nguồn lao động nhàn rỗi khá lớn từ lao động nông nghiệp ở trong
làng. Từ những người già đến các trẻ em trong làng đều có thể làm được. Thời gian
nước cũng như địa phương chưa cấp vốn cũng như đất đai. Theo bác Du xã Thượng
Hiền thì cơ sở sản xuất của bác muốn mở rộng quy mô sản xuất nhưng địa phương
chưa tạo điều kiện về đất đai và vốn.
3.2.4. Thị trường tiêu thụ
Hàng mây tre đan thủ công mỹ nghệ truyền thống được tạo ra bởi những bàn
tay tài hoa. Đây là những đặc điểm nhưng cũng là điều kiện không thể thiếu của mặt
hàng này. Trong các làng nghề truyền thống đều có mặt của các nghệ nhân hoặc
những tay thợ lành nghề. Hàng trăm năm đã đi qua nhưng bao giờ cũng có sự kế
tiếp đó. Trước đây các sản phẩm được sản xuất bằng tay và các công cụ đơn giản
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
như dùng dao để chẻ mây tre, rút sợi nhưng giờ đây đã có sự đóng góp của các máy
chẻ mây tre, các máy cơ khí, máy rút sợi. Với sự thay thế này sức lao động được
giảm nhẹ, số lượng sản phẩm được sản xuất ra nhiều hơn, hiệu quả kinh tế lớn hơn.
Thị trường ngày càng được mở rộng. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng mây tre lá
của Việt Nam trong 10 ngày đầu tháng 5/2006 đạt 6,2 triệu USD, tăng 19% so với
cùng kỳ tháng 4. Ước tính, trong tháng 5, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm mây
tre lá của cả nước đạt 17,5 triệu USD, tăng nhẹ so với tháng 4, góp phần đưa tổng
kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này trong 5 tháng đầu năm đạt 73 triệu USD,
tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2005. 10 ngày đầu tháng 5, Việt Nam đã xuất khẩu
khoảng 40 mẫu mã sản phẩm được làm bằng tre, với kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2
triệu USD, tăng 9,1% so với 10 ngày đầu tháng 4. Ước tính, trong tháng 5, kim
ngạch xuất khẩu các mặt hàng tre đan của cả nước đạt 4 triệu USD, tăng nhẹ so với
tháng 4, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng tre đan của cả nước trong 5
tháng đầu năm đạt 16,1 triệu USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm 2005. Các sản
phẩm tre xuất khẩu chủ yếu là: Đĩa, Bát, Bình, Khay, Rổ, Sọt….Kim ngạch xuất
khẩu mặt hàng khay tre chiếm tỷ trọng cao nhất, với kim ngạch xuất khẩu đạt 121
nghìn USD, nhưng giảm mạnh so với cùng kỳ tháng 4. Các thị trường xuất khẩu chủ
yếu mặt hàng này là Đức, Bỉ, Anh, Pháp, Thuỵ Điển, Hàn Quốc …Tiếp đến là mặt
hàng bình bằng tre, với kim ngạch xuất khẩu đạt 104 nghìn USD, tăng 11% so với
thành phố lớn tìm kế mưu sinh, làng nghề có nguy cơ bị mai một. Bước sang thời kì
đổi mới cùng với sự thay đổi của đất nước các làng nghề truyền thống cũng có bước
chuyển mình mạnh mẽ. Các làng nghề cũng nhận được nhiều hợp đồng xuất khẩu
các mặt hàng như: rổ rá, lãng hoa, bàn ghế...cung cấp cho các thị trường như Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc với số lượng lớn mang lại giá trị lợi nhuận
cao cho các doanh nghiệp Nghề mây tre đan đã thực sự hồi sinh và phát triển nhờ
xuất khẩu được đi nhiều nước. Hiện đang tìm kiếm thị trường ở Tây Âu và các nước
Đông Nam Á.[18 ]
Sản phẩm mây, tre Việt Nam đã có mặt ở 94 nước trên thế giới [11]. Theo số
liệu thu thập được từ Tổng cục thống kê và hiệp hội làng nghề Việt Nam thì tổng
kim ngạch xuất khẩu của ngành mây tre đan Việt Nam trong những năm gần đây
tăng lên một cách đáng kể.Cụ thể:
Năm 2000 78,6 triệu USD
Năm 2001 93.8 triệu USD
Năm 2002 107.9 triệu USD
Năm 2003 115 triệu USD
Năm 2005 180.2 triệu USD
Năm 2006 195 triệu USD
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hình 1. Kim ngạch xuất khẩu ngành mây tre đan Việt Nam
giai đoạn 2000-2006.
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Hiệp hội làng nghề Việt Nam
(dẫn lại từ trang thông tin điện tử của Báo điện tử thời báo
kinh tế Việt Nam.)
Với thị trường nước ngoài các sản phẩm mây tre đan được xuất khẩu thông qua
các công ty xuất khẩu thủ công mỹ nghệ: Ngọc Động, Havimex.. Mới đây đã nhen
nhóm sang thị trường Mỹ với doanh số năm 2004 đạt trên 30 tỷ đồng. Hiện nay
Nhật Bản là nước nhập khẩu lớn về các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
với mức tăng trưởng từ 30 - 35%/năm kể từ 1996 đến nay năm 2002 đạt mức 22,4