HOÀNG ANHMỘT SỐ VẤN ĐỀ
VỀ SỬ DỤNG NGÔN TỪ TRÊN BÁO CHÍ
HÀ NỘI – 2003
1
MỤC LỤC
...............................................................................................................................................7
VI C S D NG CH T LI U V N H C TRONG TÁC PH M BÁO CHỆ Ử Ụ Ấ Ệ Ă Ọ Ẩ Í....................................31
..................................................................................................................................................48
TH PHÂN LO I TIÊU CÁC V N B N BÁO CHỬ Ạ ĐỀ Ă Ả Í..................................................................63
NGÔN NG TÁC GI VÀ NGÔN NG NHÂN V T TRONG TÁC PH M BÁO CHỮ Ả Ữ Ậ Ẩ Í....................99
2
LỜI TÁC GIẢ
Cuốn sách này là tập hợp các bài viết của tác giả đã công bố trên các tạp
chí và các hội thảo khoa học chuyên ngành. Nó đề cập một số vấn đề khá bức xúc
nhưng chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức trong địa hạt ngôn
ngữ báo chí - một địa hạt vẫn còn hết sức mới mẻ ở Việt Nam. Đó là các vấn đề
như: đặc điểm của ngôn ngữ báo chí, sự kết hợp khuôn mẫu và biểu cảm trong
ngôn ngữ báo chí, cách thức tạo giá trị biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí, sự khác
biệt giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ nhân vật và ngôn
ngữ tác giả trong tác phẩm báo chí, phân loại tiêu đề các văn bản báo chí, ... Vì
đây mới chỉ là kết quả của những khảo sát bước đầu cho nên cuốn sách không
tránh khỏi có những hạn chế nhất định. Tuy nhiên, tác giả vẫn hy vọng là nó sẽ
mang lại những điều bổ ích, dù chỉ nhỏ bé, cho các nhà báo, các nhà nghiên cứu
và giảng dạy về báo chí, cũng như tất cả những ai có liên quan.
một thứ dịch bệnh.
Vậy nhà báo phải làm gì đây để có thể hoàn thành được trách nhiệm nặng nề
của mình trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt? Về vấn đề này, chúng
tôi có vài ý kiến nhỏ như sau:
4
1. Nhà báo cần nắm chắc các tri thức cơ bản liên quan tới việc sử dụng
tiếng Việt thuộc 4 phương diện chính là ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong
cách.
Để làm được điều đó, chắc chắn chúng ta phải học một cách bài bản, nghiêm
túc. Có thể học ở trường, lớp mà cũng có thể tự học. Song dù hình thức học có thế
nào đi chăng nữa thì kết quả cuối cùng đạt được phải đáp ứng yêu cầu: nói đúng,
viết đúng. Chưa nói đúng, viết đúng thì chưa thể kỳ vọng nói hay, viết hay được.
Có những điều tưởng như rất đơn giản, nhưng nếu chúng ta không học, chúng ta
vẫn có thể bị mắc lỗi. Chẳng hạn, quan hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ là một vấn đề
hoàn toàn không khó, nhưng do không được trang bị kiến thức cần thiết, nhiều
nhà báo thường xuyên ngắt đoạn sai khi nói, khi đọc. Ấy là còn chưa kể đến
những mảng đầy " gai góc " thuộc phần ngữ pháp mà nếu không đầu tư thời gian
và công sức để nghiên cứu và rèn luyện, chúng ta khó có thể làm chủ được hoạt
động ngôn từ của mình.
Tuy nhiên, việc sử dụng tiếng Việt đúng với chuẩn mực không đồng nghĩa
với sự phủ nhận hoàn toàn những sáng tạo riêng của cá nhân. Có điều, những sáng
tạo ấy phải tuân thủ những quy luật nhất định, nghĩa là có cơ sở khoa học. Chẳng
hạn, khi tạo ra từ mới, người ta phải dựa vào những từ đã có sẵn nào đó mà có
quan hệ trực tiếp với nó về phương diện âm thanh hay ý nghĩa.
2. Nhà báo nên hạn chế tối đa việc vay mượn từ ngữ nước ngoài
Có thể nói, chưa bao giờ các từ ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài lại xuát
hiện trên báo chí tiếng Việt với mật độ dày như hiện nay. Người ta sử dụng chúng
khá tuỳ tiện, bất chấp người đọc, người nghe có hiểu được hay không. Thật phi lý
khi nhà báo là người Việt Nam, mà để hiểu được ngôn từ của họ, nhiều lúc chúng
ta phải mở từ điển song ngữ ra tra cứu. Phải chăng tiếng Việt của chúng ta nghèo
chúng ta thường có sự liên hệ nhất định với tiếng Việt. Và dựa vào sự đối chiếu
,so sánh, nhà báo có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng tiếng Việt của chúng
ta giàu đẹp chẳng kém bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới. Và từ đây, anh ta sẽ có
tình cảm yêu quý và thái độ trân trọng hơn đối với tiếng mẹ để của mình. Những
tình cảm và thái độ ấy, nếu được vun đắp thường xuyên, dần dần sẽ trở thành
những phẩm chất văn hoá, thành những giá trị đạo đức của nhà báo, giúp họ trở
thành những nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện xem
thường, coi khinh tiếng nói và chữ viết của dân tộc.
6
Song, bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận các giá trị của ngôn
ngữ nước ngoài, mà ngược lại, phải biết tiếp thu chúng để hoàn thiện thêm cho
tiếng mẹ đẻ. Chẳng hạn, tính khoa học và tính chính xác cao của các ngôn ngữ Ấn
- Âu ( như Anh, Pháp, Nga,...) sẽ giúp cho nhà báo sử dụng tiếng Việt một cách
khúc chiết, mạch lạc, gãy gọn, tránh được sự dài dòng, cầu kỳ không cần thiết.
Như vậy, rõ ràng là hiểu biết về tiếng nước ngoài cũng góp phần quan trọng
vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Từ xưa đến nay, người ta vẫn luôn quan niệm rằng trong việc sử dụng ngôn
ngữ của một dân tộc bao giờ cũng bộc lộ tầm vóc văn hoá của nó. Mà báo chí lại
là môi trường rộng lớn nhất và được xem là mẫu mực nhất để ngôn ngữ dân tộc
hành chức. Vì thế, khẳng định trách nhiệm của nhà báo chúng ta trong công cuộc
bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiéng Việt, đồng thời đề xuất những giải pháp
để họ hoàn thành trách nhiệm ấy, là việc làm cần thiết. Hy vọng, với bài viết này,
chúng tôi sẽ nhận được nhiều ý kiến quý báu liên quan tới vấn đề trên.
Chú thích1. Nguyễn Văn Nở, Đôi điều mong muốn về tiếng Việt trên báo Văn Nghệ,
Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 10 / 1998, tr. 11 - 14.
tập hợp và tổ chức quần chúng, 4. Tính chiến đấu mạnh mẽ, 5. Tính thẩm mỹ và
giáo dục, 6. Tính hấp dẫn và thuyết phục, 7. Tính ngắn gọn và biểu cảm, 8. đặc
điểm về cách dùng từ ngữ ( gồm cách dùng từ ngữ và cách dùng các khuôn biểu
cảm )
3
. Dễ dàng nhận thấy là Hữu đạt không có sự phân định rõ ràng giữa các đặc
điểm về chức năng của thông tin báo chí và các đặc điểm về ngôn ngữ như là
phương tiện chuyển tải thông tin ấy. Chính vì thế, 8 đặc điểm mà ông đưa ra không
đồng loại, chỉ có các đặc điểm thứ sáu và thứ bảy là có vẻ xác đáng hơn cả.
Tuy nhiên, các quan niệm nêu trên của Đinh Trọng Lạc cũng như Hữu Đạt
4
cho
thấy, khi khảo sát các đặc điểm của ngôn ngữ báo chí, họ đều xuất phát từ góc độ
8
chức năng của nó. Đây là hướng đi hợp lý, vì chính chức năng chứ không phải bất
cứ yếu tố nào khác, quy định các phương thức biểu đạt có tính đặc thù của từng
loại hình sáng tạo.
Như chúng ta đều biết, chức năng cơ bản, có vai trò quan trọng hàng đầu của
báo chí là thông tin. Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đề cập các sự kiện.
Không có sự kiện thì không thể có tin tức báo chí. Do vậy, theo chúng tôi, nét đặc
trưng bao trùm của ngôn ngữ báo chí là có tính sự kiện.
Chính tính sự kiện đã tạo nên cho ngôn ngữ báo chí một loạt các tính chất cụ thể
như:
1. Tính chính xác
Ngôn ngữ của bất kỳ phong cách nào cũng phải bảo đảm tính chính xác. Nhưng
với ngôn ngữ báo chí, tính chất này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì báo chí có
chức năng định hướng dư luận xã hội. Chỉ cần một sơ suất dù nhỏ nhất về ngôn từ
cũng có thể làm cho độc giả khó hiểu hoặc hiểu sai thông tin, nghĩa là có thể gây ra
những gây hậu quả xã hội nghiêm trọng không lường trước được. Chẳng hạn, sau
chuyến tháp tùng một quan chức cao cấp sang thăm trung quốc, một nhà báo đã
đi. Hai tay sờ soạng tứ tung. Cốp! Lùn tịt như tôi mà cũng còn va đàu vào đá. Tôi
nghĩ bụng và bắt đầu đi lom khom. Mẹ ơi, chỉ còn mình tôi thôi sao? Tống, Lực đâu
rồi. Đã hết lom khom được. Phải nằm xuống, bò. Có tiếng nước róc rách. Đường lò
ướt nhẹp. Tôi vớ phải một sợi dây cáp ở đầu một cái dốc. " Bám vào - ngửa người
ra, tụt xuống! ". Một mênh lệnh vang lên. A! Tống, Lực đây rồi. Thì ra hai anh vẫn
đi sát tôi, như có vẻ cố tình thử thách nhau một tý " cho nhà báo có thêm thực tế ".
Thấy tôi thở phì phò, thợ lò bảo: " Đây là lò ngắn nhất và dễ nhất mỏ Mông Dương
đấy! Dễ nhất! Tôi suýt la lên. Cả tiếng đồng hồ mới lấy được vài xe goòng than đá.
Dễ nhất mà thợ lò phải bò như những con rắn mối trong hang".
Một bức tranh chân thực và sinh động đã được tạo dựng nhờ sự miêu tả một loạt
các hành động, các cảm giác cụ thể của tác giả. Khi đọc đoạn văn trên, độc giả thấy
mình như cũng đang trải qua một cuộc hành trình đầy gian nan, vất vả dưới lòng
đất. Và đây chính là khởi nguồn của niềm cảm thông sâu sắc với nỗi cực nhọc
trong côngviệc của những người thợ lò.
10
Bên cạnh đó, tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí còn nằm ở việc tạo ra sự xác định
cho đối tượng được phản ánh. Như thực tế cho thấy, mỗi sự kiện được đề cập trong
tác phẩm báo chí đều phải gắn liền với một không gian, thời gian xác định; với
những con người cũng xác định ( có tên tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, giới tính... cụ
thể ). Đây là cội nguồn của sự thuyết phục, vì nhờ những yếu tố đó người đọc có
thể kiểm chứng thông tin một cách dễ dàng. Do đó, trong ngôn ngữ báo chí nên
hạn chế tối đa việc dùng các từ ngữ, cấu trúc không xác định hay có ý nghĩa mơ hồ
kiểu như " một người nào đó ", " ở một nơi nào đó ", " vào khoảng ", " hình như ",
v. v...
3. Tính đại chúng
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng. Tất cả mọi người trong xã hội,
không phụ thuộc vào nghề nghiệp, trình độ nhận thức, địa vị xã hội, lứa tuổi, giới
tính..., đều là đối tượng phục vụ của báo chí: đây vừa là nơi họ tiếp nhận thông tin,
vừa là nơi họ có thể bày tỏ ý kiến của mình. Chính vì thế, ngôn ngữ báo chí phải là
thứ ngôn ngữ dành cho tất cả và của tất cả, tức là có tính phổ cập rộng rãi. Tuy
trong một khoảng thời gian hay một diện tích nhất định. Vì thế, việc lựa chọn và
sắp xếp các thành tố ngôn ngữ cần kỹ lưỡng, hợp lý để phản ánh được đầy đủ
lượng sự kiện mà không vượt quá khung cho phép vè không gian và thời gian.
Hiện tại, không ít báo yêu cầu phóng viên, cộng tác viên khi viết bài không được
phép vượt quá một lượng chữ nhất định. Đối với những bài " không đặt trước "
biên tập viên buộc phải chỉnh lý, cắt xén cho thích ứng với việc công bố. Rồi ngay
trong số các cơ sở đào tạo nhà báo cũng có không ít nơi, khi tuyển sinh, đòi hỏi đối
tượng dự thi phải thử nghiệm khả năng định lượng của mình thông qua việc viết
một hay một số văn bản với độ dài cho sẵn.
Tính định lượng của ngôn ngữ báo chí giúp cho nhà báo rèn luyện được thói
quen chủ động trong việc sáng tạo tác phẩm. Nhờ đó, họ có thể dễ dàng thích nghi
với mọi điều kiện thời gian cũng như không gian được dành cho việc công bố
chúng.
6. Tính bình giá
Các tác phẩm báo chí không chỉ đưa thông tin về các sự kiện, mà còn phải thể
hiện công khai thái độ của tác giả đối với sự kiện thông qua sự bình giá ( có lẽ
trong các thể loại báo chí chỉ có tin vắn, tin ngắn là không có tính bình giá, tức là
tác giả thể hiên sắc thái biểu cảm trung tính ). Sự bình giá này có thể là tích cực mà
cũng có thể là tiêu cực, song trong bất kỳ tình huống nào nó cũng được biểu đạt
trực tiếp qua ngôn từ.
12
Chẳng hạn, có nhiều bài báo đã bộc lộ rõ thái độ, cảm xúc của tác giả ngay từ
tiêu đề như: " Góc tối ở thành phố cảng ", " Bông hoa Thủ đô giữa núi rừng Tây
Bắc ", " Lặng lẽ quá ... liên hoan phim ", " Giai điệu buồn của một đêm nhạc trẻ ",
" Đó cũng là một cách sống đẹp "...Còn trong các phần khác ( cả mở đầu, triển khai
lẫn kết thúc ) những câu văn mang sắc thái đánh giá của người viết còn gặp thường
xuyên hơn, nhất là ở các thể loại như bình luận, xã luận, phóng sự, ghi chép, ký...
7. Tính biểu cảm
Tính biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí gắn liền với việc sử dụng các từ ngữ, lối
nói mới lạ, giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân, và do đó sinh động hấp dẫn hay
Song, khác với khuôn mẫu trong văn bản hành chính và văn bản khoa học,
khuôn mẫu báo chí không cứng nhắc, bất di bất dịch mà rất linh hoạt, uyển chuyển.
Chẳng hạn, một thông tin trên báo về nguyên tắc phải thoả mãn 6 câu hỏi: Ai? Cái
gì? Ở đâu? Bao giờ? Như thế nào? Tại sao? nhưng thứ tự trả lời cho các câu hỏi đó
có thể được sắp xếp khác nhau tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
Bên cạnh đó, các thành tố khuôn mẫu trong ngôn ngữ báo chí lại luôn kết hợp
hài hoà với các thành tố biểu cảm cho nên ngôn ngữ báo chí thường rất mềm mại,
hấp dẫn chứ không khô khan như ngôn ngữ trong văn bản khoa học và văn bản
hành chính, là nơi người ta chỉ sử dụng thuần nhất các thành tố khuôn mẫu mà
thôi.
Trên đây là một số tính chất cơ bản của ngôn ngữ báo chí. Với những tính chất
đặc thù như vậy, ngôn ngữ báo chí hoàn toàn có đủ tư cách để được xem là một
phong cách chức năng trong ngôn ngữ.
Chú thích
1. Đinh Trọng Lạc, Phong cách học tiếng Việt, NXB. Giáo dục, H., 1997, tr.19.
2. Đinh Trọng Lạc, Sđd., tr. 98 - 111.
3. Hữu Đạt, Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt, NXB. Văn
hoá - Thông tin, H., 2000, tr. 224 - 248.
4. Khi bài viết này được công bố, cuốn " Ngôn ngữ báo chí " của nhà nghiên cứu
Vũ Quang Hào còn chưa được xuất bản. Tác giả cuốn sách đó cho rằng đặc điểm
nổi bật nhất của ngôn ngữ báo chí có khả năng chế định phong cách của nhà báo là
sự " chệch chuẩn ". Không xem ngôn ngữ báo chí là một phong cách chức năng
14
riêng, ông đi sâu vào khảo sát 3 phong cách chức năng, mà theo ông, báo chí
thường sử dụng là: phong cách chính luận, phong cách khoa học và phong cách
hành chính.
Xem: Vũ Quang Hào, Ngôn ngữ báo chí, NXB. Đại học quốc gia, H., 2001.
5. Kostomarov V. G., Tiếng Nga trên trang báo, M., 1978, tr. 62 ( bằng tiếng
Nga ).
6. Lịch sử văn học Nga thế kỷ XIX, M., 1984, tr. 287 ( bằng tiếng Nga).
trong một số tác phẩm thơ, tính biểu cảm có thể đạt tới mức tối đa. Riêng trong
phong cách báo chí - chính luận, tính khuôn mẫu và tính biểu cảm của ngôn từ nằm
trong quan hệ tương đối hài hoà, cân bằng.
16
Các trường hợp đan xen khuôn mẫu và biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí, nhìn
chung, có thể chia thành 3 kiểu chính như sau:
1. Đan xen trong phạm vi câu
Đây là sự đan xen ( chủ yếu là giữa các từ ) trong nội tại câu. Ví dụ:
"Không giống như nhiều tập đoàn khác bỏ hàng núi tiền để giành một suất
quảng cáo trên truyền hình hay các phương tiện thông tin đại chúng, Piaggio chơi
kiểu khác " độc " hơn và " cao tay " hơn: Đổ tiền vào sản xuất các bộ phim hay và
khéo léo lồng thương hiẹu của mình vào. Sau khi bộ phim " Kỳ nghỉ thành Rôma "
được trình chiếu ( 1954 ) với hai ngôi sao Gregorg và Herburrn luồn lách ngang
dọc trên các đường phố Rôma cùng con ong xinh xắn ( Vespa - tiếng ý có nghĩa là
con ong ), thì Vespa trở thành biểu tượng của nước ý ". ( Tuổi trẻ Thành phố Hồ
Chí Minh, 10 / 7 /2001 );
" Nhưng “chảo dầu sôi " trên sân Vinh với gần 3 vạn khán giả cuối cùng cũng
"nấu chín " đội Công an Hà Nội ". ( Lao động, 31 / 3 /2000 );
" Công - coóc từ trước đến nay vẫn được coi là phi cơ quý tộc vì những tiện
nghi và các ưu thế kỹ thuật " độc nhất vô nhị " của nó. ( Quân đội nhân dân, 3 / 9 /
2000 );
" Faustino asprila, " mũi tên đen " hay gây tranh cãi của Clombia mới đây thổ lộ
rằng... anh sẵn sàng từ chối một bản hợp đồng hàng triệu đô la tại một vương quốc
dầu lửa và muốn kết thúc sự nghiệp của mình tại đội " thường thường bậc trung "
Tutu của thành phố quê hương ". ( Thể thao và Văn hoá, 12 / 9 / 2000 );
" Lành mạnh " nhất trong các chiêu lôi kéo khách của những quán cà phê kiểu "
tục " là cho tiếp viên ... khoe " của ". ( Người lao động, 16 / 8 /2000 ).
2. Đan xen trong phạm vi đoạn văn
Đay là sự đan xen giữa các câu với nhau. Ví dụ:
" Trước hết, nợ của Chính phủ Nhật Bản rất cao, khoảng 9,3 % GDP hàng năm.
Khôn ngoan chẳng lọ thật thà
Hai vợ chồng giàu có vào bậc nhất phố tôi, dạo này buồn rười rượi, rất năng đi
chùa lễ Phật. Hàng xóm thạo tin kháo nhau: Nhà ấy phất nhờ đánh hàng lậu biên
giới, vừa bại quả lớn, may mà không phải vào tù. Trời có mắt cả, được cái này mất
18
cái kia, lắm tiền " đen ' nên thằng con đầu đi xe máy ngã, cưa mất một chân, thằng
thứ hai, nghiện hút đang đi cai... ( Hà Nội ngày nay, số 8 / 1999 ).
b, Đối lập giữa phần mở đầu và phần triển khai, ví dụ:
" Lại nói Tôn Sách là con Tôn Kiên muốn nối chí cha xưng hùng xưng bá ở
Giang Đông, nhưng hiềm một nỗi là không có binh mã. Thủ hạ của Sách hiến kế
rằng: " Tướng quan nên đem ngọc tỷ của Tôn Phụ để lại, thế chấp cho Viên Thuật,
lấy quân mà thu phục Giang Đông ". Sách nghe theo. Viên Thuật giao cho Sách
3000 quân và 500 ngựa chiến để đổi lấy ngọc tỷ truyền quốc. Có quân mã trong tay,
lại được Chu Du giúp mẹo mực, chẳng bao lâu Tôn Sách đã làm chủ cả một vùng
Giang Đông rộng lớn ".
Nay trở lại quy chế lên bán chuyên nghiệp do LĐBĐVN đề ra cho các đội bóng
muốn tham dự.." ( Lao động, 21 / 7 /2000 ).
c, Đối lập giữa phần triển khai và phần kết thúc, ví dụ:
" Thiết nghĩ, Kodak là một công ty lớn, việc kinh doanh đã có uy tín, thương
hiệu sản phẩm nổi tiếng trên toàn thế giới, nhưng qua kiểu làm ăn " đánh trống
rồi... cất luôn dùi với VAFACO như vừa nêu gây thiệt hại cho đối tác hàng chục tỷ
đồng, đã tự hạ uy tín của mình và chứng tỏ " ông chủ lớn " đôi khi chỉ vì muốn thu
lợi cho nhiều mà tính toán rất " nhỏ "...
Rõ là:
" kinh doanh có ba, bảy đường
Anh chơi kiểu ấy khó lường về sau
Nên lấy chữ tín làm đầu
Giữa đường phản phé thì mau... sụp hầm ". ( Công an Thành phố Hồ
Chí Minh, 26 / 8 / 2000 ).
Thực tế khảo sát cho thấy, hầu hết các tác phẩm báo chí ( cho dù chúng có
Từ " hội thoại " ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, tức là nó không chỉ bao hàm
các từ thuộc vốn từ vựng của ngôn ngữ văn hoá được dùng đặc biệt trong lời nói
miệng, trong sinh hoạt hàng ngày, mà còn gồm cả một số từ thông tục và từ lóng,
vì những từ thuộc hai loại sau này cũng chỉ được chuyên dùng trong khẩu ngữ. Ví
dụ:
" Bằng cấp đầy người, anh vẫn chỉ là một nhân viên quèn ". ( Hà Nội mới chủ
nhật, 22 / 11 /1998 );
" Đã qua ngày rằm mà nhiều công sở vẫn còn vắng hoe. Điện thoại réo mệt nghỉ
vẫn không có ai trả lời ". ( Nhà báo và Công luận, số 10 / 1998 );
" Vòng đấu thứ 17 là vòng đấu " bốc mùi " nhất kể từ đầu giải. Những quan sát
viên khẳng định rằng cách mà Thừa Thiên - Huế " chết " trên sân Hà Nội còn " thô
" hơn so với cách mà Công an Hà Nội đã " nằm " trên sân Tự Do - trận đấu mà
BTC giải đã lôi hai đội ra " chém ", và bị dư luận phản ứng về cách " chém " nửa
vời ". ( Lao động, 25 / 5 /2001 );
" Thực tế thì Tú chẳng có xu gỉ nào để góp vốn ". ( An ninh thế giới, 6 / 3 /
1998 );
" Tôi... vội nháy anh bạn đồng nghiệp uống một hơi hết cốc cà phê đen, hấp tấp
nổ xe máy, dông thẳng ". ( lao động, 4 / 3 /1998 )...
21
Hiện nay, xu hướng chung trên thế giới là hội thoại hoá ngôn ngữ báo chí để nó
đơn giản hơn, gần gũi hơn với cuộc sống thường ngày. Chính vì thế, từ ngữ ( và
thậm chí cả cú pháp ) của ngôn ngữ hội thoại được dùng để tăng cường tính biểu
cảm trong các bài viết ngày càng phong phú và đa dạng.
Tuy nhiên, hội thoại hoá ngôn ngữ báo chí không có nghĩa là chúng ta được
phép bê nguyên xi ngôn ngữ đời thường với tất cả cái dáng vẻ thô ráp, xù xì, gai
góc của nó vào trong tác phẩm báo chí. Vì dù thế nào đi chăng nữa, ngôn ngữ trên
trang báo phải là một thứ ngôn ngữ đã được gọt giũa, được trải qua sự nhào nặn
của tác giả và phải đạt tới một sự chuẩn mực nhất định về văn hoá. Vì thế, tình
trạng lạm dụng quá mức các từ ngữ thuộc tiếng lóng hay các từ ngữ thô tục đang
diễn ra ở một số nhà báo và ở một số tờ báo ( nhất là các tờ báo dành cho thiếu
trong sáng mà còn tạo ấn tượng rằng người viết muốn " khoe chữ ". Bên cạnh đó,
những từ ngữ được lựa chọn phải có những ưu thế thật sự nổi trội so với các từ
hoặc những cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt ( Chẳng hạn như diễn đạt
khái niệm rõ ràng, đầy đủ, chính xác hơn; hoặc có vỏ âm thanh nghe gợi cảm
hơn ) và đồng thời phải tương đối quen thuộc đối với công chúng ( tức được dùng
thường xuyên trong giao tiếp ) để không gây cản trở gì đáng kể cho quá trình nhận
thức của độc giả.
3. Dùng thuật ngữ
Các thuật ngữ, xét theo tự thân, là những từ trung tính, tức không mang sắc thái
biểu cảm. Thế nhưng, khi được kết hợp hài hoà với các từ khuôn mẫu, chúng lại
có khả năng tăng cường tính biểu cảm rất đáng kể. Ví dụ:
" Với biểu tượng về sức mạnh vô song, hổ là hình ảnh để nói sự đứng đầu xuất
chúng: chúa sơn lâm. Bằng tư duy, bằng hành động thực tiễn, con người luôn văn
hoá hoá thế giới xung quanh" ( Ngôn ngữ và Đời sống, số 2 / 1998 );
" Sự thành công của những hạng mục đầu tiên sẽ tạo nên sự hấp dẫn, thu hút các
nhà đầu tư vào liên doanh, liên kết để có thể triển khai dự án " ( Nhân dân hằng
tháng, số 5 / 1998 );
" Ít thích lý luận trừu tượng, tự biện, kinh viện, giàu óc thực tế, nắm bắt nhanh
kỹ thuật, gắn lý luận với tình cảm, về gần cái chân chất, bình dị...đó cũng là nét khu
biệt của văn hoá Nam Bộ " ( Thể thao và Văn hoá, Xuân Mậu Dần / 1998 );
23
" Đây là một bước ngoặt vì từ trước đến nay đảng LDP cầm quyền vẫn chủ
trương cắt giảm thâm thủng ngân sách bằng mọi giá " ( Hà Nội mới cuối tuần, 21 /
2 /1998 )...
Hiện nay, do khoa học kỹthuật phát triển mạnh, nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới
ra đời, cho nên số lượng thuật ngữ gia tăng nhanh chóng và chúng xuất hiện với
mật độ ngày càng dày trên các báo.
4. Dùng từ ngữ địa phương
Các từ ngữ địa phương luôn mang đậm dấu ấn riêng về lời ăn tiếng nói của một
cộng đồng người gắn liền với một vùng đất, vì thế chúng làm cho câu văn có sắc
Thói đời vẫn vậy, con gà tức nhau tiếng gáy tất sinh lắm chuyện, trước hết là
chuyện sĩ diện, sau đến hao tiền tốn của. Ông bạn tôi là chủ một công ty nhỏ.
Người ta tán ông nên đưa hàng đi triển lãm quốc gia, hàng của ông phải nổi tiếng
cả nước. Nổi tiếng trong nhà coi như vứt, như áo gấm đi đêm..." ( Nông nghiệp
Việt Nam, 10 / 4 / 2002 );
" Cảng Sài Gòn: Đâu là gót chân A-sin? ( Tuổi trẻ TP HCM 27 / 5 /2001 );
" Bản quyền âm nhạc: - cuộc chiến của chàng Đôn kihôtê chống lại cối xay gió (
Gia đình và Xã hội, số 34 / 2002 );
" Ngày 15 / 5 Leverkusen sẽ chơi trận chung kết tranh cúp Đức với Schaltre 04
trước khi gặp Real Madrid trong trận tranh cúp C1. Không biết câu lạc bộ này thi
đấu ra sao. Cầu chúc cho ước mơ ban đầu của học không trở thành " miếng da lừa "
( Tiền phong, 12 / 5 /2002 );
" Buồn vui cũng một hội này chùa Hương "; " Lời vui có một khúc này " ( Hà Nội
mới cuối tuần, 21 / 2 /1998 );
" Nghề chơi cũng lắm công phu " ( Đầu tư, 9/ 3 /1998 );
" Điều lệ bảo hiểm có những quy định theo kiểu " sống chết mặc bay " ( Gia
đình và Xã hội , số 68 / 2001 );
...Với đội bóng Liverpool : Không có nơi nào đẹp như Rôma " ( Thể thao và văn
hoá, 20 / 2 /2001 )...
6. Sử dụng thành ngữ, tục ngữ, danh ngôn... cùng các biến thể của chúng
Các phương tiện ngôn ngữ này thường có ý nghĩa rõ ràng, dễ hiểu, lại xuất hiện
với tần số cao trong hoạt động giao tiếp thường ngày ( nhất là thành ngữ, tục ngữ )
3
, cho nên việc sử dụng chúng rất thuận lợi đối với cả người viết lẫn người đọc.Ví
dụ:
25