CÁC HÌNH THÁI GLÔCÔM TRẺ EM TÓM TẮT
Mục tiêu: Bệnh glôcôm là một trong những nguyên gây mù lòa ở trẻ
em.
Phương pháp: Phân tích 103 bệnh nhi glôccôm điều trị ở Khoa Nhi
BV Mắt TP Hồ Chí Minh từ 6/2004 đến 12/2006.
Kết quả: Chúng tôi ghi nhận các hình thái bệnh glôcôm như sau:
41,7% là glôcôm bẩm sinh, 25,3% là glôcôm trẻ em nguyên phát và còn lại
là glôcôm thứ phát do nhiều nguyên nhân như chấn thương, viêm màng bồ
đào…Trong đó tỷ lệ glôcôm thứ phát do corticoides 16,5% khá cao. Glôcôm
bẩm sinh nguyên phát thường xuất hiện sớm ngay sau sinh hay trong năm
đầu và có những triệu chứng đặc hiệu là giác mạc to, phù giác mạc, chói
sáng chảy nước mắt …cần được phát hiện sớm để điều trị sớm, mới mong
bảo tồn thị lực cho trẻ. Glôcôm trẻ em nguyên phát tiến triển lặng lẽ, nên khi
phát hiện trẻ mờ mắt, đo nhãn áp cao mới chẩn đoán bệnh thì bệnh đã nặng.
Nên cần có hướng phát hiện sớm bệnh khi trẻ hay mỏi mắt, mờ mắt, đến
khám mắt phải soi đáy mắt và đo nhãn áp cho trẻ.
Kết luận: Cần lưu ý tỷ lệ glôcôm thứ phát do nhỏ corticoides 16,5%
để có chiến lược thông tin giáo dục cho quần chúng không tự ý mua và sử
dụng thuốc nhỏ mắt khi đau mắt mà cần đi khám măt và nhỏ đúng thuốc
theo toa Bs.
ABSTRACT
CLINICAL FEATURES OF CHILHOOD GLAUCOMA AT THE
EYE HOSPITAL OF HCM CITY
Pham Thi Chi Lan, Mai Dang Tam
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 11 – Supplement of No 3 - 2007:12-
17
Purpose: Infantile glaucoma is one of the causes of blindness in
children. An improved knowledge of disease patterns will help in the care of
phát do cấu trúc bất thường về giải phẫu – sinh lý của mắt cũng như do
nhiều dị tật mắt phối hợp.
Glôcôm trong nhóm tuổi trẻ em không đồng nhất, ngoài hình thái
glôcôm bẩm sinh, ở khoa Nhi BV mắt TP HCM còn có các hình thái glôcôm
nguyên phát góc mở và glôcôm thứ phát do nhỏ corticoides hoặc sau chấn
thương, sau viêm màng bồ đào.
Glôcôm bẩm sinh chiếm khoảng 50 – 70% glôcôm trẻ em, 60% được
chẩn đoán vào lúc 6 tháng tuổi và 80% trong vòng năm đầu tiên. Khoảng
65% là nam và bệnh gặp ở 2 mắt trong 70% các trường hợp(2,3,7). Một số
trường hợp glôcôm nguyên phát trẻ em có kèm theo hội chứng Axenfeld-
Rieger, tật không có mống mắt, hoặc một rối loạn di truyền đa hệ thống
khác. Ngoài ra, ở trẻ em, glôcôm có thể thứ phát do dùng corticoid nhỏ mắt
trong thời gian dài để điều trị viêm kết mạc dị ứng, hoặc do viêm màng bồ
đào, do chấn thương.
Ở Việt nam, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về các hình thái
glôcôm trẻ em, nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu này tại khoa Măt Nhi BV
Mắt TP HCM nhằm mục đích:
- Phân tích các hình thái bệnh glôcôm trẻ em điều trị tại khoa để có
hướng phòng bệnh, chẩn đoán bệnh sớm và điều trị tích cực hơn.
- Ghi nhận các đặc điểm của glôcôm bẩm sinh dựa trên các triệu
chứng lâm sàng thường gặp, để từ đó đưa ra hướng chẩn đoán sớm để có thể
điều trị sớm nhằm khống chế tình trạng mù loà do bệnh gây ra.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Đây là nghiên cứu mô tả lâm sàng các trường hợp.
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhi < 16 tuổi được chẩn đoán glôcôm và được theo dõi,
điều trị tại khoa nhi – BV Mắt TpHCM từ tháng 06/2004 đến tháng 12/2006.
Cỡ mẫu: là 1 nghiên cứu mô tả hàng loạt, các bệnh nhi được chẩn
đoán xác định glôcôm tại khoa Nhi – BV Mắt TpHCM được đưa vào mẫu
Na
m
26
60,
5
40
66,7
66
64,1
Nữ
17
39, 20
33,3
37
35,9
5
Tổn
g
43
> 1 tuổi, như vậy, tỷ lệ trẻ glôcôm bẩm sinh được phát hiện sớm trong năm dầu
chỉ có 65%, cần được ghi nhận và lưu ý để cả Bs và phụ huynh có hướng phát
hiện bệnh sớm hơn để kịp thời điều trị cho bệnh nhi, tránh những tổn hại không
thể phục hồi cho mắt của bệnh nhi.
Vì nói đến glôcôm bẩm sinh là nói đến bệnh xảy ra từ những ngày đầu
sau sinh hoặc ngay trong năm đầu tiên của cuộc sống, nên nếu phát hiện
muộn thì mắt đã dãn lồi do tăng nhãn áp, gây phù loạn dưỡng giác mạc….thị
lực bệnh nhi khó hồi phục được.
Phân loại Glôcôm
T
ần
số %
GL b
ẩm
43 41,7
sinh
Gl tr
ẻ nhỏ
nguyên phát
26 25,3
Gl th
ứ
phát do Corticoid
chấn thương
17 16,5
GL th
ứ
phát do vị
êm
MT 27 26,2
2 mắt 60 58,3
Tổng 103 100,0
Tiền căn gia đình và Glôcôm bẩm sinh
Gl
bẩm sinh
Tiền
căn gia đình
+
- Tổng
Có 5 1 6
Không
38
59 97
Tổng 43
60 103
Tìm hiểu tiền căn gia đình ở nhóm 43 trẻ glôcôm bẩm sinh, chúng tôi
thấy có 5 ca có tiền căn gia đình, trong khi ở nhóm glôcôm trẻ em nguyên
phát và thứ phát chỉ có 1 ca có tiền căn gia đình măc bệnh.
Mối tương quan này có ý nghĩa thống kê. Trẻ có tiền căn gia đình
bệnh glôcôm bẩm sinh dễ có nguy cơ mắc bệnh này cao gấp 6,5 lần so với
trẻ không có tiền căn gia đình.
Các triệu chứng bệnh thường gặp và các hội chứng đi kèm
Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp ở trẻ glôcôm bẩm sinh là giác mạc
T
ần
số
36 67 103
Có Không
Tổng
% 35 65 100
T
ần
số
41 62 103
Sợ
ánh sáng
% 39,8
60,2 100
T
ần
số
38 65 103
Ch
ảy
nước mắt
% 36,9
63,1 100
T
ần
%
Trẻ
nh
ỏ< 3 t
không ghi
nhận được
40 38,8 43 41,7
Có 15 14,6 57 55,3
Không
48 46,6 3 2,9
Tổng 103
100,0 103
100,0
Nhãn áp, đường kính giác mạc và chiều dài nhãn cầu
Không như trẻ bị glôcôm nguyên phát hoặc thứ phát mà triệu chứng
chính là mờ mắt, các biểu hiện của glôcôm bẩm sinh là giác mạc to, và chiều
dài nhãn cầu tăng khi nhãn áp tăng.
Bình thường, khi mới sinh, đường kính ngang giác mạc là 9,5ly, đến 6
tháng tuổi, đường kính là 10,5ly, và khi trẻ 1 tuổi là 11 ly.
Phân tích 43 ca glôcôm bẩm sinh trong nhóm nghiên cứu, với 31 bệnh
nhân glôcôm 2 mắt và 11 bệnh nhân glôcôm 1 mắt, kết quả ghi nhận cho
thấy đúng như y văn là đường kính ngang giác mạc trẻ glôcôm bẩm sinh lớn
hơn bình thường, cụ thể 53,5% có đường kính > 11 ly và 42,5% có đường
kính giác mạc từ 13-14 ly. Đây là 1 dấu hiệu khách quan giúp chẩn đoán
sớm bệnh glôcôm bẩm sinh mà chúng ta cần để ý để hướng dẫn cộng đồng
biết và cúng chúng ta phát hiện bệnh sớm cho trẻ.
38
52,0
26-
30mmHg
31
42,5
Tổng số 73
100,0
Bảng 5: Đường kính giác mạc ở 73 mắt trẻ glôcôm bẩm sinh
Đường
kính giác m
ạc
tr
ẻ glôcôm bẩm
S
ố
mắt
%
sinh
< 10 ly 2 2,7
11-12ly 39
53,5
13-14ly 31
42,5
>14ly 1 1,3
0 13
18
0 31
Tổng 2 39
31
1 73
Trong nhóm glôcôm bẩm sinh có nhãn áp và đường kính giác mạc đo
được:
+ Nhóm có nhãn áp từ 21 – 25 mmHg và đường kính giác mạc 11 –
12 mm chiếm tỷ lệ cao nhất.
+ Nhóm nhãn áp > 25 mmHg và đường kính giác mạc ≤ 10 mm chiếm
tỷ lệ thấp nhất.
Điều này phù hợp với lý thuyết là ờ trẻ nhỏ glôcôm bẩm sinh < 3 tuổi,
tăng nhãn áp thường làm giác mạc to ra, và dãn cả cực sau, hậu quả làm rạn
màng Descemet, phá hủy hàng rào nội mô gíac mạc gây phù giác mạc, dần
dần đưa đến tình trạng mắt trâu
(3,6)
.
Mối tương quan này có ý nghĩa thống kê với p= 0,035.
Trẻ có nhãn áp 21-25mmHg và đường kính giác mạc 11-12ly nhiều
nhất và trẻ có nhãn áp 26-30mmHg và đường kính giác mạc 13-14 ly chiếm
tỷ lệ cao nhất.
Lõm gai C/D trong glôcôm trẻ em
Đánh giá lõm gai C/D sẽ giúp xác định chẩn đoán bệnh glôcôm ở trẻ
em.
Trong tổng số 163 mắt nghiên cứu, gần 50% số mắt có C/D >0,7,
Không
soi được
14 18,4 17 19,6
Tổng 76 100,0 87 100,0
Số mắt glôcôm bẩm sinh
Số mắt
Số đo Không đo Tổng
N
% N
% N
%
Nhã
n áp * T
ỷ
lệ C/D
6
1
83,6
%
1
2
16,4
%
7
3
100,0