VAI TRÒ CHỌC HÚT DẪN LƯU Ổ ÁP XE PHỔI BẰNG KIM
TRONG ĐIỀU TRỊ ÁP XE PHỔI VÀ KÉN KHÍ PHẾ QUẢN ÁP
XE HÓA
TÓM TẮT
Mục tiêu: đánh giá vai trò chọc hút dẫn lưu ổ áp xe phổi xuyên thành
ngực bằng kim trong điều trị áp xe phổi hoặc kén khí phế quản áp xe hóa có
đường kính > 4 – 6 cm nằm cạnh thành ngực, và không cải thiện với điều trị
nội khoa bảo tồn sau 3 – 7 ngày trở lên.
Phương pháp nghiên cứu: Thực nghiệm can thiệp điều trị lâm sàng
Kết quả: Từ 06/2003 đến 06/2006, có 34 bệnh nhân (30 nam và 4 nữ)
gồm 21 trường hợp áp xe phổi và 13 trường hợp kén khí áp xe hóa. Tuổi
trung bình là 48,1 (từ 34 – 65 tuổi). 100% trường hợp sang thương ổ áp xe ở
một bên phổi; bên phải nhiều hơn bên trái (64,71% so với 35,29%); thùy
dưới nhiều hơn thùy trên (85,29% so với 14,71%); và 67,65% trường hợp ổ
áp xe có kích thước < 8 cm. 26 trường hợp (76,47%) do vi trùng kỵ khí gây
nên (Pseudomonas aeruginosa, Serratia spp., Acinetobacter spp.,
Enterobacter spp.). Tất cả các trường hợp chọc hút dẫn lưu ổ áp xe phổi
bằng kim đều thành công (100%) với thời gian điều trị hết ổ áp xe trung bình
12,83 ngày, (từ 7 – 20 ngày). Các biến chứng bao gồm 7 trường hợp đau
ngực nơi chọc hút (20,59%), 2 tràn khí màng phổi lượng ít (5,88%), 1 tràn
khí dưới da (2,94%), 2 sốc vagal (5,88%), và không có trường hợp nào ho ra
máu hoặc tử vong.
Kết luận: Chọc hút dẫn lưu ổ áp xe phổi xuyên thành ngực bằng kim
là một phương pháp điều trị xâm nhập có hiệu quả điều trị cao, tương đối an
toàn, dễ thực hiện, và biến chứng thấp.
ABSTRACT
Objective: to evaluate the role of percutaneous needle lung drainage
aspiration in treating lung abscesses or abscessed bronchial sacs, > 4 – 6 cm
in diameter, next to chest wall, and poor response to internal medicine after
3 – 7 days.
thường bằng hình ảnh ổ áp xe trên X-quang phổi, đối với áp xe phổi đó là
hình đám mờ có hoại tử trung tâm, có mực nước hơi nằm cao trong vùng hoại
tử, thành vỏ ổ áp xe dày; đối với dạng kén khí phế quản áp xe hóa có hình ảnh
X-quang đặc trưng, thành vỏ kén mỏng, trong kén có mực hơi nước. CT scan
giúp chẩn đoán những trường hợp nghi ngờ áp xe phổi, xác định vị trí ổ áp xe,
và có thể giúp phân biệt với áp xe phổi do mủ màng phổi qua lỗ dò phế quản
màng phổi. Điều trị chính của áp xe phổi và kén khí phế quản áp xe hóa là
điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ, nhưng hầu hết các trường hợp là do vi
trùng kỵ khí, kết hợp vật lý trị liệu dẫn lưu tư thế. Điều trị nội khoa bảo tồn
(kháng sinh phổ rộng, kháng viêm, tập vật lý trị liệu dẫn lưu tư thế, )là chủ
yếu với tỉ lệ thành công 80 – 90%
(1,2,11,12,15)
. Tuy nhiên, đối với những bệnh
nhân thất bại với điều trị nội khoa, đặc biệt là những ổ áp xe có đường kính >
4 – 6 cm, là những trường hợp vẫn còn dấu hiệu nhiễm trùng mặc dù đã điều
trị kháng sinh thích hợp, hình ảnh ổ áp xe vẫn còn trên X-quang phổi, hoặc có
biến chứng như tràn mủ màng phổi, thì cần thiết phải kết hợp những biện
pháp điều trị can thiệp xâm nhập hơn như chọc hút bằng kim hoặc dẫn lưu ổ
áp xe phổi xuyên thành ngực qua da bằng catheter
(5,7,8,10,14,18,20,21)
.
Qua tham khảo tài liệu trong y văn, một số nghiên cứu của các tác giả
nước ngoài đã cho thấy tỉ lệ của dẫn lưu ổ áp xe phổi xuyên thành ngực qua
da bằng kim hoặc bằng catheter là gần 100% nếu chọn lựa bệnh nhân cẩn
thận và tránh được nguy cơ phẫu thuật là 84%. Đồng thời, thời gian trung
bình để điều trị hết áp xe là 10 – 15 ngày. Trong khi, tại Việt nam, chưa có
tài liệu nghiên cứu nào đề cập về vấn đề này, nên chúng tôi tiến hành đánh
giá vai trò điều trị chọc hút dẫn lưu ổ áp xe phổi xuyên thành ngực bằng kim
phối hợp trong điều trị áp xe phổi hoặc kén khí phế quản áp xe hóa có đường
kính > 4 – 6 cm nằm cạnh thành ngực không cải thiện với điều trị nội khoa
thành công khi cải thiện về:
- Lâm sàng: tổng trạng khá hơn, hết sốt, hết ho đàm hôi, hết đau ngực,
hết khó thở
- Cận lâm sàng: Số lượng bạch cầu giảm dần và trở về giới hạn bình
thường. Trên X-quang phổi, hình ảnh ổ áp xe giảm dần và hết hẳn.
Phương pháp nghiên cứu
Chuẩn bị dụng cụ
- Dụng cụ sát khuẩn vị trí vùng da để chọc hút mủ hoặc dẫn lưu ổ áp
xe phổi xuyên thành ngực qua da (kìm, bông gòn, gạc vô khuẩn, khăn mổ có
lỗ, dung dịch sát trùng: cồn và/hoặc iodine). Lidocain 1% hoặc 2% dùng
cho gây tê tại chỗ được chứa trong ống tiêm gắn với kim nòng nhỏ số 20 –
22 (20 – 22 gauge).
- Kim chọc hút hoặc catheter có nòng số 16 – 19 (16 – 19 gauge), dài
khoảng 9 – 10 cm, thường dùng kim chọc hút số 18 (18 gauge). Ống tiêm cỡ
20 – 50 ml dùng để gắn trực tiếp với kim chọc hút hoặc gián tiếp qua ống nối
chạc ba có khóa điều chỉnh. Các ống nghiệm, lọ (bằng thủy tinh hoặc bằng
nhựa) dùng đựng các mẫu thử làm xét nghiệm. Máy hút áp lực âm và một ống
dây nối với máy hút để hút loại bỏ mủ ra khỏi khoang ổ áp xe phổi.
Chuẩn bị bệnh nhân
- Bệnh nhân được khai thác tiền căn, bệnh sử cẩn thận, đặc biệt các
bệnh lý rối loạn đông máu, sử dụng các thuốc kháng đông và phản ứng với
các thuốc gây tê. Khám lâm sàng (nhìn, sờ, gõ, nghe) kết hợp với phân tích
hình ảnh trên X-quang phổi thẳng và nghiêng sẽ giúp xác định vị trí ổ áp xe
phổi. Trong những trường hợp nghi ngờ áp xe phổi, CT scan ngực giúp xác
định vị trí ổ áp xe phổi. Ngoài ra, siêu âm ngực cũng là phương tiện chẩn
đoán có ích sẽ giúp xác định hướng vị trí chọc hút mủ ổ áp xe phổi xuyên
thành ngực một cách chính xác. Tiến hành làm đầy đủ các xét nghiệm tiền
phẫu như công thức máu, thời gian chảy máu, đông máu (TS-TC), thời gian
prothrombin, ion đồ máu, chức năng gan, chức năng thận
- Giải thích cho bệnh nhân, thân nhân rõ ràng về tình trạng bệnh tật và
độ) và các dấu hiệu của biến chứng sớm (đau ngực, khó thở, chảy máu )
ngay sau khi thực hiện thủ thuật và trong vòng 4 – 24 giờ. Đồng thời chụp
X-quang phổi thẳng và siêu âm ngực kiểm tra đánh giá lượng mủ trong ổ áp
xe sau mỗi 48 – 72 giờ sau thủ thuật cho đến khi xác định không còn mủ
trong ổ áp xe hoặc số lượng mủ quá ít không thể chọc hút được.
Thống kê và xử lý số liệu
Dùng phần mềm EXCEL 2003, STATA phiên bản 6.0 để nhập, quản
lý và xử lý số liệu. Các biến số được phân tích bằng các test thống kê thích
hợp, giá trị P < 0,05 được đánh giá là có ý nghĩa thống kê. Các mối liên quan
được xem xét bằng chỉ số nguy cơ tương đối (RR: Relative Risk) với độ tin
cậy 95%.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian nghiên cứu từ 06/2003 đến 06/2006, có 34 bệnh nhân
gồm 21 trường hợp áp xe phổi (61,77%) và 13 trường hợp kén khí áp xe hóa
(38,23%) có đường kính > 4 – 6 cm nằm cạnh thành ngực không cải thiện với
điều trị nội khoa bảo tồn sau 3 – 7 ngày trở lên đều được chọc hút dẫn lưu ổ áp
xe phổi xuyên thành ngực bằng kim.
Đặc điểm dịch tễ học
Trong 34 trường hợp, có 30 trường hợp (88,24%) nam giới, 4 trường
hợp (11,76%) nữ giới. Tuổi lớn nhất là 65 và tuổi nhỏ nhất là 34. Tuổi trung
bình là 48,1. Về nơi cư ngụ, có 7 trường hợp (20,59%) ở thành phố Hồ Chí
Minh, 27 trường hợp (79,41%) ở các tỉnh khác. Về thói quen hút thuốc lá, 4
trường hợp (11,76%) không hút thuốc, 13 trường hợp (38,24%) hút thuốc lá từ
1 – 20 gói/năm, và 17 trường hợp (50%) hút trên 20 gói/năm.
Bảng 1: Phân bố lứa tuổi
Lứa
tuổi
Số tr.hợp (%)
< 40
tuổi
21 (61,77%)
1/2 – 1
tháng
11 (32,35%)
> 1
tháng
2 (5,88%)
Bảng 4: Triệu chứng lâm sàng lúc nhập viện
Triệu
chứng lâm sàng
Số tr.hợp
(%)
Sốt nhiễm
trùng
34 (100%)
Ho khạc
đàm mủ hôi
30 (88,23%)
Ho khạc
đàm vướng máu
3 (8,82%)
Khó thở 13 (38,23%)
Đau ngực 19 (55,88%)
Mệt mỏi,
chán ăn, sụt cân
29 (85,29%)
trái
12
(35,29%)
Bên
phải
22
(64,71%)
Thùy
trên
5
(14,71%)
Vị trí
ổ áp xe
Thùy
dưới
29
(85,29%)
< 8
cm
23
(67,65%)
Kích
thước ổ áp
xe
> 8
cm
11
(32,35%)
Bảng 7: Kết quả cấy vi trùng học trong mủ ổ áp xe
Kết quả Số
2 lần 18 (52,94%)
3 lần 13 (38,24%)
4 lần 3 (8,82%)
* Có 13 trường hợp (38,23%) cần phối hợp thêm siêu âm và CT scan
ngực hướng dẫn vị trí chọc hút dẫn lưu ổ áp xe.
Bảng 9: Thời gian điều trị thành công áp xe phổi và kén khí áp xe hóa
sau chọc hút dẫn lưu ổ áp xe bằng kim
Thời gian
điều trị
Số tr.hợp
(%)
7 – 10
ngày
9 (26,47%)
11 – 15
ngày
15 (44,12%)
16 – 21 8 (23,53%)
ngày
> 21 ngày 2 (5,88%)
* Thời gian điều trị trung bình là 12,83 ngày
Bảng 10: Biến chứng của chọc hút dẫn lưu ổ áp xe bằng kim
Biến chứng Số tr.hợp
(%)
Đau ngực nơi
chọc hút
7
, cũng ghi nhận là nam (75%) gặp nhiều hơn nữ (25%), thường
gặp lứa tuổi từ 30 – 60.
Về biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng,
Hơn phân nửa các trường hợp có thời gian khởi bệnh dưới 1/2 tháng
(chiếm tỉ lệ 61,77%) và nhập viện vì các biểu hiện sau như sốt nhiễm trùng
(100%), ho khạc đàm mủ hôi (88,23%), khó thở (38,23%), đau ngực (55,88%),
và có 3 trường hợp ho khạc đàm vướng máu (8,82%). Phần lớn các trường hợp
mệt mỏi, chán ăn, sút cân (85,29%). So với các tác giả khác
(1,3,4,6,11,12,15,16)
cũng
ghi nhận các biểu hiện triệu chứng của áp xe phổi tương tự như trong nghiên
cứu của chúng tôi. Tất cả các trường hợp đều được chẩn đoán xác định bằng chụp X-
quang phổi thẳng sau-trước qui ước và X-quang phổi nghiêng. 100% trường
hợp sang thương ổ áp xe ở một bên phổi; bên phải nhiều hơn bên trái
(64,71% so với 35,29%); thùy dưới nhiều hơn thùy trên (85,29% so với
14,71%); và 67,65% trường hợp ổ áp xe có kích thước < 8 cm. Nghiên cứu
của chúng tôi cũng phù hợp trong y văn
(1,2,4,6,9,11,12,13,15,16,17,18)
, khoảng 60 –
80% trường hợp các ổ áp xe phổi thường khu trú bên phải và ở thùy dưới.
Các dạng sang thương ổ áp xe trên X-quang phổi, chúng tôi gặp hai dạng:
dạng áp xe phổi (hình đám mờ có hoại tử trung tâm, có mực nước hơi nằm
cao trong vùng hoại tử, thành vỏ ổ áp xe dày) và dạng kén khí phế quản áp
xe hóa (thành vỏ kén mỏng, trong kén có mực hơi nước). Ngoài ra, có 9
trường hợp có hình ảnh tràn dịch màng phổi, có thể là biểu hiện của ổ áp xe
phổi hoặc kén khí phế quản vỡ vào khoang màng phổi hoặc phản ứng viêm
màng phổi cạnh ổ áp xe phổi. Hình ảnh màng phổi kèm theo cũng được ghi
phổ rộng, kháng viêm, bệnh nhân đã cải thiện triệu chứng một cách rõ rệt
sau lần chọc hút dẫn lưu ổ áp xe lần đầu tiên (giảm hoặc hết sốt nhiễm trùng,
ho khạc đàm, khó thở, đau ngực và ăn ngủ được ). Trong nghiên cứu của
chúng tôi, thời gian điều trị thành công áp xe phổi và kén khí áp xe hóa sau
chọc hút dẫn lưu ổ áp xe bằng kim trung bình là 12,83 ngày, trong đó thời
gian đều trị hết ổ áp xe sau 7 – 15 ngày chiếm tỉ lệ nhiều nhất (24 trường
hợp, 70,59%); kế đến là sau 16 – 21 ngày (8 trường hợp, 23,53%); chỉ có 2
trường hợp (5,88%) kéo dài đến 4 tuần. Trong khi theo y văn
(1,4,6,11,12,15,16)
,
thời gian điều trị nội khoa bảo tồn thành công là từ 6 – 8 tuần đối với áp xe
phổi và kén khí phế quản áp xe hóa (đặc biệt những ổ áp xe < 6 cm). Như
vậy, biện pháp chọc hút dẫn lưu ổ áp xe trong nghiên cứu của chúng tôi đã
rút ngắn đáng kể thời gian sử dụng điều trị kháng sinh, thời gian nằm viện
(trung bình từ 10 – 20 ngày), cũng như gián tiếp giảm chi phí điều trị cho
bệnh nhân. Kết quả điều trị của chúng tôi cũng tương tự với các nghiên cứu
của các tác giả khác như Grinan N.P.
(5)
và Weissberg D.
(20)
, thời gian điều trị
thành công áp xe phổi sau chọc hút dẫn lưu ổ áp xe bằng kim trung bình là
từ 10 – 15 ngày. Khi so sánh với phương pháp dẫn lưu ổ áp xe phổi bằng
catheter (một phương pháp dẫn lưu ổ áp xe phổi khác)của các tác giả Ha
H.K. et al
(7)
, Van Sonnenberg E. et al
(18)
, và Yellin A. et al
(21)
bằng kim, cũng như tiền mê và gây tê cẩn thận sẽ góp phần vào thành công
của điều trị. Đồng thời, điều này cũng cho thấy độ an toàn của phương
pháp điều trị này đối với các áp xe phổi hoặc kén khí phế quản áp xe hóa
có đường kính > 4 – 6 cm nằm cạnh thành ngực.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi bước đầu cho thấy được vai trò
điều trị chọc hút dẫn lưu ổ áp xe xuyên thành ngực bằng kim phối hợp
trong điều trị áp xe phổi hoặc kén khí phế quản áp xe hóa có đường kính >
4 – 6 cm nằm cạnh thành ngực không cải thiện với điều trị nội khoa bảo tồn
sau 3 – 7 ngày trở lên với hiệu quả điều trị cao (100%), thời gian điều trị
thành công ổ áp xe trung bình 12,83 ngày, (từ 7 – 20 ngày), rút ngắn thời
gian sử dụng kháng sinh, giảm số ngày nằm viện, gián tiếp giảm chi phí
điều trị cho bệnh nhân. Đồng thời phương pháp này tương đối an toàn, dễ
thực hiện, ít tai biến và biến chứng. Tuy còn nhiều vấn đề cần làm sáng tỏa
thêm, nhưng kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ làm cơ sở cho các nghiên
cứu tiếp theo, đặc biệt trong điều trị sớm các áp xe phổi hoặc kén khí phế
quản áp xe hóa có đường kính > 4 – 6 cm nằm cạnh thành ngực nhằm nâng
cao hiệu quả điều trị và hạn chế các biến chứng của bệnh.