TẬP CƠ ĐÁY CHẬU VÀ PHẪU THUẬT TREO CỔ BỌNG ĐÁI TÓM TắT Mục tiêu nghiên - Pdf 20

TẬP CƠ ĐÁY CHẬU
VÀ PHẪU THUẬT TREO CỔ BỌNG ĐÁI TÓM TắT
Mục tiêu nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả
của phương pháp tập cân cơ vùng đáy chậu và các phương pháp phẫu thuật
trong điều trị tiểu không kiểm soát lúc gắng sức ở phụ nữ.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu 50 nữ bệnh nhân
được chẩn đoán là tiểu không kiểm soát lúc gắng sức được điều trị tại bệnh
viện Bình Dân từ tháng 12/2001 đến tháng 7/2003. Những bệnh nhân này
được điều trị và theo dõi hoặc bằng phương pháp tập cân cơ vùng đáy chậu
hoặc bằng phương pháp phẫu thuật võng cổ bọng đái bằng cân cơ thẳng
bụng hay phương pháp TVT.
Kết quả: Trong số 39 bệnh nhân được điều trị bằng tập cân cơ đáy
chậu, chúng tôi ghi nhận có 12 trường hợp (31%) thành công và 17 trường
hợp (43%) có cải thiện.
Theo dõi 13 trường hợp được điều trị bằng võng cổ bọng đái, bằng
cân cơ thẳng bụng (8 trường hợp) hoặc bằng phương pháp TVT (5 trường
hợp), tất cả đều xem như được chữa khỏi, không có trường hợp nào tái phát
sau 1 năm. Không ghi nhận biến chứng nào đáng kể ngoại trừ có một trường
hợp bị nhiễm nhẹ vết mổ, 3 trường hợp thấy căng vùng chậu.
Kết luận: Tập cân cơ đáy chậu và các phương pháp điều trị ngoại
khoa như võng cổ bọng đái bằng cân cơ thẳng bụng hay TVT khá đơn giản
và có hiệu quả. Tuy nhiên, để đánh giá hiệu quả của những phương pháp
này, cần phải theo dõi lâu dài hơn và dựa trên một số lượng bệnh nhân nhiều
hơn.
ABSTRACT
THE EFFECTS OF PELVIC FLOOR MUSCLE EXERCISES AND
PUBOVAGINAL SLING SURGERY ON STRESS URINARY
INCONTINENCE IN WOMEN

chức năng, điều trị bằng thuốc, điều trị phẫu thuật. Đối với dạng TKKSLGS,
hướng điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố, vấn đề là lựa chọn phương pháp
thích hợp cho bệnh nhân. Đến nay, tại Bệnh viện Bình Dân đã có hai công
trình nghiên cứu được báo cáo về các phương pháp điều trị ngoại khoa cho
TKKSLGS
11,15
(Treo cổ bọng đái bằng kim và các phương pháp khác như :
Marion, Marshall Marchetti, Leadbetter…).
Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá tình hình điều trị TKKSLGS
tại bệnh viện Bình Dân và từ đó đề ra hướng điều trị thích hợp cho bệnh
nhân nhằm áp dụng cho những bệnh nhân sau này.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiền cứu, thu tập các thông tin qua trực tiếp từ bệnh nhân và
hồ sơ bệnh án của bệnh nhân được chúng tôi điều trị tại Bệnh viện Bình Dân từ
tháng 12 - 2001 đến 7- 2003. Những nữ bệnh nhân này được chẩn đoán là tiểu
không kiểm soát lúc gắng sức, được điều trị (nội khoa hoặc bằng phẫu thuật) và
được theo dõi sau 1, 3, 6 tháng và hơn 1 năm.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Điều trị
Điều trị nội khoa:
Điều trị chính:
- Tập cân cơ đáy chậu : mọi bệnh nhân.
Điều trị phụ :
- Tiểu đúng giờ
- An kiêng: những bệnh nhân mập
- Driptane (Oxybutynine): Khi TKKSLGS kết hợp với tiểu gấp
- Kháng sinh : nếu có nhiễm trùng.
- Estrogene (cho người mãn kinh): Ovestin đặt âm đạo1 viên / ngày
-Phẫu thuật
Dùng phương pháp phẫu thuật võng cổ bọng đái bằng cân cơ thẳng bụng

Số bệnh nhân điều trị nội khoa: 39
Số bệnh nhân điều trị phẫu thuật: 13
Trong số 50 trường hợp được điều trị và theo dõi, chúng tôi có 39
trường hợp điều trị bằng nội khoa, 11 trường hợp điều trị bằng phẫu thuật.
Trong số 39 điều trị nội khoa, có 2 trường hợp thất bại nên phải chuyển sang
điều trị phẫu thuật, vì vậy tổng số trường hợp phẫu thuật là 13
Tuổi
Tuổi lớn nhất: 87.Tuổi nhỏ nhất: 25
Số lượng bệnh nhân theo lứa tuổi được thể hiện theo biểu đồ sau:

Điều trị nội khoa
Số lượng bệnh nhân:
Kết quả 39 trường hợp như sau:
- Thành công: 12 trường hợp (31 %)
- Trường hợp cải thiện: 17 trường hợp (43%).
- Thất bại: 10 trường hợp (26 %)
Kết quả theo thời gian điều trị:
- Nhóm từ 1 –3 tháng: có 10 trường hợp. Trong số này không có bệnh
nhân nào thành công, 6 trường hợp trường cải thiện và 4 trường hợp thất bại
- Nhóm từ 3- 6 tháng: Trong số 8 trường hợp, có 2 trường hợp thành
công, 3 trường hợp cải thiện, 3 trường hợp thất bại.
- Nhóm > 6 tháng: Trong số 21 trường hợp, có 10 trường hợp thành
công, 8 trường hợp trường cải thiện và 3 trường hợp thất bại

Dạng bệnh và kết quả điều trị nội khoa:
Chúng tôi chia 2 nhóm bệnh:
- Dạng ĐKKSLGS đơn
thuần: Trong số 15 trường hợp, có 6 trường hợp thành công, 7 trường hợp
trường cải thiện và 2 trường hợp thất bại
- Dạng phối hợp: Trong số 24 trường hợp, có 6 trường hợp thành

- Nhóm mắc bệnh > 1 năm: 12 trường hợp
Kết quả
Bảng 1 – Kết quả điều trị ngoại khoa
VCBĐBCCTB TVT
Th
ời
gian
Thành
công
Th
ất
bại
Thành
công
Th
ất
bại
Sau
mổ
8 0 5 0
Sau
1 tháng
7 0 5 0
Sau
3 tháng
6 0 4 0
Sau
6 tháng
6 0 3 0
> 1

.
Điều trị nội khoa bao gồm phương pháp tập luyện, dùng thuốc. Trong số các
phương pháp tập phục hồi chức năng vùng đáy chậu, chúng tôi chỉ chọn lựa
phương pháp tập cơ vùng đáy chậu kỹ thuật bằng tay. Vì phương pháp này dễ
làm, bệnh nhân có thể tự tập ở nhà và cũng được đánh giá có hiệu quả tốt mà ít
tốn kém. Hiệu quả của tập cơ vùng đáy chậu đơn độc mà không kèm các phương
pháp khác như tác động ngược sinh học là từ 56% đến 95%
1,6
. Các phương pháp
khác như: kích thích điện, tác động ngược sinh học… chúng tôi không thực hiện
được vì không có điều kiện về trang bị cũng như nhân lực.
Các thuốc sử dụng cho dạng TKKSLGS thường là một loại kích thích 
(Sulfate d’ephedrine, noréphédrine, chlorure de phenylpropanolamine). Nhưng
nói chung những loại thuốc này có tác dụng phụ nặng so với hiệu quả của nó nên
gần đây người ta khuyên không nên dùng
19
.
Về ngoại khoa, hai phương pháp treo cổ bọng đái bằng cân cơ thẳng bụng
và TVT ngày nay khá được ưa thích vì hiệu quả và chỉ định rộng của nó
9
.
Phương pháp treo cổ bọng đái bằng võng dưới niệu đạo được chỉ định cho cả
dạng suy cơ thắt và dạng niệu đạo quá di động là một yếu tố phù hợp với một nơi
thiếu thốn cận lâm sàng về niệu động học. Khi dùng phương pháp này, không
cần phải xác định dạng bệnh là suy cơ thắt hay là niệu đạo quá di động mà chỉ có
niệu động học và Xquang mới xác định được chính xác
2
.
Tiêu chuẩn để đánh giá kết quả
Chúng tôi chỉ đánh giá trên những bệnh nhân đã được điều trị nội khoa từ

với độ tin cậy là 95% thì cho thấy dạng bệnh không có ảnh hưởng gì đến kết
quả điều trị.
Ngược lại, đối với độ nặng của bệnh, qua nghiên cứu chúng tôi thấy có
ảnh hưởng đến kết quả điều trị, tức là độ bệnh càng cao (càng nặng) thì hiệu
quả càng kém. Qua kiểm định thống kê với độ tin cậy là 95% cho thấy độ bệnh
có ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Tức là bệnh càng nặng thì hiệu quả điều trị
càng thấp.
Như vậy, qua nghiên cứu cho thấy phương pháp điều trị nội khoa
bước đầu có khả quan. Nếu tính chung kết quả thành công và cải thiện thì có
một tỉ lệ tương đối cao. Cần quan tâm đến vấn đề độ bệnh và thời gian điều
trị, đồng thời điều trị càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, để có một kết luận
khách quan hơn, chúng ta cần nghiên cứu trên số bệnh nhân nhiều hơn và
thời gian theo dõi dài hơn.
Điều trị ngoại khoa
Về điều trị phẫu thuật, chúng tôi có 13 bệnh nhân: 8 bệnh nhân được phẫu
thuật bằng phương pháp VCBĐBCCTB và 5 bệnh nhân được phẫu thuật bằng
phương pháp TVT.
Chỉ định phẫu thuật trong 13 bệnh nhân này có 2 trường hợp được chuyển
sang mổ sau khi điều trị nội khoa thất bại (2 trường hợp này ở độ II), có 2 trường
hợp bệnh tái phát sau khi được mổ để điều trị TKKSLGS (1 trường hợp bằng
phương pháp RAZ, 1 trường hợp sửa thành trước âm đạo), 1 trường hợp có kèm
sa thành trước âm đạo. Các trường hợp còn lại chỉ định mổ vì yêu cầu của bệnh
nhân do không chấp nhận được bệnh.
Đa số những bệnh nhân này than phiền về ảnh hưởng của bệnh đến sinh
hoạt của họ. 11 trên 13 trường hợp không chấp nhận được bệnh, 2 trên 13 trường
hợp bị ảnh hưởng nhiều và không có trường hợp nào bị ảnh hưởng ít. Về mức độ
bệnh: đa số là độ II và độ III (9 trên 13 trường hợp), có 4 trường hợp độ I. Tuy
nhiên, 4 bệnh nhân độ I này than phiền đã bị nhiều năm, không chấp nhận được
bệnh, yêu cầu được mổ sớm.
Đối với phương pháp VCBĐBCCTB, thời gian nằm viện hậu phẫu

90% theo dõi 3 năm17.
Biến chứng
Đối với phương pháp VCBĐBCCTB, chúng tôi không có ghi nhận
một biến chứng nào đáng kể, chỉ một trường hợp bị nhiễm nhẹ vết mổ, có
thể là do bóc tách nhiều vết mổ do sẹo cũ dính. Chúng tôi ghi nhận 2 trường
hợp bệnh nhân cảm thấy căng nhẹ ở âm đạo.
Đối với phương pháp TVT, có một trường hợp cảm giác căng nhẹ ở âm
đạo và 1 trường hợp đau khi giao hợp.
Với một số lượng bệnh nhân còn hạn chế và thời gian theo dõi ngắn,
chúng tôi chưa có thể đánh giá hết các trường hợp biến chứng, tuy nhiên theo
một nghiên cứu gần đây thì phương pháp này là một trong những phương pháp ít
gây biến chứng
5,10
. Những biến chứng khác thường được đề cập đến như lở mòn
chỗ võng niệu đạo, bọng đái bị kích thích, ứ đọng nước tiểu, tụ máu vùng chậu
húng tôi không có ghi nhận trường hợp nào.
KẾT LUẬN
Điều trị nội khoa là phương pháp chọn lựa đầu tiên. Nếu thất bại sẽ
chuyển sang phương pháp phẫu thuật. Chỉ định ngoại khoa đặt ra trong các
trường hợp sau: sau điều trị nội thất bại; sau khi đã mổ bằng một phương pháp
khác thất bại; có bệnh lý đi kèm như sa sinh dục, sa bọng đái; bệnh nặng bệnh
nhân than phiền nhiều, không chấp nhận được.
Kết quả điều trị nội khoa khá khả quan. Mặc dù trong điều kiện hạn chế
về trang bị máy móc cũng như nhân sự, không thể dùng các phương pháp như
kích thích điện, tác động ngược sinh học…nhưng phương pháp tập cơ sàn chậu
có thể áp dụng cho bệnh nhân. Phương pháp này đơn giản, dễ tập, bệnh nhân có
thể tự tập ở nhà mà vẫn có hiệu quả. Mặt khác phương pháp này không làm tốn
kém nhiều cho bệnh nhân.
Điều trị bằng phương pháp phẫu thuật là phương pháp chọn lựa sau cùng,
sau điều trị nội khoa. Mặc dù số lượng bệnh nhân còn thấp và thời gian theo dõi


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status