MỐI LIÊN QUAN GIỮA GEN VÀ BIỂU HIỆN CỦA
BỆNH NHI SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE
Phần 1 BÀN LUẬN
Đặc điểm dịch tễ học
Tuổi
Trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi trung bình 9.8 ± 3.2, cao hơn so
với các kết quả nghiên cứu của Halstead SB
(18)
, Nguyễn Công Khanh
(9)
, lứa
tuổi từ 5-9 tuổi bị sốt xuất huyết Dengue nhiều nhất. Có thể do tuổi mắc
bệnh sốt xuất huyết ngày càng gặp nhiều hơn ở trẻ lớn và người lớn.
Giới tính
Trong mẫu nghiên cứu tỉ lệ nam/nữ 1.27:1; tương tự báo cáo của
Nguyễn Trọng Lân và cộng sự
(10,6)
. Theo phần lớn các tác giả, tỷ lệ nam
mắc bệnh SXH-D thường cao hơn nữ và tỷ lệ nam/nữ trung bình 1.32-3/1
(11)
.
Một số nghiên cứu bệnh nhân được làm xét nghiệm phân lập siêu vi thì tỷ lệ
nam/nữ 1.5/1
(13)
.
Địa chỉ
252 bệnh nhân có địa chỉ ở thành phố, tập trung chủ yếu tại các quận
Sốc
Sốc SXH-D được ghi nhận trong 153 ca, tỷ lệ 51.5%, sốc xảy ra từ
ngày thứ 3 đến thứ 6, hầu hết các trường hợp vào sốc vào ngày thứ 4 và 5
chiếm tỷ lệ lần lượt là 37,3%, 45,8%, tương tự như báo cáo của Nguyễn
Thanh Hùng, Nguyễn Trọng Lân
(8)
. Trong nhóm này, tỉ lệ tràn dịch màng
phổi, màng bụng, mức độ xuất huyết tiêu hoá chiếm tỉ lệ nhiều hơn nhóm
không sốc, tương tự các báo cáo trước đây về sốc xuất huyết Dengue của
WHO, bệnh viện Nhi đồng 1
(8,25)
.
Đặc điểm cận lâm sàng
Cô đặc máu
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, dung tích hồng cầu trung bình
ở nhóm có sốc cao hơn nhóm không sốc với trung bình lần lượt 48.9 ± 3.9;
45.5 ± 4.3 Điều này được giải thích do cô đặc máu là một trong những tiêu
chuẩn chẩn đoán SXH-D. Dung tích hồng cầu tăng trong tất cả các trường
hợp SXH-D, đặc biệt là trong những trường hợp có sốc. Theo Nguyễn
Tường Vân
(17)
, Vũ Thị Quế
(12)
, dung tích hồng cầu tăng chiếm 63%, Nguyễn
Bá Duy
(4)
, dung tích hồng cầu tăng trong 100% bệnh nhân bị sốc SXH-D, có
trường hợp tăng cao trên 56%.
Tiểu cầu
100% các trường hợp có tiểu cầu giảm < 100000/m
nhóm SXH-D chung (36,5%) cũng như nhóm SXH-D có sốc (37,8%) và
SXH-D không sốc (34,7%). Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (p<
0,05) với OR lần lượt là 2,13; 2,25;1,97. Theo kết quả nghiên cứu của WHO
2004 về “sự tác động của HLA trên bệnh nhiễm virus Dengue” ở người Việt
Nam cũng cho kết quả tương tự là HLA nhóm I có Allele A24 có tác động
“nhạy cảm”. Còn đối với dân tộc Thái Lan, Allele có tác động nhạy cảm là
A
*
0207 (bảng 6).
Tỷ lệ Allele HLA-DRB1
*
0901 trong nhóm chứng cao hơn trong nhóm
SXH –D có sốc và không sốc, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0.05).
Năm 2004 WHO đã công bố Allele HLA-DRB1
*
04 ở dân tộc Mexican có khả
năng “đề kháng” khi bị nhiễm virus Dengue.
Giảm HLA-DRB1
*
0901 và tăng HLA-A24 có ý nghĩa đáng kể trong
SXH-D và sốc SXH-D ở 2 nhóm dân số nghiên cứu. Những Alleles này có
lẽ chi phối đến sự nhạy cảm và đề kháng với SXH-D và sốc SXH-D
(19)
.
Bảng 6: Tác động của HLA lên nhiễm siêu vi Dengue (WHO 2004)
HLA Tác
động
Dân tộc
Nhóm
Thái
B13,
B44, B52, B62,
B74, B77, B4
6,
B51
bảo vệ
Nhạy
cảm
Thái
HLA Tác
động
Dân tộc
Nhóm
II
DRB1*04
đề
kháng
Mexican
Nhóm
III
Kích ho
ạt
TNF - a
Không
kết hợp
3 Bộ Y tế (2001), Quy định về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue, Hà Nội
4 Bùi Xuân Bách và cs (1970), “Bệnh Sốt xuất huyết ở trẻ em năm
1969 tại BV B Hà Nội”, Đặc san sốt xuất huyết do muỗi truyền, Hội Y Học
Hà Nội tr 52-55
5 Đỗ Quang Hà, Vũ Thị Quế Hương, Huỳnh Thị Kim Loan, Cao
Minh Thắng(2000), Giám sát Vi Rút dịch Sốt xuất huyết Dengue tại các tỉnh
phía Nam từ 1987-2000. Tạp chí Thời sự Y Dược Học TPHCM 2000
6 Halstead S.B. (1997), “Epidemiology of Dengue and Dengue
haemorrhagic fever”.Dengue and Dengue haemorragic fever, Gubler D J,
Kuno G, editors, Walling ford, UK: CAB international,pp 23-44
7 Kenji Hirayama, MD, PhD, (2003) “ Searching for Susceptible
or Resistant genes to Dengue Hemorhagic” Department of Immunogenetics
Institute of Tropical Medicine Nagasaki Univ. Nagasaki, Japan
8 Kouri G.P., Guzman M.G., Bravo J.R., and Triana C. (1980)
“Dengue haemorrhagic fever and Dengue shock syndrome: lessons from the
Cuba epidemic 1981”. Bulletin of the World Health Organization 67(4),
375-380
9 Nguyễn Bá Duy, Ngô Khải (1974) – Khảo sát thống kê Sốt xuất
huyết tại trại IIID, trong năm 1972 và 1973. Kỷ yếu Bệnh viện Nhi đồng, số 2,
đặc biệt về sốt xuất huyết, tr 39-40
10 Nguyễn Công Khanh(1997),”Sốt xuất huyết Dengue”, Cẩm nang
điều trị nhi khoa, Viện Bão Vệ Sức khoẻ Trẻ Em, Nhà Xuất Bản Y Học, tr
341-344
11 Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Trọng Lân và cs (2001), “Điều trị
SXH-D tại BV Nhi Đồng I, Tp HCM, 1991-2000” Thời Sự Y Dược Học TP
Hồ chí Minh, số 3, tr 149-152.
12 Nguyễn Thị Bạch Huệ (2002), Các yếu tố nguy cơ sốt xuất huyết
dạng não ở trẻ em, Luận án Bác sĩ Chuyên khoa cấp II, chuyên nghành Nhi,
pp
22 Tiêu Ngọc Trân (2005), Mối liên quan giữa cholesterol,
albumin, SGOT, SGPT và độ năng của bệnh sốt xuất huyết Dengue, Luận
văn cao học chuyên ngành Nhi
23 Trương Anh Tấn (2005) Nhận xét về týp huyết thanh gây bệnh
sốt xuất huyết Dengue và mức độ nặng của bệnh tại bệnh viện Nhi Đồng II,
Luận án Bác sĩ Chuyên khoa cấp II, chuyên nghành Nhi, pp
24 Vũ Thị Quế và cs (1994) – Khảo sát bệnh sốt xuất huyết trại IIB
– Bệnh viện Nhi đồng. Kỷ yếu Bệnh viện Nhi đồng, số 2, đặc biệt về sốt
xuất huyết, 1974, tr 36-60
25 William W.H, Jessie R.G.et al (1997), “ Bleeding disorders”,
Current Pediatric diagnosis and treatment – 13
th
edition, 768-769.
26 World Health Organization (1997), Dengue heamorrhagic fever:
diagnosis, treatment, prevention and control, 2
nd
edition, Geneva: WHO