LỜI NÓI ĐẦU
T rong nền kinh tế thị trường hiện nay, quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng là
một quan hệ gắn bó mật thiết, có tác động qua lại và hỗ trợ cho nhau trong quá trình
phát triển. Hoạt động ngân hàng với rất nhiều dịch vụ đã phần nào đáp ứng được nhu
cầu của xã hội cũng như của khách hàng. Tuy nhiên, còn rất nhiều dịch vụ chưa được
ngân hàng khai thác hết. Mặt khác, các ngân hàng thương mại ở nước ta hiện nay đang
trong quá trình thực hiện chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh trước yêu cầu mở
của thị trường dịch vụ tài chính, hội nhập quốc tế, chuẩn bị thực hiện các cam kết trong
khuôn khổ WTO. Trọng tâm của chiến lược này là hiện đại hoá công nghệ, phát triển
dịch vụ, nâng cao trình độ quản trị điều hành theo chuẩn mực quốc tế… Bởi vậy, phát
triển và đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng trở thành vấn đề tất yếu khách quan, là vấn đề
cấp bách đối với tất cả các ngân hàng thương mại trong nước.
Trong các dịch vụ đó thì bảo lãnh ngân hàng là một dạng dịch vụ ngân hàng hiện
đại. Bảo lãnh xuất hiện vào giữa những năm 60 ở một thị trường nội địa nước Mỹ. Sau
đó, vào đầu những năm 70, bảo lãnh bắt đầu được sử dụng trong các giao dịch thương
mại quốc tế. Và kể từ đó đến nay, với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại giao
dịch (tài chính lẫn phi tài chính, thương mại lẫn phi thương mại), vị trí của bảo lãnh
ngân hàng ngày càng được củng cố một cách chắc chắn. Bảo lãnh ngân hàng là một
trong các hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng. Nhưng khác các hình thức cấp
tín dụng khác như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính; khi thực hiện nghiệp vụ bảo
lãnh, tổ chức tín dụng không phải cung ứng vốn cho khách hàng mà chỉ dùng uy tín và
khả năng tài chính của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho khách hàng. Như vậy,
về bản chất thì bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nó
mang tính phái sinh (phát sinh từ nghĩa vụ chính được giao kết giữa khách hàng với
bên thứ ba). Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đem lại rất nhiều tiện ích cho khách hàng.
Do được bảo lãnh mà trong nhiều trường hợp, khách hàng không phải xuất quỹ, được
thu hồi vốn nhanh, được kéo dài thời gian thanh toán hàng hoá, dịch vụ, nghĩa vụ nộp
thuế… Chính vì vậy, bảo lãnh ngân hàng ngày càng phát triển và đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển kinh tế. Hoạt động này không chỉ đem lại nguồn thu ngày
càng lớn cho các tổ chức tín dụng, mà quan trọng hơn nó đem lại sự tin tưởng của các
chủ thể khi giao kết hợp đồng. Nó chính là chất xúc tác thúc đẩy các hoạt động thương
yếu là thấu chi. Do lợi nhuận từ cho vay rất cao, nhiều chủ ngân hàng đã lạm dụng ưu
thế của chứng chỉ tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi khống để cho vay. Thực trạng
này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản.
Sự sụp đổ của ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán, ảnh hưởng xấu
tới hoạt động buôn bán. Hơn nữa, lãi suất cao nên những nhà buôn không thể sử dụng
nguồn này. Trước tình hình đó, nhiều nhà buôn tự thành lập ngân hàng, gọi là NHTM.
Như vậy, NHTM được hình thành xuất phát từ vận động của tư bản thương nghiệp, và
gắn liền với quá trình luân chuyển của tư bản thương nghiệp. NHTM cũng thực hiện
các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng như huy động tiền gửi, thanh toán hộ, cất
giữ hộ và cho vay. Để đảm bảo an toàn, NHTM ban đầu không cho vay đối với người
tiêu dùng, không cho vay trung và dài hạn, không cho vay đối với Nhà nước.
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã có những
bước tiến rất nhanh. Trước hết là sự đa dạng hoá các loại hình ngân hàng và các hoạt
động ngân hàng. NHTM từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn đã mở rộng cho vay trung và dài
hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản. Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi,
các ngân hàng đã mở rộng hình thức vay như vay NHTW, vay các ngân hàng khác.
Công nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản của ngân
hàng. Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, các loại thẻ đang thay
thế dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng 24h, dịch vụ ngân hàng tại nhà tạo ra các tiện
ích ngày càng lớn cho dân chúng.
Như vậy, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Có
nhiều cách định nghĩa về ngân hàng. Nhưng khi xem xét trên phương diện các loại
hình dịch vụ mà chúng cung cấp thì Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ
4
thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển
hoá và dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều
5
bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (MO), thứ hai là số dư tài khoản tiền gửi
giao dịch của các khách hàng tại các ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản
tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kì hạn… Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản
tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hoá
và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo ra tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra
phương tiện thanh toán (tham gia tạo ra M1).
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay. Khi
khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản
thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác, từ
đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể
cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng
tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay. Các nhà
nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo ra chịu tác động trực
tiếp của các nhân tố như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân
hàng, tỷ lệ tiền gửi không phải là tiền gửi thanh toán…
1.1.2.3. Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc
gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ.
Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí; ngân hàng đưa ra cho
khách hàng nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, các
loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy
khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bừ trừ với nhau thông qua
NHTW hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng
càng đạt hiêụ quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy,
công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý tìm cách áp
dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống
nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa
cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng
tiềm năng. Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày
càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong
các ngành công nghệ cao. Mặc dù rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao
song lãi lại lớn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đất.
1.1.3.4. Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng
trong kho bảo quản, đồng thời giao cho khách hàng tờ biên nhận. Do khả năng chi trả
bất cứ lúc nào cho giấy chứng nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền –
dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành.
Đây là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng. Ngày nay, vật có giá được tách khỏi
tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảo quản.
1.1.3.5. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
7
Khi các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chỉ
bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh toán qua
ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không
cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách (còn được
gọi là séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của
thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã
góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân.
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thể thức thanh toán được phát
triển như: uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện, thẻ…
1.1.3.6. Quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền cho các doanh nghiệp và cá nhân nên
ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm
trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp
cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ.
1.1.3.7. Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ
phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh
chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng
khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán.
1.1.3.12. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó bảo
đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong
hoạt động, mất khả năng thanh toán.
1.1.3.13. Cung cấp các dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn
phòng khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân
hàng đại lý cho các ngân hàng khác như: thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ
tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
1.2. DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NHTM (BLNH)
1.2.1. Khái niệm, bản chất và vai trò của BLNH
1.2.1.1. Khái niệm
Quy chế BLNH ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày
26/6/2006 của Ngân hàng Nhà nước (gọi là quy chế mới) quy định việc thực hiện
nghiệp vụ bảo lãnh của các TCTD đối với khách hàng. Khoản 1 trong Điều 2 của Quy
chế mới quy định: BLNH là cam kết bằng văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên
có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghiã vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả nợ
cho TCTD số tiền đã được trả thay.
Như vậy, quan hệ BLNH ít nhất bao gồm 3 chủ thể: bên bảo lãnh, bên được bảo
lãnh, bên nhận bảo lãnh. TCTD thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh (hay bên bảo lãnh) là các
9
TCTD được thành lập, hoạt động theo Luật các TCTD; trong trường hợp bên nhận bảo
lãnh là các tổ chức và cá nhân nước ngoài thì chỉ các ngân hàng được NHNN cho phép
hoạt động thanh toán quốc tế mới được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. Khách hàng
được TCTD bảo lãnh (hay bên được bảo lãnh) là các tổ chức và cá nhân trong nước và
+ Bên được bảo lãnh: là các khách hàng phải thực hiện các nghĩa vụ chi trả, gồm:
Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
danh, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp
10
liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại một nước, doanh nghiệp tư nhân,
hộ kinh doanh cá thể.
+ Bên nhận bảo lãnh: là các tổ chức, cá nhân, trong và ngoài nước có quyền
hưởng thụ các cam kết bảo lãnh của TCTD.
- BLNH có tính độc lập tương đối so với hợp đồng: Mặc dù mục đích của BLNH
là bồi hoàn cho nguời thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của
người được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng, nhưng việc thanh toán một bảo lãnh chỉ
hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và điêù kiện được quy định trong bảo lãnh.
- Tính phù hợp của bảo lãnh: Khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu TCTD
thanh toán thì TCTD có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do ngưòi thụ hưởng xuất
trình. TCTD bảo lãnh có quyền từ chối thanh toán nếu như chứng từ có dấu hiệu không
hợp lệ hay những điều kiện của bảo lãnh không được đáp ứng.
1.2.1.3. Bản chất và ý nghĩa của BLNH
- BLNH được dùng như một công cụ bảo đảm
Chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh là cung cấp một sự đảm bảo cho người
hưởng bảo lãnh vì nó cung cấp cho họ một khoản bồi hoàn tài chính cho những thiệt
hại do hành vi vi phạm hợp đồng của người yêu cầu bảo lãnh gây ra.
- BLNH được dùng như một công cụ tài trợ
Hầu hết các hợp đồng thi công và thậm chí một số hợp đồng buôn bán lớn đòi hỏi
phải có một khoảng thời gian dài mới thực hiện xong. Điều này đặt ra nhu cầu tài trợ
cho dự án. Người thi công sẽ rất gặp khó khăn về tài chính và chịu nhiều rủi ro nếu như
phải hoàn tất công trình hay từng hạn mục công trình thì mới nhận được thanh toán của
chủ công trình. Vì vậy, công ty xây dựng sẽ thương lượng với chủ công trình về một
khoản tiền tài trợ cho mình. Ngân hàng của công ty xây dựng sẽ phát hành bảo lãnh
hoàn trả tiến ứng trước như một công cụ tài trợ để công ty nhận được khoản tiền ứng
trước từ phía nhà đầu tư. Như vậy, bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín. Ngân
1.2.2.1.2. Bảo lãnh độc lập
Bảo lãnh độc lập: là loại bảo lãnh hiện đại, trong đó nghĩa vụ của ngân hàng và
của người được bảo lãnh hoàn toàn tách rời nhau. Việc thực hiện thanh toán chỉ căn cứ
vào những điều kiện, điều khoản quy định trong văn bản bảo lãnh được thoả mãn mà
thôi. Tuy nhiên tính độc lập cuả loại bảo lãnh này không hoàn toàn tuyệt đối mà phụ
thuộc vào các điều kiện thanh toán đã được quy định trong văn bản bảo lãnh giữa ngân
hàng người thụ hưởng bảo lãnh.
Bảo lãnh độc lập đem lại sự thuận lợi lớn cho người thụ hưởng và cả ngân hàng
bảo lãnh, do vậy nó được sử dụng rất phổ biến trong thương mại quốc tế. Hiện nay, hầu
hết các quy định về bảo lãnh trong lĩnh vực quốc tế đều chỉ quan tâm đến loại bảo lãnh
này.
1.2.2.2. Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh
1.2.2.2.1. Bảo lãnh trực tiếp
Bảo lãnh trực tiếp: là loại bảo lãnh trong đó, ngân hàng phát hành bảo lãnh chịu
trách nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh, người được bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi
hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh .
12
Bảo lãnh trực tiếp thông thường có ba bên tham gia: Ngân hàng phát hành bảo
lãnh, người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh.
1.2.2.2.2. Bảo lãnh gián tiếp
Bảo lãnh gián tiếp: là loại bảo lãnh mà trong đó ngân hàng bảo lãnh đã phát hành
bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hành trung gian phục vụ cho người được bảo lãnh
dựa trên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng. Người được bảo lãnh không phải
bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh mà chính ngân hàng trung gian
chịu trách nhiệm bồi hoàn.
Như vậy, trong bảo lãnh gián tiếp có ít nhất bốn bên tham gia: ngân hàng phát
hành bảo lãnh, ngân hàng trung gian, người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh.
Bảo lãnh gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp người hưởng thụ bảo lãnh là
người nước ngoài và ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia của người thụ hưởng, do
vậy quyền lợi của ngưòi thụ hưởng được bảo vệ chắc chắn hơn.
Các hợp đồng được bảo lãnh như: hợp đồng cung cấp hàng hoá, xây dựng, thiết
kế… Việc khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp không đúng hạn, không đúng
chất lượng cam kết… đều có thể gây tổn thất cho bên thứ ba. BLNH một mặt bù đắp
một phần tổn thất cho bên thứ ba, mặt khác thúc đẩy khách hàng nghiêm chỉnh thực
hiện hợp đồng.
1.2.2.3.5. Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm
Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: là một BLNH do ngân hàng phát hành
cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất
lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách
hàng bị phạt tiền do không thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng về chất lượng
sản phẩm với bên nhận bảo lãnh mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên
nhận bảo lãnh, ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
1.2.2.3.6. Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: Là một BLNH do ngân hàng phát hành cho bên
nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo
hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm các cam
kết với bên nhận bảo lãnh và phải hoàn trả tiền ứng trước nhưng không hoàn trả hoặc
hoàn trả không đủ số tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh thì ngân hàng sẽ hoàn trả số
tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh.
1.2.2.3.7. Các loại bảo lãnh khác
- Bảo lãnh đối ứng: là bảo lãnh do một ngân hàng (bên phát hành bảo lãnh đối
ứng) phát hành cho một ngân hàng khác (bên bảo lãnh) về việc đề nghị bên bảo lãnh
thực hiện bảo lãnh cho các nghĩa vụ của khách hàng của bên phát hành bảo lãnh đối
ứng với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận
bảo lãnh, bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên phát hành bảo lãnh đối
ứng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng cho bên bảo lãnh.
- Xác nhận bảo lãnh: là một BLNH do ngân hàng (bên xác nhận bảo lãnh) phát
hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của
ngân hàng được xác nhận bảo lãnh (bên được xác nhận bảo lãnh) đối với khách hàng.
14
1.2.4.1. Điêù kiện bảo lãnh
Khách hàng được bảo lãnh phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo quy đinh của pháp luật.
- Mục đích đề nghị ngân hàng bảo lãnh là hợp pháp và thuộc các dự án đầu tư
hoặc phương án sản xuất kinh doanh khả thi, hiệu quả.
15
- Có bảo đảm hợp pháp cho nghĩa vụ được bảo lãnh (Trường hợp ký quỹ 100% số
tiền bào lãnh và các khoản phí liên quan không cần thiết điều kiện này).
Các hình thức bảo đảm cho bảo lãnh bao gồm:
+ Ký quỹ, cầm cố tài sản, thế chấp tài sản
+ Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
+ Bảo lãnh đối ứng của các TCTD
+ Các biện pháp bảo đảm hợp pháp khác theo yêu cầu của ngân hàng bảo lãnh và
phù hợp với quy định của pháp luật.
Việc dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm cho bảo lãnh vay vốn, việc áp
dụng hay không áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản cho việc thực hiện nghĩa
vụ bảo lãnh phải thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các
TCTD và các văn bản hướng dẫn của Thống đốc NHTW, của TCTD bảo lãnh.
- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh trong thời hạn cam
kết.
- Có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng và giao dịch tiền gửi, thanh toán với hệ
thống ngân hàng, không có nợ quá hạn khó đòi (trừ nợ khoanh), không có dư nợ do trả
thay bảo lãnh (Trường hợp ký quỹ 100% số tiền bảo lãnh và các khoản phí liên quan
không cần thiết điều kiện này).
- Trường hợp bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu khách hàng phải bảo đảm các điều
kiện theo quy định của pháp luật về thương phiếu.
- Có trụ sở làm việc (đối với pháp nhân) hoặc hộ khẩu thường trú (đối với cá
nhân, hộ kinh doanh cá thể) cùng địa bàn tỉnh, thành phố nơi các chi nhánh ngân hàng
đóng trụ sở (Trường hợp ký quỹ 100% số tiền bảo lãnh và các khoản phí liên quan
tiêu chuẩn chưa). Sau khi thẩm định hồ sơ, ngân hàng đưa ra quyết định bảo lãnh hay
không bảo lãnh (nếu không bảo lãnh, ngân hàng phải trả lời bằng văn bản cho khách
hàng và nói rõ lý do). Khi ra quyết định chấp thuận bảo lãnh, ngân hàng phải cân nhắc
lựa chọn hình thức và nội dung bảo lãnh thích hợp nhất với yêu cầu của khách hàng và
khả năng, kinh nghiệm nghiệp vụ của ngân hàng.
1.2.4.2.3. Ngân hàng ký hợp đồng bảo lãnh với khách hàng, phát hành thư bảo
lãnh
Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng phải phát hành cam
kết bảo lãnh. Khách hàng nhận bản cam kết bảo lãnh do ngân hàng phát hành. Ngân
hàng kiểm tra theo dõi chặt chẽ tiến trình bảo lãnh nhằm phòng vệ rủi ro, đôn đốc
khách hàng thực hiện các nghĩa vụ được bảo lãnh. Cam kết bảo lãnh là văn bản bảo
lãnh của TCTD, bao gồm thư bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh.
Thư bảo lãnh là cam kết đơn phương bằng văn bản của TCTD về việc TCTD sẽ
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Hợp đồng bảo lãnh là thoả thuận bằng văn bản giữa TCTD và bên nhận bảo lãnh
hoặc giữa TCTD, bên nhận bảo lãnh, khách hàng và các bên liên quan (nếu có) về việc
TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho ngân hàng khi khách hàng không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Ngoài hai hình thức trên, theo quy định tại Khoản 1, Điều 11 của Quy chế mới thì
TCTD còn có thể phát hành cam kết bảo lãnh bằng các hình thức khác pháp luật không
17
cấm và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, theo quy định này thì dù TCTD phát
hành cam kết bảo lãnh bằng hình thức nào thì đều phải được thể hiện bằng văn bản.
So với Quy chế cũ thì quy định trên đã có một thay đổi khá quan trọng về mặt
khái niệm. Theo Quy chế cũ, hợp đồng bảo lãnh được hiểu là văn bản thoả thuận giữa
TCTD với khách hàng về quỳên lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và
hoàn trả. Theo Quy chế mới, văn bản thoả thuận này được gọi là hợp đồng cấp bảo
lãnh. Hợp đồng cấp bảo lãnh do bên bảo lãnh, khách hàng và các bên có liên quan (nếu
có) thoả thuận các nội dung về số tiền, thời hạn bảo lãnh và phí bảo lãnh, mục đích bảo
còn phải thanh toán cho TCTD các chi phí hợp lý khác phát sinh liên quan đến giao
dịch bảo lãnh khi các bên có thoả thuận bằng văn bản. Để thực hiện tự do hoá các quan
hệ kinh tế, dân sự, Quy chế mới không quy định mức tối đa của phí bảo lãnh mà để
TCTD và khách hàng thoả thuận trên cơ sở TCTD tự cân nhắc chi phí và mức độ rủi ro
khi thực hiện bảo lãnh để đưa ra mức phí bảo lãnh và được khách hàng chấp nhận
thanh toán.
1.2.4.2.5. Tất toán bảo lãnh
Theo quy định tại Điều 20 của Quy chế mới, nghĩa vụ bảo lãnh của TCTD chấm
dứt trong các trường hợp:
- Khách hàng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh.
- TCTD đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo cam kết bảo lãnh.
- Việc bảo lãnh được huỷ bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
- Thời hạn của bảo lãnh đã hết.
- Bên nhận bảo lãnh đồng ý miễn thực hiện nghiã vụ bảo lãnh cho bên bảo lãnh
hoặc nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt theo quy định của pháp luật.
- Chấm dứt theo thoả thuận của các bên.
Sau khi thư bảo lãnh hết thời hạn hiệu lực hoặc không có thông báo hoặc xác nhận
của bên nhận bảo lãnh về việc hoàn thành nghĩa vụ liên quan đến bảo lãnh, ngân hàng
tiến hành tất toán bảo lãnh. Trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã đựơc
bảo lãnh, bên bảo lãnh phải trả thay và tự động hạch toán nợ vay bắt buộc đối với số
tiền trả nợ thay theo lãi suất nợ quá hạn của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh và
áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ như: phát mại tài sản bảo đảm, trích tài
khoản của bên được bảo lãnh (nếu có thoả thuận), khởi kiện ra cơ quan pháp luật và
các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm khác theo quy định của pháp luât.
Bên được bảo lãnh có trách nhiệm phối hợp thực hiện và chấp hành các biện pháp
xử lý của tổ chức tín dụng bảo lãnh, thực hiện bồi hoàn cho TCTD trong trường hợp
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo lãnh.
1.3. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NHTM
1.3.1. Uy tín của ngân hàng
Bảo lãnh từ một ngân hàng có uy tín giúp tăng độ tin cậy của khách hàng với đối
1.3.3. Pháp luật
Hệ thống pháp luật đồng bộ, thông thoáng; các quy định, chính sách rõ ràng, cụ
thể sẽ giúp cho bảo lãnh phát huy hết tác dụng của nó. Các nhà làm chính sách cần
nghiên cứu kịp thời, để sớm trình cấp thẩm quyền ban hành một số chính sách đồng bộ,
chặt chẽ, phù hợp với nhu cầu phát triển và phù hợp với môi trường kinh tế pháp lý và
hành chính.
Nếu các văn bản pháp quy thường xuyên thay đổi; các văn bản của các bộ, các
ngành có sự chồng chéo, không đồng bộ sẽ làm giảm hiệu quả của loại hình dịch vụ
này.
1.3.4. Trình độ cán bộ
Công nghệ ngân hàng cũng như trình độ đội ngũ cán bộ có ảnh hưởng lớn đến
hoạt động của ngân hàng. Một ngân hàng có công nghệ hiện đại, đội ngũ cán bộ có
trình độ cao, thành thạo về nghiệp vụ bảo lãnh, tinh thông về ngoại ngữ,… sẽ đáp ứng
20
được tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng. Do vậy thường được khách hàng
tin tưởng, có thể sẽ sử dụng nhiều hơn các loại hình dịch vụ khác của ngân hàng. Ngoài
ra còn giảm thiểu các rủi ro phát sinh trong quá trình bảo lãnh.
1.3.5. Khả năng kiểm tra, giám sát
Do phải đối mặt với rất nhiều rủi ro nên để đảm bảo an toàn, các cán bộ tín dụng
phải thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn cũng như hoạt động của khách hàng.
Trường hợp phát hiện khách hàng sử dụng vốn sai mục đích thì có thể xử lý ngay, kịp
thời thu hồi vốn để hoàn trả cho người cho vay. Ngoài ra ngân hàng có thể tư vấn cho
khách hàng để cùng giải quyết khó khăn phát sinh, thúc đẩy và giám sát chặt chẽ khách
hàng trong việc nộp tiền vào tài khoản tiền gửi tại ngân hàng để có nguồn trả nợ.
Ngoài các nhân tố chính trên, còn có một số nhân tố khác cũng tác động đến
DVBL của ngân hàng như: tình hình hoạt động của doanh nghiệp, nhu cầu của khách
hàng, yêu cầu của người cho vay…
21
PHẦN 2
THỰC TRẠNG VỀ DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA
khách hàng có những lợi ích riêng. Chẳng hạn trong bảo lãnh vay vốn, khách hàng có
thể vay vốn với quy mô lớn , thời gian vay dài; giúp cho khách hàng vay vốn trong các
giao dịch mà việc bảo lãnh vay vốn là bắt buộc. Trong bảo lãnh thanh toán, khách hàng
có thể mua bán trả chậm, chậm nộp thuế cho nhà nước trong thời hạn cho phép, các
hợp đồng thuê tài sản, đại lý tiêu thụ, cung cấp dịch vụ trả tiền sau…; ngân hàng sẽ
thanh toán cho người bán trong trường hợp người mua không thanh toán hoặc thanh
toán không đầy đủ đúng hạn. Trong bảo lãnh dự thầu, giúp cho khách hàng có đủ điều
kiện để tham gia vào một giao dịch đấu thầu mà bắt buộc phải có bảo lãnh của ngân
hàng; trường hợp khách hàng bị phạt do vi phạm quy định dự thầu mà không nộp hoặc
nộp không đầy đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì ngân hàng thực hiện nghĩa vụ cam
kết; chuyên viên khách hàng sẵn sàng hướng dẫn khách hàng lựa chọn DVBL cũng
như hoàn tất thủ tục với ngân hàng. Trong bảo lãnh chất luợng sản phẩm, ngân hàng
cam kết chịu toàn bộ trách nhiệm của khách hàng đối với các cam kết về chất lượng
sản phẩm nêu trong hợp đồng mua bán, nếu người bán bị phạt do không thực hiện đúng
các thoả thuận trong hợp đồng về chất lượng sản phẩm với người mua mà không nộp
hoặc nộp không đầy đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh thì ngân hàng sẽ thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh được cam kết…
Các NHTM cổ phần ở Việt Nam cũng ngày càng có uy tín hơn trong nghiệp vụ
bảo lãnh, chẳng hạn như NHTMCP Á Châu ACB có mức phí bảo lãnh như sau:
STT Giao dịch Mức phí Mức phí tối
thiểu
Mức phí tối
đa
1. Phát hành thư bảo lãnh (phí tính trọn tháng)
- Ký quỹ 100% 0,035% / tháng 150.000đ
- Bảo đảm bằng sổ tiết kiệm ACB
0,08% / tháng 200.000đ
- Bảo đảm bằng tài sản khác 0,12% / tháng 300.000đ
2. Tu chỉnh thư bảo lãnh
- Tu chỉnh tăng số tiền bảo lãnh
đấu thầu thực sự. Nếu nhà thầu không tuân thủ theo quy chế đấu thầu, sẽ phải mất
khoản tiền mà ngân hàng đã đứng ra bảo lãnh. Khi trúng thầu (được cấp thẩm quyền
phê duyệt trúng thầu) thì ngân hàng lại tiếp tục lập thư bảo lãnh hợp đồng. Lúc đó, thư
bảo lãnh dự thầu sẽ hết hiệu lực. Do việc quy định mức bảo lãnh dự thầu và việc thực
hiện mức bảo lãnh dự thầu hiện nay thường là 1% (tương đối thấp) nên một số nhà thầu
chấp nhận ứng ra số tiền trên để thực hiện tham gia đấu thầu không lành mạnh. Cụ thể
là:
+ Tham gia đấu thầu để tạo ra sự cạnh tranh giả tạo, nhằm kiếm lợi nhuận thông
qua thỏa thuận với nhà thầu thực sự tham gia đấu thầu.
+ Sẵn sàng đứng tên đấu thầu giúp nhà thầu nào đó thắng thầu với giá thầu thấp.
- Đối với bảo lãnh hợp đồng: Khi công trình được phê duyệt kết quả trúng thầu
cho nhà thầu nào đó đạt điểm kỹ thuật cao nhất và giá bỏ thầu thấp nhất thì ngân hàng
sẽ làm thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng gửi chủ đầu tư, để làm thủ tục ký hợp đồng thi
công.
Thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng phải ghi rõ quyết định phê duyệt tên đơn vị
trúng thầu, công trình trúng thầu, số tiền bảo lãnh, thời gian bảo lãnh. Số tiền bảo lãnh
thường là 5% giá trị trúng thầu. Mục đích bảo lãnh là cam kết của ngân hàng về các sai
phạm của nhà thầu, nếu nhà thầu vi phạm, ngân hàng sẽ trả cho chủ đầu tư tối đa là số
tiền bảo lãnh để đền bù thiệt hại do nhà thầu gây ra trong quá trình thực hiện hợp đồng,
khi có văn bản yêu cầu của chủ đầu tư.
24
Việc ngân hàng lập thư bảo lãnh hợp đồng để ràng buộc trách nhiệm của nhà thầu
về mặt kinh tế, phải thực hiện theo đúng hợp đồng thi công xây dựng đã ký với chủ đầu
tư. Nếu không thực hiện đúng hợp đồng, ngoại trừ những lý do khách quan, thì nhà
thầu sẽ mất số tiền ngân hàng bảo lãnh. Tuy nhiên, theo quy chế đấu thầu, khi hợp
đồng thi công được ký kết, chủ đầu tư sẽ chuyển cho nhà thầu ứng trước một số tiền
thưởng thường là 20% giá trị trúng thầu.
Vấn đề phát sinh từ chỗ này: Xét về mặt tài chính, khi trúng thầu, nhà thầu chỉ cần
ngân hàng bảo lãnh 5% nhưng được ứng 20% giá trị trúng thầu. Nếu nhà thầu không
quyết tâm thực hiện công trình, sau khi được ứng 20% rồi không thực hiện hợp đồng,