Phân tích giải pháp tài trợ thâm hụt ngân sách của việt nam trong những năm gần đây doc - Pdf 20

Phân tích giải pháp tài trợ thâm hụt ngân sách
của việt nam trong những năm gần đây
Chương I: Tổng quan Ngân sách nhà nước (NSNN)
I, khái niệm
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là
phạm trù lịch sử, ra đời và gắn liền với quá trình hình thành nhà nước và tồn tại
trong nền kinh tế hàng hoá. Quốc hội thực hiên quyền lập pháp về NSNN còn
quyền hành pháp giao cho Chính phủ thực hiện.
Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua
ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực
hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà
nước.
NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập ,
phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham
gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của
nhà nước trên cơ sở luật định
II, Thu ngân sách nhà nước
Là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài
chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thoả mãn các nhu cầu của nhà
nước. Các nhân tố về thu nhập GDP bình quân đầu người; Tỉ suất doanh lợi
trong nền kinh tế; Tiềm năng đất nước về tài nguyên thiên nhiên; Mức độ trang
trải các khoản chi phí của nhà nước; Tổ chức bộ máy thu nộp là các nhân tố
ảnh hưởng đến việc thu NSNN. Trong vấn đề thu NSNN thì đặc biệt quan
trọng phải kể đến thuế. Đây là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Khi NSNN bị
thâm hụt thì tăng thu thuế góp phần quan trọng để bù đắp NSNN.
III, Chi ngân sách nhà nước
Là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhăm đảm bảo thực hiện các chức
năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Việc chi NSNN hợp lý
chính là việc NSNN đang thực hiện được vai trò điều tiết vĩ mô của mình. Việc
chi NSNN nếu không đảm bảo được cân đối thu chi, nhà nước nếu không có sự

sách không bị thâm hụt quá lớn và kéo dài.
Khi nền kinh tế vận động theo chu kỳ thì chính chu kỳ kinh doanh tác động
không nhỏ đến thâm hụt ngân sách Nhà nước. Thường thì thu ngân sách Nhà
nước tăng lên trong thời kỳ nề kinh tế phồn thịnh (giai đoạn mở rộng), và giảm
đi trong thời kỳ suy thoái. Ngược lại, chi ngân sách Nhà nước thì tăng trong
thời kỳ suy thoái và giảm trong thời kỳ phồn thịnh. Chính vì vậy mà thâm hụt
ngân sách Nhà nước càng trầm trọng thời kỳ suy thoái, bất chấp mọi cô gắng
của Chính phủ.
Để hiểu sâu hơn về vấn đề thâm hụt, chúng ta cần phân biệt 3 khái niệm
sau:
• Thâm hụt ngân sách thực tế: là thâm hụt khi số chi thực tế vượt số thu
thực tế trong một thời kỳ nhất định.
• Thâm hụt ngân sách cơ cấu: là thâm hụt tính toán trong trường hợp nếu
nền kinh tế đang hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng.
• Thâm hụt ngân sách chu kỳ: là thâm hụt ngân sách bị động do tình trạng
của chu kỳ kinh doanh. Thâm hụt chu kỳ bằng hiệu số của thâm hụt
thực tế và thâm hụt cơ cấu.
Trong 3 loại thâm hụt trên, thâm hụt cơ cấu phản ánh kết quả hoạt động chủ
quan của chính sách tài khóa như: định ra thuế suất, các chương trình thanh
toán chuyển nhượng. Vì vậy để đánh giá kết quả của chính sách tài khóa người
ta sử dụng thâm hụt này.
2. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước:
- Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng
hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để
giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội
chi NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng
lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi
NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội
chi chu kỳ.
- Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà

Thoái lui hoàn toàn, đây là trường hợp cực đoan nhất của thoái lui khi mà
phản ứng tiền tệ là quá mạnh.
Giả sử rằng, khi mà NHTW xác định bất kỳ sự tăng lên nào trong sản lượng
cũng đều có nguy cơ gây ra lạm phát. Bởi vậy, NHTW sẽ tăng lãi suất lên đủ để
bù lại mọi tác động mở rộng của các chương trình Chính phủ.
Tuy nhiên, do có phản ứng tiền tệ, nên lãi suất tăng lên, làm giảm đầu tư và
xuất khẩu ròng. Vậy, trong trường hợp cực đoan thoái lui 100%, phản ứng này
mạnh đến nỗi đường chi tiêu (tổng cầu) mới dịch chuyển xuống quay trở lại vị trí
của đường tổng cầu ban đầu. Nói cách khác là thắt chặt tiền tệ đã làm triệt tiêu
toàn bộ sự mở rộng tài khóa.
Chi tiêu Chính phủ làm tăng tổng cầu, nhưng lãi suất cao hơn dẫn đến sự giảm
sút của đầu tư và xuất khẩu ròng (do việc tăng tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ).
Cuối cùng lãi suất phải tăng đủ mạnh để giảm đầu tư và xuất khẩu ròng đúng
bằng lượng G đã tăng lên.
Tóm lại, trong trường hợp cực đoan của phản ứng tiền tệ mạnh, đầu tư bị thoái
lui 100% do sự tăng lên trong chi tiêu của Chính phủ. Thoái lui có thể xảy ra khi
NHTW có hành động nhằm triệt tiêu tác động mở rộng tài khóa thông qua thắt
chặt tiền tệ. Từ đồ thị trên ta có thể thấy 2 bước:
Bước 1: Tăng chi tiêu bằng tiền cho hàng hóa và dịch vụ làm dịc chuyể đường
tổng cầu (C+I+G+NX) lên đến đường tổng mới (C+I+G’+NX).
Bước 2: Phản ứng của tiền tệ làm tăng lãi suất và làm giảm những bộ phận
nhạy cảm với lãi suất, dẫn đến tổng cầu giảm xuống đường (C+I”+G’+NX”) và
điểm cân bằng mới là điểm E”, đúng với điểm cân bằng lúc ban đầu tại điểm E.
Trong trường hợp này đầu tư và xuất khẩu ròng bị chi tieeucuar Chính phủ làm
thoái lui hoàn toàn.
Phản ứng tiền tệ có thể dẫn đến thoái giảm đầu tư hoàn toàn
Mục đích của việc nghiên cứu cơ chế này là giúp ta có giải pháp để phối hợp
giữa các chính sách kinh tế trong việc ổn định hóa nền kinh tế.
Nghịch lý của khuyến khích đầu tư: Một trường hợp ực đoan lien quan đến
nghịch lý của tiết kiệm, xảy ra khi đầu tư trên thực tế được khuyến khích bằng

- Phát hành thêm công nợ bằng tiền của Chính phủ (ΔH)-bộ phận này gọi là cơ
sở; ký hiệu là H gồm:
+ Tiền mặt do Chính phủ nắm giữ.
+ Tiền dự trữ trong các ngân hàng.
Như vậy cả B và H đều là công nợ của Chính phủ. nhưng khác biệt duy nhất
giữa B và H là các trái phiếu (B) thì được trả lãi, còn lượng tiền cơ sở (H) thì
không. Từ đây ta có thiết lập một phương trình như sau:
(G – T) + (i*B)/P = ΔB/P + ΔH/P
Trong phương trình trên, (G – T) được gọi là số thâm hụt cơ bản tức là thâm
hụt mà Chính phủ phải trang trải, không kể những khoản lãi phải trả cho những
trái phiếu chưa đến hạn thanh toán. Do G và T được biểu hiện bằng số tiền thực
tế vì vậy để đảm bảo tính thống nhất thì ta chia các số hạng còn lại cho mức giá
chung (P).
Qua đây, ta cũng có thể thấy 2 phương pháp có thể dùng để tài trợ thâm hụt
ngân sách của Chính phủ đó là: Phát hành thêm trái phiếu của Chính phủ, được
biểu thị bằng ΔB và phát hành thêm khối lượng tiền cơ sở, được biểu thị bằng
ΔH. Vì vậy, phương trình trên còn được gọi là phương trình biểu thị tài trợ
thâm hụt ngân sách của Chính phủ.
Ta sẽ xem xét tác động của lạm phát đến thâm hụt ngân sách Nhà nước.
Lạm phát làm tăng lãi suất danh nghĩa (i), như vậy các nhân tố trong
phương trình trên sẽ có sự biến động. Tuy nhiên, với tác động phân phối lại của
cải một cách ngẫu nhiên, thì lạm phát cũng làm dễ dàng hơn cho Chính phủ. Để
làm rõ vấn đề này ta sẽ đi từ phương trình biểu thị tài trợ thâm hụt ngân sách ở
trên:
(G – T) + (i*B)/P = ΔB/P + ΔH/P
 (G – T) + (i*B)/P = (ΔB/P)*(B/B) + (ΔH/P)*(H/H)
 (G – T) + (i*B)/P = (ΔB/B)*(B/P) + (ΔH/H)*(H/P)
Ở đây, trong phương trình này ta có:
• (ΔB/B)*(B/P): là tích số giữa tỷ lệ % thay đổi trong trái phiếu (ΔB/B)
với giá trị thực tế của những trái phiếu chưa đến hạn thanh toán (B/P).

Vì mục đích của tài trợ thâm hụt ngân sách là làm cán cân NS cân bằng B=0.
Đầu tiên ta sẽ xem xét các lý thuyết về cân đối ngân sách.
1,Các lý thuyết về cân đối ngân sách.
Bao gồm 4 học thuyết: Từ cổ điển đến hiện đại
+ Học thuyết cổ điển về thăng bằng cân sách
+ Học thuyết ngân sách chu kỳ
+ Học thuyết đường vòng
+ Học thuyết về ngân sách cố ý thiếu hụt
a, Học thuyết cổ điển về thăng bằng cân sách
Theo học thuyết này cân bằng ngân sách rất đơn giản: ‘Mỗi năm số thu phải
bằng cố chi”
Nội dung cụ thể của học thuyết này là:
Thứ nhất: Sự thăng bằng giữa thu và chi phải có thực, nghĩa là khi thực ngân
sách : tổng số các khoản thực thu vào sẽ bằng tổng số các khoản thực chi ra.
Thứ hai: Một ngân sách thăng bằng không được dung đến công trái, trừ khi phải
xuất tiền ra để thực hiện những nhiệm vụ to lớn của đất nước hay phải tài trợ
những khoản chi tiêu bất thường
2. Các biện pháp cụ thể để tài trợ thâm hụt ngân sách
a, Các biện pháp
Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế, phí,
lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài; phát hành tiền
để bù đắp chi tiêu; Sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy thuộc vào điều
kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia.
Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ yếu nhằm
xử lý bội chi NSNN như sau:
Thứ nhất: Vay ngân hàng (in tiền)
Chính phủ khi bị thâm hụt ngân sách sẽ đi vay Ngân hàng Trung ương để bù đắp.
Để đáp ứng nhu cầu này, tất nhiên, Ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiền.
Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ. Chính vì vậy, nó được gọi là tiền tệ hoá
thâm hụt.

Có một mức thuế suất tối ưu (t*) cho phép nhà nước đạt được số thu
ngân sách từ thuế lớn nhất. Khi thuế suất nằm dưới mức tối ưu này, thì nâng
thuế suất cho phép tăng thu ngân sách. Nhưng nếu thuế suất đã cao hơn mức tối
ưu này mà lại tiếp tục nâng thuế suất thì số thu ngân sách chỉ giảm đi. Hàm ý
của đường cong Laffer là khi thuế suất đang ở mức cao, thì giảm thuế suất sẽ
có lợi vì thu ngân sách tăng đồng thời lại khuyến khích khu vực tư nhân hăng
hái đầu tư.
Đối với cắt giảm chi tiêu công: .Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công
có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo
ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa
hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư. Mặt khác, bên
cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường
xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này
không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết.
Thứ tư: Sử dụng dự trữ ngoại tệ
Quỹ dự trữ ngọai tệ là lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan
hữu trách tiền tệ của một quốc gia hoặc một lãnh thổ nắm giữ dưới dạng ngoại
tệ nhằm thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ đồng tiền quốc gia. Chính phủ có thể sử
dụng nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia (bao gồm ngoại tệ mạnh và vàng) để
bù đắp thâm hụt NSNN.
b, Nhận xét chung các giải pháp
Các giải pháp trên đây được hầu hết các quốc gia lựa chọn để bù đắp thâm hụt
ngân sách nhà nước. Mỗi giải pháp nói chung đều có những mặt ưu điểm riêng
góp phần tạo hiệu quả giảm thâm hụt NSNN, tuy vậy những mặt ưu điểm là
không giống nhau và ưu điểm của biện pháp này nhưng biện pháp khác lại
không thể có được. Và những mặt hạn chế còn tồn tại rất nhiều có thể tiềm ẩn
những nguy cơ to lớn đối với nền kinh tế nếu áp dụng không phù hợp hoặc quá
lạm dụng như: lạm phát sẽ tăng nếu Chính phủ in tiền để tài trợ thâm hụt ngân
sách mặc dù biện pháp này nhanh chóng, không phải trả lãi, không phải gánh
nợ nần và bị kìm hãm kinh tế như với biện pháp vay nợ trong và ngoài nước

40.746 4,86%
200
6
48.500 5%
200 56.500 5%
7
200
8
66.200 4,95%
200
9
142.355 6,9%
201
0
119.700 6,2%
Giảm thâm hụt ngân sách đạt được là do kết quả của những biện pháp cứng rắn
như cắt giảm chi tiêu chính phủ, xóa bỏ dần các loại trợ cấp qua giá, lương, trợ
cấp cho xí nghiệp quốc doanh… Tốc độ tăng thu hàng năm bình quân là 18,8%.
Tốc độ tăng chi bình quân hàng năm đạt 18,5%. Nhiều năm thâm hụt giảm
xuống dưới 5% so với GDP. Đây cũng được coi là thành tựu trong nền kinh tế
của nước ta.
Chúng tôi đưa ra bảng dưới đây để làm kết quả so sánh:
BẢNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM TỪ 1987
ĐẾN 1994
Đơn vị tính: Tỷ đồng
1987 198
8
1989 1990 1991 1992 1993 1994
- Thâm hụt ngân
sách

Hình 4: Bội chi ngân sách 2005-2009
Hậu quả:
Thâm hụt ngân sách trên quy mô lớn, tốc độ cao được coi là nguyên nhân trực
tiếp và quyết định gây ra lạm phát và giá cả tăng cao, tác hại đến sự phát triển
kinh tế và đời sống dân cư. Lạm phát cao kỉ luc đã diễn ra vào cuối năm 2007-
2008. Nhưng nếu như năm 2008 là năm chứng kiến một tốc độ lạm phát cao kỉ
lục trong vòng hơn một thập kỉ qua thì năm 2009 lại chứng kiến một mức lạm
phát ở mức hai con số. Điều ấy cũng cho thấy sự cố gắng của Chính phủ trong
việc bù đắp thâm hụt NSNN cũng như kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên lạm phát
của Việt Nam vẫn luôn ở mức cao trong khu vực và trên thế giới. Ngay cả
trong năm 2010, kì vọng chung về mức lạm phát đã là khoảng 10%.
Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm tiết kiệm nội địa,
giảm đầu tư tư nhân, hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai. Ở Việt
Nam, mặc dù thâm hụt ngân sách tăng đột biến trong năm 2007chưa làm suy
giảm tiết kiệm nội địa và đầu tư tư nhân nhưng nó đã làm tăng mức thâm hụt
tài khoản vãng lai, từ -0,5% năm 2006 lên tới -8% năm 2007.
Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối với năng lực
điều hành vĩ mô của chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳ vọng của
người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng sẽ
phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt. Tóm lại, thâm hụt ngân sách cao kéo dài
sẽ đe dọa sự ổn định vĩ mô, và do vậy, khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng
nhanh và bền vững của nền. Vì vậy cần thiết phải xem xét các biện pháp tài trợ
để giảm THNS.
II. Các chính sách cụ thể của Chính phủ Việt Nam trong việc bù
đắp thâm hụt Ngân sách Nhà nước và tình hình thực hiện
năm 20xx
1, Nội dung các chính sách:
Để giảm thâm hụt ngân sách chỉnh phủ cần thục hiện các chính sách để giảm
thâm hụt ngân sách
Trước tiên ta xét tác động của chính sách tài khóa với vấn đề thâm hụt ngân

từ thuế là
155700 tỉ . Như vậy ngân sách đã được cải thiện .
Tuy nhiên có một vấn đề đặt ra ở đây là ngân sách đang thâm hụt thì tiền ở đâu ra
để tăng chi tiêu của chính phủ , và nếu có tiền thì đầu tư vào đâu .
Khi đó chính phủ sẽ có các biện pháp sau để tài trợ cho ngân sách .
1. vay nợ gồm vay nợ trong nước và viện trợ nước ngoài
2. tăng thu giảm chi
3. sử dụng dự trữ ngoại tệ
4. vay ngân hàng (in tiền) :tuy nhiên hiện nay biện pháp này không còn được sử
dụng nên ta sẽ không phân tích biện pháp này
Mỗi chính sách trên đều có những hạn chế riêng .Ta sẽ phân tích từng biện pháp để
làm rõ.
2) Các biện pháp để áp dụng chính sách:
a, Vay nợ
Biện pháp vay nợ là một trong số các biện pháp được nhà nước dung trong việc
tài trợ thâm hụt NS, gồm vay nợ trong nước và viện trợ nước ngoài. Thực trạng
vay nợ của nước ta được thể hiên trong bảng:
Đơn vị: tỷ đồng
Năm Số tiền vay trong
nước để bù đắp bội
chi ngân sách nhà
nước
Số tiền vay nước
ngoài để bù đắp bội
chi ngân sách nhà
nước
Số bội chi
2010 98.700 21.000 119.700
2009 88.520 27.380 115.900
2008 51.200 15.000 66.200

thành kế hoạch vay đã định.
Tuy nhiên, tổng lượng tiền mà nhân dân và các đơn vị có thể có để cho
chính phủ vay bị giới hạn trong tổng lượng tiết kiệm của xã hội. Nếu chính phủ
huy động được nhiều thì đương nhiên phần tiền còn lại dành cho đầu tư phát
triển sản xuất kinh doanh ở khu vực ngoài quốc doanh sẽ giảm đi.
Như vậy, chưa biết chính phủ sẽ làm gì, làm như thế nào đối với lượng
tiền huy động được, nhưng xã hội hay trực tiếp hơn là khu vực các doanh
nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng có khả năng dành cho
đầu tư phát triển kinh tế. Nếu các biện pháp thu hút tiền vay của chính phủ và
của ngân hàng càng có lãi suất cao thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển
từ các khu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà
không chảy vào sản xuất kinh doanh.
Do vậy, vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách luôn luôn chứa
đựng nguy cơ kìm hãm các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
Mục tiêu chấn hưng kinh tế của chính phủ thông qua con đường phát hành trái
phiếu, tín phiếu bị chính bản thân giải pháp này cản trở ngay từ nguồn gốc.
Chính vì thế, trong thời kỳ kinh tế đình đốn, hầu như các nước đều tránh
các biện pháp có nguy cơ làm giảm khẳ năng tự đầu tư của các thành phần kinh
tế, kể cả doanh nghiệp quốc doanh, ngoài quốc doanh và các tầng lớp dân cư.
Biện pháp tài trợ thâm hụt ngân sách này chỉ nên thực hiện trong trường hợp
nền kinh tế là cường thịnh. Nếu ta tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách phát
hành trái phiếu, thì trái phiếu sẽ tạo ra cho công dân trách nhiệm nộp thêm thuế
trong tương lai để trang trải lãi về các trái phiếu.
Thứ hai: Nước ta hiện nay đang trải qua các giai đoạn lạm phát cao, giá trị
thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng, làm chúng trở nên ít hấp dẫn.
Nếu tăng lãi suất huy động thì lai mâu thuẫn với chính sách nới lỏng tiền tệ
đang được dự thi. Ngoài ra việc vay nợ quá nhiều sẽ khiến cho gánh nặng trả
nợ trong các năm sau nếu thu ngân sách không tăng được. Lúc đó Chính phủ
buộc phải in tiền để trả nợ và điều này sẽ gây nguy cơ lam phát cao.
Đối với vay nợ nước ngoài:

Việc vay nợ nước ngoài đã diễn ra nhiều năm nay và có xu hướng ngày càng
tăng, tuy về ngắn hạn có thể tài trợ cho thâm hụt cán cân thanh toán. Tuy nhiên,
việc vay nợ nước ngoài thường xuyên và quy mô ngày càng tăng có thể dẫn tới
những rủi ro rất cao như từng thấy ở các nước Mỹ Latinh những năm 1980-
1990
Tuy vậy nhưng không thể nói việc bù đắp NSNN chỉ toàn hạn chế chứ
không đạt được gì. Sở dĩ nhà nước vẫn sử dụng biện pháp này vì nó bù đắp
nhanh chóng các khoản bội chi và không gây sức ép lạm phát cho nền kinh tế,
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vay nợ trong nước còn tập trung được các
khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trong dân, tránh được nguy cơ khủng hoảng nợ
nước ngoài và dễ triển khai. Dưới đây là một số thành tựu khi Chính phủ áp
dụng biện pháp này:
Đối với vay nước ngoài, thực hiện chính sách chỉ vay ưu đãi nước ngoài,
không vay thương mại nước ngoài cho đầu tư phát triển. Đối với những khoản vay
thương mại nước ngoài và nợ quá hạn trước đây đã được xử lý qua Câu lạc bộ Pari
và Câu lạc bộ Luân Đôn. Thực hiện xử lý nợ với Nga, Angiêry, Nhờ thực hiện tốt
quá trình cơ cấu lại nợ, cũng như chính sách vay mới mà dư nợ Chính phủ hiện nay
ở mức 35% GDP vào năm 2005, mức an toàn, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.
Đối với vay nợ trong nước: hàng năm Ngân sách phải huy động một
khoản tiền nhàn rỗi trong nước tương đối lớn để bù đắp bội chi Ngân sách. Để
việc huy động vốn không ảnh hướng lớn đến thị trường tiền tệ, đến lãi suất, Bộ
Tài chính thực hiện chính sách trước hết thực hiện vay vốn nhàn rỗi từ các quỹ
tài chính Nhà nước như: Quỹ Bảo hiểm xã hội, Quỹ Tích lũy trả nợ, phần còn
thiếu sẽ thực hiện phát hành trái phiếu và tín phiếu Chính phủ. Đối với tín
phiếu (loại thời hạn dưới 1 năm), thực hiện phối hợp với Ngân hàng Nhà nước
đấu thầu (đấu thầu về lãi suất) qua Ngân hàng Nhà nước, đây là biện pháp vừa
để đảm bảo nguồn bù đắp bội chi cho Ngân sách Nhà nước, đồng thời cũng tạo
điệu kiện cho các tổ chức tín dụng có nguồn vốn nhàn rỗi, chưa cho vay được

Trích đoạn Chẳng hạn ở Việt Nam để tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hoá của ta, cần tăng khả năng lưu thông,muốn tăng khả năng lưu thông cần
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status