Phân tích một số giải pháp tài trợ thâm hụt ngân sách ở Việt Nam trong những năm gần đây - Pdf 25

Đề tài : Phân tích một số giải pháp tài trợ thâm hụt ngân sách ở Việt Nam
trong những năm gần đây
I. CÁC KHÁI NIỆM :
1. Ngân sách nhà nước: Ngân sách nhà nước là tổng các kế hoạch chi
tiêu, thu nhập hàng năm của Chính phủ, bao gồm các khoản thu (chủ yếu
từ thuế) và các khoản chi ngân sách.
2. Thâm hụt ngân sách : Gọi B là hiệu số giữa thu và chi ngân sách, ta
có:
B = T – G
Khi B > 0 ta có thặng dư ngân sách
B = 0 ta có cân bằng ngân sách
B < 0 ta có thâm hụt ngân sách
Các lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, ngân sách Nhà nước không
cần thiết phải cân bằng theo tháng, theo năm. Vấn đề là phải quản lý các
nguồn thu và chi sao cho ngân sách không bị thâm hụt quá lớn và kéo dài.
Tuy vậy, trong nhiều nước đặc biệt là các nước đang phát triển, các Chính
phủ vẫn theo đuổi một chính sách tài khóa thận trọng, trong đó chi ngân
sách phải nằm trong khuôn khổ các nguồn thu ngân sách.
Thực ra, trong nên kinh tế thị trường, thâm hụt ngân sách thực tế
chưa phải là một chỉ bảo tốt về chính sách tài khóa củ Chính phủ. Thật
vậy, một khi nền kinh tế vận động theo chu kỳ thì chính chu kỳ kinh
doanh có tác dụng không nhỏ đến thâm hụt ngân sách. Người ta dễ dàng
nhận thấy thu ngân sách tăng lên trong thời kỳ phồn thịnh và giảm đi
trong thời kỳ suy thoái. Ngược lại, chi ngân sách tăng trong thời kỳ suy
thoái và giảm trong thời kỳ phồn thịnh. Chính vì vậy, thâm hụt ngân sách
1
sẽ trầm trọng hơn trong thời kỳ suy thoái, bất chấp sự cố gắng của Chính
phủ.
Vì lý do trên, để đánh giá tác động của chính sách tài khóa đến thâm
hụt ngân sách, người ta thường sử dụng ngân sách trong điều kiện nền
kinh tế hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng.

những năm 80 của thế kỷ trước đã đạt được nhiều thành tựu.
BẢNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ 2001 – 2007
Đơn vị tính: Tỷ Đồng
Năm Số Bội chi Bội chi so với GDP
200
1
25.885 4,67%
200
2
25.597 4,96%
200
3
29.936 4,9%
200
4
34.703 4,85%
200
5
40.746 4,86%
200
6
48.500 5%
200
7
56.500 5%
3
Giảm một cách đáng kế thâm hụt ngân sách Nhà nước được coi là
thành tựu đáng kể của quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta. Thành tựu này
đă góp phần to lớn vào quá trình đẩy lùi lạm phát ở nước ta cuối những
năm 80. Giảm thâm hụt ngân sách đạt được là do kết quả của những biện

sách Nhà nước đã được đặt đúng vị trí của nó là công cụ điều tiết thị
trường, bình ổn giá cả, định hướng phát triển sản xuất, đồng thời là công
cụ điều tiết thu nhập, đặc biệt thông qua các chương trình xóa đói, giảm
nghèo, các chính sách trợ cấp củ Chính phủ.
Chi tiêu ngân sách hàng năm đã được Quốc hội thảo luận và thông
qua trong các phiên họp của mình, thể hiện rõ định hướng của nhà nước
trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Chi ngân sách đã được thực hiên
theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả nhằm nâng dần phần tích lũy của ngân
sách cho đầu tư phát triển.Khoản chi thường xuyên của ngân sách thường
được khống chế tối đa trong khuôn khổ khả năng thu ngân sách. Mỗi
khoản chi được xác định trên cơ sở phân định rõ đối tượng và mục đích
cụ thể. Tốc độ tăng chi thường xuyên được khống chế thấp hơn tốc độ
tăng chi cho phát triển
2. Các biện pháp tài trợ cho thâm hụt ngân sách
Về cơ bản các biện pháp là “ tăng thu và giảm chi” và các biện
pháp khác: Vay nợ trong nước (vay dân); Vay nợ nước ngoài; Sử dụng
dự trữ ngoại tệ; Vay ngân hàng (in tiền).
2.1. Biện pháp “tăng thu, giảm chi”
Đây là biện pháp mà Chính phủ bằng những quyền hạn và nhiệm
vụ được giao, tính toán hợp lý để tăng các khoản thu như thu từ Thuế
và cắt giảm chi tiêu. Tuy vậy, vấn đề đặt ra là phải tính toán số tăng thu
và giảm chi thế nào để gây ảnh hưởng ít nhất đến tăng trưởng kinh tế à
hệ quả từ mô hính số nhân
5
m=1/(1-MPC) ; mt= -MPC/(1-MPC) ; m+mt = 1 (số nhân ngân sách cân
bằng )
Ý nghĩa : khi chính phủ tăng chi tiêu (G) và tăng thuế (T) một
lượng như nhau thì ngân sách không đổi và sản lượng cân bằng sẽ
tăng một lượng tương ứng ∆Y = ∆G = ∆T
Khi chính phủ tăng chi tiêu

không gây ra lạm phát trước mắt nhưng nó lại có thể làm tăng áp lực lạm
phát trong tương lai nhếu như tỷ lệ nợ trong GDP liên tục tăng. Thứ nữa,
việc vay từ dân trực tiếp sẽ làm giảm khả năng của khu vực tư nhân trong
vviệc tiếp cận tín dụng và gây sức ép làm tăng lãi suất trong nước.
Đặc biệt, ở những nước trải qua giai đoạn lạm phát cao (như nước
ta hiện nay), giá trị thực của trái phiếu chínhphủ giảm nhanh chóng, làm
cho chúng trở nên ít hấp dẫn. Chính phủ có thể sử dụng quyền lực của
mình để buộc các chủ thể khác trong nền kinh tế phải giữ trái phiếu, tuy
nhiên, nếu việc này có dài có thể gây ảnh hướng nghiêm trọng đến uy tín
của Chính phủ và khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh này sẽ trở
nên khó khăn hơn vào các năm sau.
2.3. Vay nợ nước ngoài:
7
Chính phủ có thể tài trợ thâm hụt ngân sách bằng các nguồn vốn
nước ngoài thông qua việc nhận viện trước nước ngoài hoặc vay nợ nước
ngoài từ các chính phủ nước ngoài, các định chế tài chính thế giới như
Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát
triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc tế
Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các
tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cung cấp cho chính phủ của
một nứoc nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã
hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA.
Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành
trái phiếu bằng ngoaà tệ mạnh ranước ngoài, vay bằng hình thức tín
dụng
Năm Số tiền vay nước ngoài để bù
đắp bội chi ngân sách nhà nước
(đơn vị tính: Tỷ Đồng)
2007 13.500
2006 12.500

thế giới bên ngoài, làm cho đồng nội tệ giảm mạnh giá và làm tăng sức ép
lạm phát. Kết hợp với việc vay nợ nước ngoài ở trên, việc giảm quỹ dự
trữ ngoại tệ cũng sẽ khiến cho tỷ giá hối đoái tăng, làm suy yếu sức cạnh
tranh quốc tế của hàng hoá trong nước.
2.5. Vay ngân hàng (in tiền)
9
Chính phủ khi bị thâm hụt ngân sách sẽ đi vay Ngân hàng Trung
ương để bù đắp. Để đáp ứng nhu cầu này, tất nhiên, Ngân hàng trung
ương sẽ tăng việc in tiền. Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ. Chính vì
vậy, nó được gọi là tiền tệ hoá thâm hụt.
Ưu điểm của biện pháp này là nhu cầu bù tiền để bù đắp ngân sách
nhà nước được đáp ứng một cách nhanh chóng, không phải trả lãi, không
phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần.
Nhưng, nhược điểm của biện pháp này lại lớn hơn rất nhiều lần.
Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền.
Nó đẩy cho việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi. Trong những
năm 80 của thế kỷ 20, nước ta đã bù đắp bội chi ngân sách nhà nước bằng
cách in thêm tiền đưa vào lưu thông. Việc này đã đẩy tỷ lệ lạm phát đỉnh
điểm lên tới hơn 600%, nền kinh tế bị trì trệ
Chính vì những hậu quả đó, biện pháp này rất ít khi được sử dụng.
Và từ năm 1992, nước ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội
chi ngân sách nhà nước.
2.6. Một số hạn chế khác trong việc bù đắp nhân sách nhà nước ở
Việt Nam
2.6.1- Đi vay trong nước thông qua việc phát hành chứng khoán nợ
của CP:
Do thị trường thứ cấp ở Việt Nam kém phát triển, uy tín tài chính
quốc gia thấp, hình thức và chủng loại chứng khoán nghèo nàn, năng lực
quản lý nợ công còn nhiều hạn chế nên nợ Chính phủ dưới dạng trái
phiếu và tín phiếu kho bạc rất thấp, chiếm khoảng 2,7%GDP. Trong khi

2.6.2- Chính sách tiền tệ tài trợ thâm hụt Ngân sách thông qua việc
Ngân hàng Nhà nước trực tiếp chi cho Chính phủ vay:
Hàng năm, Ngân hàng Nhà nước vẫn phải cung ứng một lượng
tiền không nhỏ cho NSNN để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ NSNN và
khoản tiền này phải hoàn trả trong năm Ngân sách theo Luật định. Tuy
nhiên thực tế các khoản tạm ứng này thường không có đảm bảo và không
được hoàn trả trong năm theo đúng như luật định. Bên cạnh đó, các khoản
mục cho vay Chính phủ ròng trên bảng cân đối tài sản của Ngân hàng
Nhà nước và bảng cân đối tiền tệ toàn ngành biến động mạnh vì Chính
phủ thường xuyên phát hành trái phiếu, tín phiếu. Theo đó tiền hút về
hoặc bơm ra từ kênh tiền gửi Chính phủ và cho vay Chính phủ tương đối
lớn, mà tiền gửi của Chính phủ tại các NHTM chiếm khoảng 80% tổng
tiền gửi của Chính phủ tại hệ thống Ngân hàng đã hạn chế tới việc kiểm
soát tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước . Khi Chính phủ gửi tiền tại các
NHTM thì lượng tiền này lại có khả năng tạo tiền và do vậy tác động tới
M2 làm cho Ngân hàng Nhà nước khó có thể kiểm soát được. Chính vì
thế ngân hàng Nhà nước sẽ bị động trong quá trình điều hành chính sách
tiền tệ.
2.6.3- Chính sách tiền tệ tài trợ thâm hụt NSNN thông qua việc Ngân
hàng Nhà nước tái cấp vốn cho các NHTM.
Việc Ngân hàng Nhà nước cung ứng tiền để tài trợ cho thâm hụt
NSNN là không nhỏ, song so với khoản tái cấp vốn cho các NHTM NN
được sử dụng cho mục đích Ngân sách có nguy cơ gây nên những tác
động bất lợi cho điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước .
Tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước trong bộ máy của Chính phủ còn
hạn chế đã tạo sự phụ thuộc của chính sách tiền tệ vào chính sách tài khoá
là điều không tránh khỏi. Bên cạnh đó, việc phải theo đuổi đa mục tiêu có
12
nhiều khả năng xung đột với nhau trong trung và dài hạn, đặc biệt là ổn
định giá trị đồng tiền và tăng trưởng kinh tế. Chính sách tiền tệ do đó còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status