Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
§¹i häc th¸i nguyªn
tr-êng ®¹i häc s- ph¹m
––––––––––––
KIỀU THU PHƢƠNG
ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC PHƢƠNG TIỆN
TRUYỀN THÔNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN NGHỀ
CỦA HỌC SINH LỚP 12 NGƢỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Ngƣờ i hƣớ ng dẫ n khoa họ c: GS. TSKH Nguyễ n Văn Hộ
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào. Mọi sự giúp đỡ đều được cảm ơn. Các thông tin trích dẫn trong luận văn
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả Kiều Thu Phƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5. Giả thuyết khoa học 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết 3
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
6.3. Nhóm các phương pháp bổ trợ 3
7. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu 3
7.1. Phạm vi nội dung 3
7.2. Phạm vi khảo sát 3
8. Đóng góp mới của đề tài 4
9. Cấu trúc luận văn 4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH
LỚP 12 NGƢỜI DTTS DƢỚI ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC
PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1. Sơ lược lịch sử nảy sinh công tác hướng nghiệp 5
1.1.2. Công tác hướng nghiệp trong các nước Tư bản chủ nghĩa 6
1.1.3. Công tác hướng nghiệp trong các nước xã hội chủ nghĩa 7
1.1.4. Công tác hướng nghiệp ở Việt Nam 8
1.2. Các khái niệm cơ bản 9
1.2.1. Hướng nghiệp 9
1.2.2. Nghề nghiệp 10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
1.2.3. Sự phù hợp nghề 11
1.2.4. Lựa chọn nghề và những tính chấ́t của lựa chọn nghề 12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
Chƣơng 3. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12 NGƢỜI
DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH THÁI NGUYÊN DƢỚI ẢNH
HƢỞNG CỦA CÁC PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG 69
3.1. Những cơ sở có tính nguyên tắc để xây dựng biện pháp 69
3.1.1. Nghiên cứu, xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính mục
đích của giáo dục hướng nghiệp 69
3.1.2. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo sự phù hợp
với những đặc điểm tâm lý và nhân cách của HS PT 69
3.1.3. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo sự phân
hoá, cá biệt hoá HS trong hoạt động hướng nghiệp 70
3.1.4. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính hệ
thống trong hoạt động GDHN 70
3.1.5. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp theo quan điểm tiếp cận
hoạt động và nhân cách 71
3.1.6. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính khả thi 71
3.2. Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh lớp 12 người dân tộc thiểu số dưới ảnh hưởng của các PTTT 72
3.2.1. Xây dựng bài học có nội dung giới thiệu về những lĩnh vực
nghề nghiệp có sử dụng các phương tiện truyền thông 72
3.2.2. Tổ chức buổi toạ đàm trên lớp với chủ đề “Internet với nghề
nghiệp và lựa chọn nghề nghiệp” 74
3.2.3. Tổ chức cho HS tìm hiểu thông tin nghề nghiệp qua bản tin,
phóng sự truyền hình hay một đoạn video 75
3.2.4. Tổ chức hội nghị để trao đổi với cha mẹ học sinh về nghề
nghiệp tương lai của con em họ 76
3.2.5. Lập hồ sơ hướng nghiệp chi tiết cho mỗi HS 78
PT DTNT
TT
PTTT
NXB
TB
XH
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Dân tộc thiểu số
Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp
Giáo viên
Học sinh
Giáo dục và đào tạo
Học sinh trung học cơ sở
Học sinh trung học phổ thông
Phổ thông dân tộc nội trú
Truyền thông
Phương tiện truyền thông
Nhà xuất bản
Trung bình
Xã hội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhận thức của học sinh lớp 12 người DTTS về tầm quan
trọng của công tác hướng nghiệp trong trường THPT 26
Bảng 2.17: Ý kiến đánh giá của giáo viên về thông tin nghề nghiệp trên
các PTTT 62
Bảng 2.18: Những vấn đề HS lớp 12 quan tâm khi lựa chọn nghề
nghiệp theo sự đánh giá của giáo viên 62
Bảng 2.19: Những nghề (nhóm nghề) được HS lớp 12 ưu tiên lựa chọn
theo sự đánh giá của giáo viên 63
Bảng 2.20: Mức độ cung cấp thông tin hướng nghiệp của nhà trường
trên các PTTT 64
Bảng 4.1: Đánh giá của chuyên gia về sự phù hợp của những cơ sở có
tính nguyên tắc trong việc nghiên cứu xây dựng các biện pháp 81
Bảng 4.2: Đánh giá của chuyên gia về sự phù hợp của các biện pháp 82
Bảng 4.3: Đánh giá của chuyên gia về mức độ hợp lý của các bước
tiến hành những biện pháp 83
Bảng 4.4: Đánh giá của chuyên gia về mức độ khả thi của các biện pháp 84
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
(CNH - HĐH), thời kỳ của sự hội nhập. Bởi vậy, nhằm đáp ứng những yêu
cầu của xã hội hiện đại, con người phải được coi là nhân tố cốt lõi, nhân tố
trung tâm và cần phải có được những điều kiện tốt nhất để phát huy tối đa khả
năng sáng tạo của mình.
Muốn phát triển nguồn nhân lực, nhất thiết phải dựa vào giáo dục - đào
tạo nên trong nghị quyết hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa VIII đã nhấn mạnh: “Muốn tiến hành CNH - HĐH thắng lợi phải phát
triển mạnh giáo dục đào tạo và phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản
của sự phát triển nhanh và bền vững”. Như vậy, có thể thấy hoạt động dạy
dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên.
3. Khách thể v đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình lựa chọn nghề của học sinh
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của phương tiện truyền thông đến sự
lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 là người dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về ảnh hưởng của phương tiện truyền
thông đến sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 là người dân tộc thiểu số Tỉnh
Thái Nguyên.
4.2. Nghiên cứu thực trạng việc lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 là
người dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên dưới ảnh hưởng của các phương tiện
truyền thông.
4.3. Đề xuất các biện pháp sử dụng PTTT hỗ trợ cho công tác giáo dục
hướng nghiệp trong trường phổ thông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
5. Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao hiểu biết về lựa chọn nghề cho học sinh cuối cấp
THPT Tỉnh Thái Nguyên bằng việc đưa ra các biện pháp tận dụng các yếu tố
tích cực do phương tiện truyền thông mang lại.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết, hệ thống hóa
và khái quát hóa lý thuyết trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu lý thuyết từ đó rút
ra các kết luận khoa học làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu thực trạng và
đề xuất các biện pháp của đề tài.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp quan sát
Chương 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh lớp 12 người DTTS tỉnh Thái Nguyên dưới ảnh hưởng của các PTTT.
Kết luận và khuyến nghị.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ CHỌN NGHỀ CỦA
HỌC SINH LỚP 12 NGƢỜI DTTS DƢỚI ẢNH HƢỞNG
CỦA CÁC PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Sơ lược lịch sử nảy sinh công tác hướng nghiệp
Vào giữa thế kỷ 19, hệ thống nghề nghiệp khá phức tạp, sự chuyên môn
hóa đã đạt tới mức độ cao hơn so với giai đoạn giai đoạn sản xuất nông
nghiệp và thủ công nghiệp. Thời điểm này, ở Pháp xuất hiện cuốn sách
nước Anh, Pháp Mĩ… hạn chế nữ công nhân, nữ nhân viên trong nhiều nghề kỹ
thuật và họ được sử dụng trong các nghề dịch vụ, văn phòng và những công
việc đơn giản, tay nghề thấp hoặc không cần có sự chuẩn bị nghề nghiệp). Vì
vậy, có sự phân hóa chương trình học tập ở trường phổ thông với nam và nữ rồi
từ đó tiến hành công tác hướng nghiệp đã làm cho các em không bình đẳng về
những điều kiện chọn nghề. Còn nếu người ta hướng các em nam và nữ vào
cùng một nghề thì ngay sau đó sự không bình đẳng vẫn diễn ra (lao động nữ
được trả rẻ mạt hơn lao động nam mặc dù năng suất lao động như nhau).
Công tác hướng nghiệp ở các nước tư bản chủ nghĩa không dựa trên
cơ sở giáo dục toàn diện nhân cách cho người lao động. Việc tuyển chọn lao
động thường dựa trên trắc nghiệm vì họ chú trọng sự thích ứng của nhân
cách với những phương tiện, điều kiện lao động của nhà máy, xí nghiệp. Khi
đánh giá phương pháp sản xuất Taylo, V.I. Lênin đã phê phán sự đào tạo
phiến diện người lao động nhằm thích ứng với công việc đơn điệu, đồng thời
ông cũng nhận xét hệ thống dây truyền Taylo thực chất là hệ thống ép mồ
hôi người lao động.
Hiện nay, nội dung giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học
của Pháp được phân hóa theo nhiều phân ban hẹp trong đó phần lớn là các
ban kỹ thuật - công nghệ đào tạo kỹ thuật viên. Kế hoạch dạy học ở các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
chuyên ban kỹ thuật - công nghệ bao gồm nhiều môn văn hóa phổ thông và kỹ
thuật nghề nghiệp theo tỷ lệ khoảng 50/50. Việc cải cách chương trình giáo
dục công nghệ ở Pháp nhằm hoàn thiện hệ thống giáo dục kỹ thuật công nghệ
ở tất cả các bậc học, làm cho nội dung giáo dục công nghệ phù hợp với từng
giai đoạn giáo dục và trình độ phát triển khoa học kỹ thuật.
1.1.3. Công tác hướng nghiệp trong các nước xã hội chủ nghĩa
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền lợi của người lao động thống nhất
1.1.4. Công tác hướng nghiệp ở Việt Nam
Giáo dục hướng nghiệp ở Việt nam là một ngành non trẻ cả về lý luận
và thực tiễn. Cho đến những năm 1970, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
chủ yếu chỉ dừng lại ở các quan điểm, chỉ thị nên chưa có được những công
trình nghiên cứu khoa học thực sự.
Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước rất quan tâm
đến công tác hướng nghiệp. Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính
phủ đã tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của công tác hướng nghiệp -
nhất là hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Trong văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ IX ghi rõ: “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh
trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp
phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa
phương”. Luật giáo dục 2005 đã khẳng định: Giáo dục THPT nhằm giúp cho
học sinh củng cố và phát triển những kết quả của Trung học cơ sở, hoàn thiện
học vấn để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học nghề nghiệp, học nghề,
và đi vào cuộc sống lao động”…
Về mặt nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, theo các chuyên gia ngành
hướng nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ vào những năm
1970, 1980. Những nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực này phải kể đến GS
Phạm Tất Dong, PGS Đặng Văn Ánh, Phạm Huy Thụ, GS Nguyễn Văn Hộ,…
Các tác giả đó tập trung làm rõ các vấn đề cơ bản của hoạt động hướng nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
trong nhà trường phổ thông: xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hướng
nghiệp; cơ sở xã hội, kinh tế, tâm lý của giáo dục hướng nghiệp; hệ thống các
nguyên tắc, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hướng nghiệp.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Hướng nghiệp
việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh
trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ
sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực
của các ngành sản xuất trong xã hội.
Hội nghị lần thứ IX những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề
nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa họp tại La Habana - Cu ba (Tháng 10/1980)
đã thống nhất về khái niệm hướng nghiệp như sau: “Hướng nghiệp là hệ
thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều
khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội,
đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở
trường và tâm, sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lí và sử dụng có
hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước”.
Qua những quan điểm về khái niệm hướng nghiệp nêu trên, có thể hiểu,
dưới góc độ giáo dục phổ thông: Hướng nghiệp là sự tác động của một tổ hợp
các lực lượng xã hội, lấy sự chỉ đạo của một hệ thống sư phạm làm trung tâm
(nhà trường) vào thế hệ trẻ, giúp các em làm quen và hiểu biết về một số
ngành nghề phổ biến trong xã hội để khi tốt nghiệp ra trường, các em có thể
lựa chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp tương lai.
1.2.2. Nghề nghiệp
- Theo tác giả E. A. Klimôp: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức
mạnh vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho
xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có), nó tạo cho mỗi con người
khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cho việc
tồn tại và phát triển”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
- Theo từ điển Tiếng việt: “Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự
phân công lao động xã hội”.
thường chỉ có những cơ sở ban đầu có khả năng phù hợp hay không phù hợp
với nghề nghiệp. Bởi vậy khó có sự phù hợp tuyệt đối với nghề (phù hợp hoàn
toàn), và để đạt tới mức độ này, bản thân mỗi người phải có sự rèn luyện để
hình thành cho mình những gì mà nghề nghiệp đòi hỏi.
Một khi học sinh chưa biết mình, chưa hiểu nghề thì đối với các em
nghề nào cũng có thể làm được nhưng không phải nghề nào cũng phù hợp.
Các nhà tâm lý học đã chứng minh được mỗi nghề đòi hỏi một trình độ phát
triển năng lực chung và những năng lực chuyên biệt cần thiết để thực hiện
thành công cho riêng nghề nghiệp đó. Đồng thời mỗi nghề còn có những yêu
cầu riêng về trạng thái sức khỏe, tâm lý của con người.
Có thể nói sự phù hợp nghề trước hết là phụ thuộc vào quá trình nhận
thức sâu sắc với nghề mình chọn để biết mình, biết nghề và sau đó là quá
trình tự rèn luyện để tạo sự phù hợp nghề là cơ sở để đảm bảo cho hoạt động
nghề đạt tới hiệu quả. Song, để làm cho sự phù hợp nghề có sự bền vững về
chất lượng là cả một quá trình khổ công học hỏi, hoàn thiện những gì đã có
thể làm cho những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra trở thành những đòi hỏi của
chính bản thân mình.
1.2.4. Lựa chọn nghề và những tính chấ́t của lựa chọn nghề
Việc lựa chọn nghề của học sinh là một quá trình lâu dài và phức tạp,
được biểu hiện ở các mức độ khác nhau ngay trong những lớp đầu của trường
THCS, được tiếp tục phát triển và hoàn thiện dần ở những lớp sau, nhất là ở
cuối cấp THPT, trong các trường, lớp dạy nghề và được tạm coi là kết thúc
khi họ đã có những khả năng lao động nghề nghiệp độc lập.
Với tư cách là một quá trình hoạt động, lựa chọn nghề nghiệp bao gồm
những tính chất cơ bản sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
* Tính chủ thể của quá trình lựa chọn
rõ đối tượng (nghề). Sự hiểu biết này càng cặn kẽ sâu sắc, đầy đủ bao nhiêu
thì khả năng chiếm lĩnh nghề nghiệp càng nhanh chóng trở thành hiện thực
bấy nhiêu. Một khi đã hiểu rõ nghề nghiệp, học sinh sẽ dần thiết lập được kế
hoạch cụ thể, có những biện pháp, phương pháp thích hợp trong học tập, rèn
luyện để chiếm lĩnh được nghề lựa chọn ở những mức độ khác nhau. Việc xác
định mục đích cho sự lựa chọn nghề của học sinh là rất đa dạng và phức tạp.
Muốn xác định được nghề sẽ chọn phù hợp với mình, ngoài việc hiểu biết về
nghề đó, học sinh phải tự hiểu mình. Chỉ có trên cơ sở này, bản thân học sinh
mới đáp ứng với những yêu cầu của nghề nghiệp.
* Tính cấu trúc của quá trình lựa chọn nghề:
Trong quá trình tồn tại và phát triển, giai đoạn lựa chọn nghề được coi
là một bộ phận, một mắt xích trong cấu trúc đời sống của con người. Khi xác
định cho mình một hướng đi, một vị trí hoạt động trong đời sống xã hội chính
là lúc con người lựa chọn nghề. Quá trình lựa chọn nghề không phải là chốc
lát, không phải diễn ra chỉ một lần mà nó nảy sinh trong các mối quan hệ
phức tạp. Điều đó có nghĩa là lựa chọn nghề được đặt trong một hệ thống các
mối quan hệ giữa chủ thể (người lựa chọn) và những điều kiện khách quan có
mối quan hệ trực tiếp đối với nghề nghiệp.
Nếu như việc xem xét và lựa chọn nghề nghiệp của học sinh tách khỏi
các dạng lựa chọn (các mối quan hệ) trong đặc trưng của cuộc sống con người
thì sẽ dẫn tới sự hạn chế kết quả thực tế của các biện pháp hướng nghiệp, giới
hạn khả năng điều khiển quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực cho đất nước.
1.2.5. Truyền thông và truyền thông đại chúng
Năm 1448, người thợ kim hoàn Gutenberg sống tại Đức đã phát hiện ra
hệ thống movable type (hệ thống sắp chữ động). Phương pháp này phá vỡ
kiểu phân phối thông tin chủ đạo thời đó là các nhà truyền giáo chép tay các
thông tin hoặc khắc lên gỗ rồi in ra giấy. Năm 1455, ông kinh doanh công
nghệ lắp ghép chữ.