Sách hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm cho bà con
nuôi tôm sú khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Nhà xuất bản Nông nghiệp 2008
Tiến só Đòan Văn Đẩu
Tiếân só Nguyễn Văn Hảo
Tiến só Julio Macias Egas
CẨM NANG NUÔI TÔM SÚ
CÔNG TY TNHH TÒAN CẦU
(100% VỐN ĐÀI LOAN)
TRẠI SẢN XUẤT TÔM GIỐNG
ĐÀI LOAN SẠCH BỆNH
Sản xuất tôm giống sạch bệnh Đốm trắng,
Đầu vàng, Còi…theo tiêu chuẩn của Bộ Thủy sản.
Cung cấp sách kỹ thuật
Tư vấn kỹ thuật đầu bờ cho bà con ngư dân.
Đòa chỉ: Ấp Giồng Nhãn, xã Hiệp Thành, thò xã Bạc Liêu
Điện thọai: 0781 836 191.
Fax: 0781 836 191 CAÅM NANG NUOÂI TOÂM SUÙ
Mới 5/12 CẨM NANG NUÔI TÔM
LỜI GIỚI THIỆU
của Cty Toàn Cầu, INVE Group
Để nuôi tôm thắng lợi, đạt hiệu quả cao, ngoài yếu tố ban đầu là phải chọn con
giống thật tốt, sạch bệnh; sử dụng loại thức ăn chất lượng cao, thì việc chuẩn bò, cải tạo
ao và quản lý môi trường, bệng dòch trong quá trình nuôi tôm là những việc hết sức
quan trọng. Để giúp bà con nuôi tôm vùng Đồng bằng Sông Cưủ Long nuôi tôm đạt
hiệu quả, công ty Toàn Cầu, INVE Việt Nam xin trân trọng giới thiệu cuốn Cẩm nang
MỞ ĐẦU
Ngày xưa, khi trồng lúa, Ông cha ta thường nói: Nhất NƯỚC, nhì PHÂN, tam CẦN, tứ
GIỐNG. Trong nghề nuôi tôm yếu tố NƯỚC và CẦN chính là việc QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG NƯỚC và PHÒNG BỆNH. Ngoài việc chọn được con GIỐNG TỐT SẠCH
BỆNH, thì việc quyết đònh sự thành công của bà con nuôi tôm chính là quản lý môi
trường nuôi và phòng trừ dòch bệnh cho tôm.
Do vậy, trước hết, chúng tôi sẽ giới thiệu một số vấn đề về môi trường và bệnh tôm
thường gặp, đặc biệt là bệnh tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long, trên cơ sở này bà con
sẽ xây dựng hệ thống ao, mương máng và cải tạo ao, lấy nước, gây màu, cho tôm ăn và
chăm sóc tôm đúng kỹ thuật , nuôi tôm đạt hiệu quả.
1.1. Tìm hiểu về con tôm:
Tôm sú thuộc giống tôm Penaeus và được các nhà khoa học đặt tên là Penaeus
monodon, Tên tiếng Anh là Tiger shrimp (tôm hổ, tôm có vằn giống con hổ). Tôm thuộc
bộ 10 chân vì chúng có 5 chân bò và 5 chân bơi. Tôm thuộc lớp giáp xác, nghóa là
chúng phải lột xác để lớn, tôm lột xác có tính chu kỳ: Trong một vòng đời, tôm tích luỹ
các chất cần thiết cho cơ thể, và lột xác dưới sự diều tiết của các chất nội tiết
(hormone), lúc này tôm cơ thể hấp thu nước rất nhanh và hình thành vỏ mới lớn hơn vỏ
cũ. sau đó vỏ cứng lại rất nhanh. Khi con cái vừa lột xác xong, vỏ còn mềm thì con đực
đến, dùng phần phụ ở chân bơi thứ nhất trao tinh cho con cái. Tôm cái giữ các bó tinh
trong thelycum (hình 2 hạt đậu) ở trước ngực. Tôm mẹ “vượt cạn một mình”, chúng đẻ
trứng vào nước biển và tự phun tinh vào trứng. Dạ dày tôm nằm trong và trên khoang
giáp đầu ngực. Tôm ăn no có thể nhìn thấy ruột chạy từ dạ dày xuống tận đuôi. Buồng
trứng tôm phát triển có màu xanh đậm lan khắp phần trên giáp đầu ngực, phình to ở đốt
bụng thứ nhất và kéo xuống đuôi
H1: Giải phẫu nội quan tôm sú (nhìn nghiêng), theo Viphavet.
Tôm có chủy với nhiều gai, râu dài rất đẹp, đuôi gồm 1 kiếm hậu (telson nhọn) và 2 đôi
“quạt ba tiêu” (uropod- ) rất oai vệ, vì vậy một nhà thơ đời nhà Trần đã có một bài thơ
châm biếm mượn hình ảnh họ tôm, để châm biếm những tên quan lại, hào lý và bọn
12 – 15
(pốt 12 – 15 ngày tuổi). Tôm
giống tốt, sạch bệnh là tôm đồng đều về kích thứớc, khoẻ mạnh, không có ký sinh,
nấm, vi khuẩn và virus.
1.3. Môi trường ao nuôi tôm là gì?
Môi trường ao bao gồm ao, nước, các chất vô cơ, hữu cơ, các loại tảo, thực vật, động
vật, các loại vi sinh vật có lợi, có hại kể cả các loại virus (siêu vi khuẩn) trong ao nuôi
1.4. Khái niệm về Bệnh tôm.
Bệnh tôm bao gồm nhiều loại, gây tổn thương hoặc tử vong cho tôm mà tác nhân gây
bệnh là nguyên sinh động vật, ký sinh trùng, nấm, tảo, một số vi khuẩn có hại, và virus.
Thiếu dinh dưỡng, thay đổi môi trường, gây sốc cho tôm cũng là những nguyên nhân
gây bệnh cho tôm.
1.5. Mối quan hệ giữa tôm nuôi trong ao với môi trường nước và bệnh tôm như thế
nào?
Trong một ao nuôi đã chuẩn bò tốt, đã sử lý nước cẩn thận thì coi như các nguy
cơ do môi trường gây bất lợi cho tôm không có. Để dễ hiểu, trong hình vẽ dưới đây,
chúng ta hãy vẽ các yếu tố môi trường bất lợi cho tôm bằng một vòng tròn màu xám.
Những ngày đầu mới nuôi tôm, vòng tròn này chưa có hoặc rất nhỏ. Cũng vậy, nếu xử
lý ao tốt, chọn giống sạch bệnh thì tất cả mầm bệnh đều bò tiêu diệt hết. Chúng ta vẽ
các yếu tố mầm bệnh này bằng 1 vòng tròn màu đỏ. Những ngày đầu mới nuôi tôm,
vòng tròn này rất nhỏ hoặc không có. Tôm thả nuôi trong ao được vẽ bằng một vòng
tròn màu vàng. Theo thời gian, tôm càng lớn, vòng tròn vàng càng to.
Nhưng nếu quản lý nước trong ao không tốt thì môi trường trở nên xấu đi, vòng tròn
xám xuất hiện và lớn dần, bệnh tôm cũng xuất hiện theo, vòng tròn đỏû xuất hiện và lớn
dần. Hai vòng tròn xám và đỏ này càng lớn càng lấn vào nhau và lấn vào vòng tròn
vàng; và thế là cả môi trường xấu, cả mầm bệnh sẽ làm tôm nhiễm bệnh. Phần chồng
lấn giữa 3 vòng tròn vàng, xanh đỏ càng lớn thì khả năng tôm bò nhiễm bệnh càng
nhiều mà thủ phạm chính là môi trường xấu kéo theo các mầm bệnh phát triển mà
thành bệnh. Nếu không xử lý kòp thời,vòng tròn đỏ (bệnh) sẽ trùm hết vòng tròn vàng
(tôm) và thế là tôm chết 100%.
Yếu tố: Biên độ thích hợp Ghi chú
Độ mặn (phần ngàn %o) 15 -25 Dao động không quá 5
Nhiệt độ( T
0
C) 28 - 32 Dao động ngày đêm không quá 5
Độ pH (độ chua) 7,5 – 8,5 Dao động ngày đêm không quá 0,5
Độ kiềm (phần triệu-viết tắt
là ppm)
80-100
100-130
130-150-200
Nếu thấp hoặc cao quá sẽ ảnh hưởng đến pH
Khi mới thả tôm
Khi tôm 45 ngày tuổi
Khi tôm trên 45 ngày tuổi
Độ cứng của nước (ppm) 150-300
Oxy hoà tan (ppm) 5 – 6
Không được ở mức dưới 4 ppm
Độ trong của nước ( cm) 30 - 40
Amonia (NH
3
) (ppm) Nhỏ hơn 0,1
Tính độc sẽ tăng khi pH và nhiệt độ nước tăng
Khí trứng thối H
2
S (ppm) Nhỏ hơn 0,03
Tính độc sẽ gia tăng nếu pH thấp
Khí SulfurSO
2
(ppm) Nhỏ hơn 0,02
độ mặn quá cao, bà con có thể sử dụng nước ngọt để pha loãng nhưng phải sử lý phèn,
kim lọai nặng trước khi đưa vào ao nuôi.
2.1.2. Nhiệt độ
Nhiệt độ nước thích hợp trong ao nuôi tôm sú là 28 – 32
o
C. Khi nhiệt độ nước thâp hơn
hoặc cao hơn giới hạn trên thì tôm kém ăn và môi trường nước sẽ thay đổi theo chiều
hướng xấu đi.
Ao có mực nước sâu trên 1, 2 m thì nhiệt độ trong ao ít bò biến động theo ngày đêm.
2.1.3.Độ pH:
pH là đôï phèn, độ chua của đất, của nước, là hàm lượng của ion hydro (H
+
)
có trong
môi trường. Sự biến động và tăng giảm của khí CO
2
là nguyên nhân làm pH tăng hay
giảm theo. pH liên quan chặt chẽ với hệ đệm của nùc
Nếu pH trong nước ao quá thấp thì nước rất trong (có nhiều phèn nhôm) hoặc nước ao
có màu vàng cam (có nhiều phèn sắt). pH có liên quan đến sự hoạt động của tảo, sự trôi
rửa phèn từ bờ ao xuống và sự bốc phèn từ đáy ao lên. Khi đào ao, bà con đừng đào sâu
quá 1, 5 m để tránh lớp phèn tiềm tàng ở phía dưới.
2.1.4. Độ kiềm:
Độ kiềm (Alkalinity) là hàm lượng chủ yếu của các ion canxi - Ca, manhê - Mg trong
nước. Nước tự nhiên có độ kiềm 40 mg/l. Nước có độ kiềm cao gọi là nước cứng, nước
có độ kiềm thấp gọi là nước mềm. Khi độ kiềm thấp hơn 60 mg/l và cao hơn 200 mg/l
đều làm cho tôm khó lột xác hoặc không lột xác được. Trong ao nuôi nếu có nhiều ốc
sẽ làm cho độ kiềm giảm sút. Trời mưa nhiều, đất bò xì phèn; tôm lột xác nhiều trong
các tháng nuôi đầu tiên đều có thể làm cho độ kiềm bò giảm thấp. Cứ 2 ngày/lần, nên
2.1.6. Oxy hoà tan:
Khí oxy (O
2
) chiếm ¼ thành phần không khí. Oxy cũng hoà tan trong nước. Tôm và các
loại động thực vật trong ao đều cần oxy. Quạt nước hay xục khí từ cách đáy ao 10 -15
cm làm cho không khí (trong đó có oxy) hoà tan trong nước.
2.1.7.Khí amonia (NH
3
):
Khí ammonia phát sinh trong ao là do các vi sinh vật phân hủy các chất cặn bã trong ao.
Lượng ammonia từ 0,2 đến 2,0 ppm có thể làm chết tôm. Khi pH và nhiệt độ trong ao
càng cao thì tính độc hại của ammonia càng tăng, làm tôm giảm hấp thụ oxy, làm tôm
yếu, và nếu kéo dài có thể gây tử vong cho tôm.
2.1.8. Khí nitrit (NO
2
):
Khi trong ao có khí ammonia thì vi sinh vật (Nitrosomonas…, Nitrobacter sp) sẽ phân
hủy ammonia thành nitrit. Mức độ gây độc của nitrit còn lớn hơn cả mức độ gây độc
của ammonia. Mức độc hại của nitrit sẽ tăng khi lượng oxy và pH trong nước giảm.
Để giảm thiểu nitrit, cần thực hiện quản lý môi trường như quản lý ammonia nêu trên.
Sự biến đổi của khí ammonia, nitrit, nitrat trong ao nuôi tôm như sau:
Hàm lượng NH
3
tỷ lệ thuận với pH và nhiệt độ, do vậy tìm cách giảm NH
3
sẽ tốt hơn là
tìm cách giảm pH.
2.1.9. Khí trứng thối (H
2
S):
2
S ở
mức thấp nhất. Xục khí, tăng cường oxy hoà tan, sử dụng chế phẩm sinh học hoặc dùng
các hoá chất có tính oxy hoá cao như thuốc tím (2-5 ppm); chlorine (7 – 10 ppm), BKC
Sản phẩm thừa
Vi khuẩn dò dưỡng
NH
3,
độc
NH
3
Vi khuẩn hoá tự dưỡng
NO
2
ít độc
NO
2
Vi khuẩn hoá tự dưỡng
NO
3
không độc
NH
4
không độc
NH
3
Hoà tan trong
nước
Amonia
Nitrit
độc (xuất hiện ở đáy ao do thức ăn dư thừa và các
chất cặn bã) thành dạng NO
3
hay NO
2
ít độc hơn.
2.2.2.2. Nhóm vi khuẩn gồm các loài Bacillus sp. Nhóm này tiết các chất (enzyme) có
tác dụng phân hủy các chất hữu cơ dư thừa, cung cấp oxy cho quá trình hô hấp, tạo ra
Độc tính khí ammonia NH
3
tăngĐộc tính khí trứng thối H
2
S tăng
Khi trời nắng, pH và nhiệt độ tăng cao: Khi trời mưa, ao bò chua,pH xuống thấp:
Tảo chết, đáy ao bò ô nhiễm Tảo chết
Tôm nuôi Tôm nuôi
Hình 5 : Quan hệ giữa độc tính của NH
3
và H
2
S với khí hậu, pH, nhiệt độ
khí cacbonic, giúp tảo quang hợp, ổn đònh màu nước, ổn đònh pH. Vì vậy người nuôi
tôm cần phải bổ sung và duy trì lượng vi sinh vật này trong ao.
2.2.2.3. Nhóm vi khuẩn Vibrio. sp. Đây là nhóm vi khuẩn có hại thường gây bệnh phát
sáng, bệnh đường ruột, các bệnh trên vỏ tôm, mang tôm…
2.2.2.4. Nhóm vi khuẩn Cyanobacter . Nhóm này có thể quang hợp được. Ưu điểm của
nhóm này là tạo ra oxy và hấp thụ khí ammoniac (NH
roi.
2.2.4. Động vật phù du là những động vật bậc thấp vô cùng nhỏ bé (như luân trùng…).
Đến lượt mình chúng lại là thức ăn tự nhiên cho tôm, đặc biệt cho tôm giống khi thả
vào ao trong những ngày đầu tiên
2.2.5. Động vật đáy là những động vật nhỏ, sống ở đáy ao (như giun ít tơ, giun nhiều
tơ…) chúng cũng là thức ăn tự nhiên cho tôm.
2.2.6. Lab – lab: là một tập đoàn các loại tảo đáy, động vật, kể cả vi sinh vật. Chúng
liên kết vơi nhau tạo thành các mảng dày, màu xanh, đen, có hại cho tôm. Khi tảo chết,
gặp trời nắng, lab – lab chết, nổi lên từng mảng làm bẩn ao.
2.2.7.Màu nước trong ao là màu của loại tảo có sinh lượng nhiều nhất trong ao.
2.2.7.1. Phân biệt các loại màu nước: Trần T V Ngân (2002) đã phân các loại màu
nước trong ao nuôi tôm như sau
(1). Màu nước nâu đỏ hoặc hồng phấn: Thành phần chủ yếu gồm các loại khuê
tảo, là loại tảo dễ tiêu hoá cho tôm, tôm sống trong môi trường này (độ trong khoảng 25
cm) sẽ rất khoẻ mạnh, màu sắc tôm tươi sáng và năng suất nuôi sẽ cao.
(2). Màu nước lục nhạtï: Thành phần chủ yếu là các loại tảo lục, một số ít tảo
khuê…. Màu nước này rất ổn đònh, nếu giữ độ trong ở mức 40-50 cm thì tôm nuôi phát
triển tốt, khả năng bò nhiễm bệnh rất ít.
(3). Màu nước lục tối hoặc màu nước mực tàu: Do trong nước có nhiều tảo lam
và tảo roi. Tôm sống trong môi trường nước này dễ bò nhiễm các loại bệnh đóng rong,
nhớt, màu sắc xỉn, xấu, vỏ sù sì. Tôm trong ao lớn chậm, phân đàn rất lớn, nếu độ mặn
trong ao lại thấp thì tôm có thể bò mềm vỏ hoặc vỏ có màu xanh da trời.
(4). Màu nước nâu đen và màu nước tương: Thành phần tảo trong loại nước này
là tảo roi. Độ trong thường khoảng 15 cm. Do các tảo này tiết ra độc tố nên tôm nuôi sẽ
không khoẻ, tôm có thể bò bệnh cùn đầu, các phiến vỏ ở thân, đuôi không bằng phẳng,
gợn sóng. Biện pháp tốt nhất là thay nước mới.
(5).Màu nước vàng: Do thành phần tảo chủ yếu là nhóm tảo roi màu vàng kim
và nhóm tảo lục. Màu nước này thường thấy trong ao có pH thấp, chất hữu cơ nhiều,
tích tụ lâu ngày, không tốt cho tôm. Phải khắc phục bằng cách thay nước và tăng cường
xục khí.
3
; H
2
S, giảm vi khuẩn có hại, ngăn cản tảo lam và cỏ
nhỏ ở đáy.
2.2.7.3. Mối liên quan giữa môi trường và các loại tảo:
- Khi đáy ao là bùn, độ mặn thấp thường có nhiều tảo lục.
- Mùa mưa, nước ngọt, nước ít chất hữu cơ thì tảo lam thường nở hoa.
- Khi nước trong, pH thấp thườnh nhiều tảo mắt.
- Khi đáy ao cứng, độ mặn cao thường nhiều tảo khuê.
2.2.7.4.Kiểm soát màu nước trong ao nuôi tôm bà con cần phải:
(1). Kiểm tra pH của đất ao, bón vôi để nâng pH, khử chua, rửa đáy ao
(2). Bón phân gây màu cho tảo phát triển trước khi thả tôm.
(3). Cho ăn đúng cách, không để thức ăn bò dư thừa trong ao.
(4). Luôn giữ mức nước trong ao sâu 1,2 - 1,5 m và sử dụng chế phẩm sinh học
(5) Khi tảo qua ùnhiều, cần giảm tảo bằng thuốc, hoá chất như D - algae, formol
Green- cut...cũng có thể dùng vôi (CaCO3) vào lúc ban đêm. Sau khi dùng
thuốc sát trùng cắt tảo thì phải dùng men vi sinh, zeolite để xử lý các chất bã.
Sau đó dùng lại chế phẩm sinh học. Cố gắng không dùng hóa chất để giảm tảo.
(6) Khi tảo khuê và tảo giáp qúa nhiều, lúc chết, chúng tạo thành các váng,
bám vào mang tôm làm tôm bò nâu, đen mang. Nên dùng bơm hút lớp váng tảo
khỏi ao vào buổi chiều, cuối gióp khi chúng tập trung ở góc ao.
(7) Khi thiếu tảo, có thể bón phân, kết hợp với Boom-D, Nuto, Dolomit…
Mối quan hệ giữa tảo, thức ăn, các chất mùn bã, nhu cầu tiêu thụ oxy, các khí
độc trong ao và biện pháp xử lý môi trường ao nuôi tôm được minh họa như sau:
MEN VI
SINH
Hình 6: Sự chuyển hóa thức ăn, chất thải chất khí và
biện pháp sử lý sinh học các chất thải, khí độc trong ao nuôi tôm.
(Hình minh họa của Tôm Việt, )
phát hiện tôm cặp mé bờ.
* Tôm giảm ăn còn do những tôm chưa nhiễm bệnh ăn những con tôm nhiễm
bệnh và do vậy, bệnh lan rất nhanh; tôm bệnh bơi nổi trên mặt nước hay dạt vào mé bờ
ao.
Một số tôm cũng có bò bệnh đốm trắng nhưng lại không có đốm trắng trên vỏ.
Có trường hợp trên vỏ có đốm trắng, tôm không tấp vào bờ, đó là do môi trường nước
có pH biến động quá lớn hoặc môi trường nước quá dư Canxi.
Đốm trắng do rối loạn chuyển hoácanxia1: Tôm có đốm trắng nhưng vẫn ăn bình
thường, không có tôm yếu, cặp mé có đốm trắng , tôm màu sậm, mang dơ, sức ăn của
tôm giảm nhẹ,
Đốm trắng do pH cao (trên 8,5) gây ra rối loạn chuyển hoá canxi. Hạ pH bằng formol
30 l/ha vào sáng sớm, đến khi ph đạt 7,5 – 8,0. Sauk hi lột xác, tôm sẽ hết đốm
trắng.trong thời gian dàicó dấu hiệu nhiễm khuẩn.
Đốm trắng do vi khuẩn, tôm yếu, cặp mé, có đốm trắng, màu nâu sậm, bẩn, mang dơ,
sức ăn giảm nhẹ có dấu hiệu tôm bò nhiễm vi khuẩn. Loại bỏ tôm yếu và cải thiện chất
lượng nước, tôm sẽ ăn lại bình thường.
Bảng so sánh triệu chứng và cách xử lý khi tôm có đốm trắng
Tác nhân Triệu chứng Thử PCR Xử lý
WSSV Tôm giảm ăn, Có đốm trắng ở
đầu ngực và đốt đuôi 5, 6. Các
đốm thường đều nhau và có
tâm trong. Tôm bệnh có đốm
trắng nhỏ li ti thường chết
nhanh hơn so với tôm bệnh có
đốm trắng lớn.
Dương
tính
Trò bệnh không kết quả,
không kinh tế, tỷ lệ sống rất
thấp
- Quản lý môi trường (dùng chế phẩm sinh học đònh kỳ và khử trùng) tránh gây sốc cho
tôm trong ao nuôi.
- Xét nghiệm, chọn con giống sạch bệnh, kết hợp với sốc formol loại bỏ tôm Post yếu
trước khi thả nuôi.
-Bổ sung Vitamin (C mix…) và các chất bổ dưỡng, vi lượng cho tôm.
3.1.2. Bệnh còi do virus (MBV):
3.1.2.1. Dấu hiệu bệnh:
- Tôm bệnh có màu sậm đen, mang đỏ hoặc đen hơn bình thường, gan t có màu
vàng, có lúc teo lại, lúc trương to có mùi rất tanh, tôm chỉ chết lác đác.
- Tôm lờ đờ, phản xạ chậm nên dễ bò các sinh vật khác tấn công, dễ mắc thêm các
bệnh về mang, đốm trên vỏ, nhiễm trùng máu nên thường được gọi là bệnh đóng rong,
bệnh vỏ, sau đó vi khuẩn tấn công gây nên các bệnh về mang, bệnh đốm vỏ… . Nếu đàn
tôm nhiễm MBV ủ bệnh lâu và và phát triển chậm thì tôm có thể vẫn sinh trưởng bình
thường, các tác nhân gây bệnh khác sẽ không có cơ hội tấn công
- Tôm giống nhiễm bệnh thường có nhỏ hơn so với cá thể cùng đàn. Đại đa số tôm
giống bò nhiễm MBV khi đem nuôi sẽ bò nhiễm vi khuẩn, bệnh đốm ở mang và vỏ,
bệnh nhiễm trùng máu. MBV: Thân chuyển màu xám xanh đến xanh sậm đen, kém
linh hoạt, giảm ăn, tăng trưởng chậm. Phân đàn rõ rệt
3.1.2.2. Phòng bệnh:
- Chọn tôm giống chất lượng cao. Xét nghiệm PCR tôm giống trước khi nuôi. Tôm Post
nhiễm MBV dưới 30%, cảm nhiễm nhẹ (+) có thể sử dụng thả nuôi.Vì MBV có thể bò đào
thải sau hai tháng nuôi nếu môi trường ao nuôi tốt (Nguyễn Văn Hảo 2002).
- Quản lý tốt môi trường ao nuôi để khống chế virus và độc tính của virus.
3.1.2.3. Trò bệnh:
- Chỉ có thể hạn chế các bệnh nhiễm khuẫn, nhiểm sinh vật có hại (tảo, nguyên sinh
động vật…) để kéo dài thời gian ủ bệnh MBV của tôm càng lâu càng tốt. Nếu tôm còn
nhỏ mà tỷ lệ nhiễm bệnh cao thì nuôi đàn tôm này sẽ ít hoặc không có lãi, thậm chí lỗ
vốn do chi phí thức ăn, quản lý…
3.1.3. Bệnh đầu vàng (YHV) /phức hợp đầu vàng do virus.
3.1.3.1. Nguyên nhân và triệu chứng
- Trường hợp tôm bò bệnh ở tháng thứ ba: Thu tôm, xử lý nước ao trước khi thải ra
ngoài. Chuẩn bò lại ao thả tôm vụ mới
3.2. Bệnh do Vi khuẩn
Nhóm vi khuẩn dạng sợi: Leucothrix sp., Thiothrix sp., Flexibacter sp.,
Flaviumbacterium sp. ký sinh trên thân tôm làm tôm yếu
Nhóm: Vibrio., Aeromonas và Pseudomonas. Gây bệnh mòn vỏ, phụ bộ, đốm đen, nâu
Nhóm V. harveyi, Vibrio cholerae gay bệnh phát sáng.
Trong các ao nuôi thâm canh, bệnh nhiễm khuẩn thường đi kèm với một bệnh khác
(đóng rong, và mảng bám,ký sinh trùng, đỏ thân, đốm trắng, tạo nên các hội chứng. Khi
tôm trong ao có tỷ lệ nhiễm khuẩn khá cao là sự báo hiệu khả năng bệnh đốm trắng
boat phát sau đó hoặc khi tôm yếu do virus thì vi khuẩn là tác nhân cơ hội tấn công tôm.
Mà nguyên nhân là do sự quá ngưỡng của các chất thải, môi trường xuống cấp, gay sốc,
gay bệnh cho tôm.(Nguyển Văn Hảo 2004).
3.2.1. Bệnh phân trắng :
3.2.1.1. Nguyên nhân: Do bò nhiễm ký sinh trùng Gregarine (có giai đoạn ký sinh trong
ốc). Khi bệnh nặng, ruột sẽ chuyển sang màu hơi vàng hoặc trắng, có các điểm tổn
thương, tạo điều kiện để vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây hoại tử. Bệnh xuất hiện khi
thời tiết thay đổi, trời âm u, có mưa. Tôm có thể mắc bệnh nếu ăn thức ăn mốc, ẩm hay
nhiễm độc.
3.2.1.2. Triệu chứng: Ruột giữa của tôm có màu vàng, tôm có thể thải ra phân trắng dài
0,3 -1 cm ngay trong nhá và trôi giạt xuống góc ao, cuôí gió. Thân tôm xốp
3.2.1.3. Phòng bệnh: Quản lý môi trường tốt, Giữ đáy ao sạch. Chọn thức ăn tốt, cho
tôm ăn thêm thức ăn bổ sung để cân bằng vi sinh đường ruột.
3.2.1.4. Trò bệnh: Sử dụng kháng sinh vào thức ăn như Norfloxacin, dòng sulfa như
Osamet Shrimp, Sulfa Gold, Enfloxin, acid oxolenic…
3.2.2..Bệnh phát sáng trên thân tôm
3.2.2.1. Nguyên nhân: Chủ yếu do nhiễm vi khuẩn Vibrio harvey.
3.2.2.2. Triệu chứng: Tôm nhiễm bệnh màu trắng đục, tôm bệnh nặng có màu xanh lục,
có những vết loét ở miệng, hậu môn, rồi toàn thân. Vết loét có mủ, vi khuẩn ở vết loét
phát sáng xanh, dễ nhìn về đêm. Mắc bệnh này, Gan tôm có thể bò teo, bò hủy hoại,
bám hữu cơ rên giáp đầu ngực, trên vỏ thân có nguyên sinh động vật Epitylis và
Vorticella bám vào làm tôm hoạt động khó khăn, khó chòu sau bò các tác nhân gay bệnh
khác tấn công.
3.2.3.3. Phòng trò: Quản lý môi trường tốt.Duiy trì độ trong 25 – 45 cm.
Khi tôm nhiễm bệnh có thể sử dụng Zoo-clear, Treflan,Virkon. BKC (0,5-0,7 mg/l).
Dùng formol 910-20 mg/l) kết hợp với sulfat đồâng conø có tác dụng kích thích lột vỏ,
giúp tôm gỡ bỏ các chất bẩn trên vỏ cũ. Không nên dùng BKC khi tôm chưa được 2
tháng tuổi vì BKC ức chế tảo trong thời gian dài sau đó.
3.2.4. Bệnh đứt râu, mòn đuôi, cháy đuôi, đốm đen, vỏ bò hoại tử. bò khói đèn, bò rỉ
sắt,cháy đuôi: Đây là một bệnh có nhiều tên gọi khác nhau do có những triệu chứng
biểu hiện khác nhau nhưng phần lớn nguyên nhân sơ nhiễm là do vi khuẩn Vibrio như
V.aeromonas, V. vulfanicus, Spirilum…
3.2.4.1. Nguyên nhân: Do nhiều loài vi khuẩn tiết men (sơ nhiễm) ăn mòn vỏ tôm sau
đó bò các sinh vật khác (thứ nhiễm) tấn công:
Nếu tác nhân thứ nhiễm là vi khuẩn sẽ gây nhiễm trùng máu.
Nếu tác nhân thứ nhiễm là nấm sẽ làm tôm mất cân bằng thẩm thấu, tôm khó
lột vỏ, vỏ mới và vỏ cũ dính nhau.
Nhưng suy đến cùng thì nguyên nhân gây bệnh chính là do môi trường bẩn, mật
độ nuôi dày, quản lý kém.
3.2.4.2.. Triệu chứng:
- Vỏ, phụ bộ, mang tôm thay đổi, ban đầu có thể chuyển sang màu hồng có những đốm
hay mảng nâu, đen, râu đứt, chủy cùn vẩy râu,, vẩy đuôi bò nhạt màu, phồng bóng nước
to hơn và nơi đó sẽ bò ạn mòn. Cần phân biệt râu bò đứt do vướng chài, vướng sàng thì
đầu chỗ bò đứt không có chấm đen. Dưới vỏ xuất hiện những vết phồng chứa dòch keo,
đuôi mòn lõm vào và có màu đen. Tôm lờ đờ, kém ăn, khó lột xác. Nếu bệnh nhẹ thì
sau khi lột xác, tôm sẽ trở lại bình thường. Tôm bệnh dễ mẫn cảm với môi trường, dễ
ăn thòt nhau.
3.2.4.3..Phòng, trò bệnh: Quản lý môi trường (dùng men vi sinh như PRO 1-2, W,
đường), sử dụng thức ăn thật cẩn thận. Khi phát hiện bệnh có thể sử dụng các loại thuốc
sát trùng (thuốc tím,…), , chất có nguồn gốc sinh vật ( Deodorase, Sanolife Pro-1-2, W),
liên tục 5-7 ngày, tối đa 10 ngày). Lạm dụng kháng sinh sẽ làm cho tôm chậm lớn
3.2.5.3. Xử lý: Quản lý môi trường, không cho ăn thức ăn kém phẩm chất…
3.2.6. Bệnh do ký sinh trùng
Ký sinh gay bệnh: Vorticella, Zoothanium, Epistylis, Acineta, Ephelota, bám trên mang
hay bề mặt cơ thể làm tôm giảm hô hấp, suy dinh dưỡng
3.2.6.Bệnh phát sinh do môi trường xấu.
Để bà con tiện theo dõi, chúng tôi sắp xếp các bệnh tôm không phải do vi khuẩn
(còn gọi là vi trùng) và không phải do virus vào bảng sau đây và gọi là các bệnh
do môi trường xấu hoặc do dinh dưỡng trực tiếp gây nên.
Nguyên nhân chính Triệu chứng Phòng trò
Mưa, nước ao phân tầng, pH
giảm.
Tăng độc tính của khí độc,
H
2
S; NH
3 ,
oxy thấp,
Mật độ nuôi quá cao, nhiều
sinh vật bám
Tôm bò sốc, biến màu, kéo
đàn trên mặt nước và mé
bờ, phát sinh bệnh, chết.
Mang tôm có thể bò vàng,
đen, hồng mang
Tôm bò đục ở thân, trắng ở
đốt 4, 5, 6. Tôm khó lột vỏ.
Rải vôi quanh ao, bón vôi,
Tháo lớp nước tầng mặt,
thuốc, hoá chất kéo dài,
quá liều, Cho tôm ăn thêm
Ca, P, Vitamin