Đề tài: Luận chứng quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam: “Để
thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá(CNH,
HĐH) đất nước thì phải xác định khoa học và công nghệ(KH&CN)
cùng với giáo dục và đào tạo(GD&ĐT) là những quốc sách hàng
đầu”.
LỜI NÓI ĐẦU
Xã hội là một bộ phận đặc biệt của thế giới vật chất, lịch sử phát triển của nó
hiện ra như là quá trình lịch sử - tự nhiên. Đó là quá trình phát triển của nền sản
xuất và tái sản xuất đời sống xã hội, đồng thời cũng là quá trình phát triển nền văn
minh nhân loại bằng những bước tiến tuần tự xen lẫn những bước ngoặt cách mạng.
Ngày nay cách mạng CNH, HĐH đã và đang lôi cuốn,tác động đến tất cả các nước,
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính vì vậy nên thế giới đang phát triển những
nền văn minh mới, xã hội mới : “xã hội thông tin”, “xã hội hậu công nghiệp”, “xã
hội hậu- hiện đại”. Các nước có nền công nghiệp hiện đại đang dần chuyển sang
nền kinh tế tri thức. Vì vậy đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, đang
quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì CNH, HĐH với tư cách là “một cuộc cách mạng
toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội” là con đường duy
nhất và là nhiệm vụ hết sức cấp thiết để tiến lên một xã hội hiện đại “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng,dân chủ,văn minh”. Và trong sự nghiệp đó Đảng ta đã xác
định phát triển KH-CN với GD-ĐT là quốc sách hàng đầu.
1
1. NỘI DUNG QUAN ĐIỂM
a. Mục tiêu CNH, HĐH ở Việt Nam:
Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, cùng với việc từng bước phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, giải phóng các lực lượng sản xuất,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, Đảng và Nhà nước đã xác định ngày càng rõ quan điểm mới về công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước:
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), khi thông qua đường lối đẩy
mạnh CNH, HĐH, Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng
nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu
nhiên và xã hội. Khoa học được phân chia thành: khoa học tự nhiên, khoa học xã
hội và các ngành khoa học khác.
Công nghệ gồm cả tri thức và cách thức khác nhau để sử dụng tri thức đó để
biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục vụ cho đời sống xã
hội. Ngày nay công nghệ được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm:
- Phần cứng: gồm toàn bộ những điều kiện vật chất như máy móc, trang thiết bị,
nhà xưởng… Nó phản ánh kĩ thuật của phương pháp sản xuất, là xương sống, là cốt
lõi của quá trình sản xuất.
- Phần mềm:con người với tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm; thông tin gồm bí
quyết,dữ liệu, phương pháp; thành phần tổ chức, thể hiện ở việc bố trí xắp xếp, điều
phối quản lí…Trong đó con người là chìa khoá hoạt động trên cơ sở của phần thông
tin. Thành phần tổ chức có nhiệm vụ liên kết các phần trên.
KH&CN là nền tảng và động lực của CNH, HĐH. Ứng dụng thành tựu KH-CN
làm kinh tế phát triển theo chiều sâu và hiện đại.Mở rộng khả năng sản xuất, thúc
đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch
3
cơ cấu kinh tế; tăng sức cạnh tranh của hàng hóa và thúc đẩy phát triển kinh tế thị
trường.
Trên thế giới đã xuất hiện những ngành công nghệ mới như: CN sinh học, năng
lượng, công nghệ vật liệu mới, công nghệ nanô,công nghệ mới chế tạo máy…đang
được đầu tư nghiên cứu và áp dụng vào sản xuất tạo hiệu quả cao trong kinh tế.
c. Khái niệm GD&ĐT:
Giáo dục là một quá trình bao gồm tất cả các hoạt động hướng vào sự phát triển
và rèn luyện năng lực( tri thức, kĩ năng, kĩ xảo…) và phẩm chất( niềm tin, đạo đức,
thái độ…) ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ và trở nên có giá trị
tích cực đối với xã hội. Theo nghĩa hẹp GD là một quá trình được tổ chức 1 cách có
mục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt và lĩnh hội tri thức của nhân loại.
Đào tạo là quá trình phát triển có hệ thống các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và thái
độ, tư cách… đòi hở ở một cá nhân để thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất
định. Như vậy ĐT là một dạng đặc thù của GD trong đó nó hướng về GD chuyên
ở những nước tư bản. Toàn cầu hoá, các nước đều đứng trước cơ hội để phát triển
như khả năng hợp tác, hội nhập. Nhưng do ưu thế vốn, công nghệ… phần lớn phụ
thuộc vào các nước tư bản phát triển và các công ti đa quốc gia nên các nước đang
phát triển đứng trước những thách thức lớn. CNTB đang chi phối nền kinh tế thế
giới nhờ nắm những thành tựu KH - CN mới nhất. Cạnh tranh quốc tế về KH - CN,
thương mại gay gắt. Hệ thống kinh tế hàng hoá thị trường là một nền kinh tế thị
trường phát triển ở trình độ cao, không ngừng phát triển, dựa trên công nghệ mới.
Nền kinh tế đó đang sản xuất ra hàng hoá, cả hàng hoá sức lao động với hình thức
5
và chất lượng mới: Hàm lượng trí tuệ ngày càng cao dẫn đến những biến đổi sâu
sắc toàn diện, những lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội loài người.
- Sự phát triển như vũ bão của KH-CN biến nó thành lực lượng sản xuất trực
tiếp. Thời gian cho một phát minh mới của khoa học rút ngắn lại và phạm vi ứng
dụng của một thành tựu khoa hoc vào sản xuất và đời sống ngày càng mở rộng.
CNH, HĐH có thể rút ngắn thời gian với những bước đi tuần tự về công nghệ,
vừa có những bước nhảy vọt, đi trước đón đầu. Tranh thủ ứng dụng KH-CN
phát triển kinh tế tri thức , phát triển trí tuệ, GD-ĐT với KH-CN nền tảng và động
lực cho CNH, HĐH. Có như thế chúng ta mới nhanh chóng đạt trình độ phát triển
cao của thế giới, tránh bị đẩy ra bên lề văn minh nhân loại. Đó là một tất yếu khách
quan. Đó là quá trình xác lập, cũng cố, phát triển yếu tố của CNXH, xoá bỏ, tiếp thu
và kế thừa những yếu tố, giá trị, những thành tựu nhất định của con đường TBCN.
Rút ngắn quá trình tiến từ sản xuất nhỏ, thủ công, từ sản xuất tiền công nghiệp lên
nền công nghiệp hiện đại, xã hội công nghiệp hiện đại.
Việt Nam cần tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng,
lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng
XHCN gắn với phát triển kinh tế trí thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng
của nền kinh tế và sự nghiệp CNH, HĐH. Tri thức Việt Nam kết hợp với tri thức
nhân loại phát triển mạnh những ngành có giá trị gia tăng cao phụ thuộc vào tri
thức. Đó là các ngành công nghệ cao ( chất xám, phát triển kinh tế, quốc phòng an
ninh) công nghệ phần mềm và công nghệ bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo ra nhiều