ĐỀ CƯƠNG TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Sinh viên:Nguyễn Thị Thu Hà
Lớp:Kế toán 49C Lớp bộ môn:Triết học 9
Mã sinh viên:CQ490690
Đề tài:Luận chứng chủ trương phát triển Khoa học&Công nghệ cùng với
Giáo dục&Đào tạo là những quốc sách hàng đầu để thực hiện thành công sự
nghiệp Công nghiệp hoá,Hiện đại hoá ở Việt Nam.
1.Khái quát chủ trương CNH,HĐH đất nước của Đảng và Nhà nước ta
-CNH,HĐH là một tất yếu khách quan trên con đường xây dựng
CNXH
* Khái niệm chung về CNH,HĐH
* CNH,HĐH là một xu hướng mang tính quy luật
-Nội dung của CNH,HĐH ở nước ta theo quan điểm chỉ đạo của
Đảng&Nhà nước
2.Khái quát nội dung của chủ trương CNH,HĐH đất nước theo nguyên
tắc xác định KH&CN cùng với GD&ĐT là những quốc sách hàng đầu
-Nhận định về sự phát triển của LLSX ở nước ta trong thời kỳ quá độ
lên CNXH
-Bài học kinh nghiệm từ những quốc gia phát triển do biết chú trọng
nhân tố con người(thông qua việc phát triển GD&ĐT)cùng với phát triển
KH&CN
-Quan điểm chỉ đạo của Đảng và việc ứng dụng chính sách trên thông
qua sự quản lý của nhà nước vào thực tế
* Đảng ta đã chỉ rõ:
Khoa học và công nghệ trở thành nền tảng của công nghiệp
hóa,hiện đại hoá
Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con
người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
* Nhiệm vụ đặt ra trong quá trình thực hiện mục tiêu CNH,HĐH lấy
GD&ĐT cùng với KH&CN là quốc sách hàng đầu
thời kỳ quá độ là:Phỏt trin lc lng sn xut, cụng nghip hoỏ t nc
theo hng hin i gn lin vi phỏt trin mt nn nụng nghip ton din l
nhim v trung tõm nhm tng bc xõy dng c s vt cht - k thut ca
ch ngha xó hi, khụng ngng nõng cao nng sut lao ng xó hi v ci
thin i sng nhõn dõn.(Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
-Đảng Cộng sản Việt Nam)
Nh vậy,để hiểu rõ về CNH-HĐH ở nớc ta,trớc tiên phải xác định:
-Khái niệm về công nghiệp hoá,hiện đại hoá theo quan điểm của
Đảng&Nhà nớc ta:
- Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này
một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc động viên để
phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nớc với kỹ thuật hiện đại. Đặc
điểm của cơ cấu kinh tế này là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất
ra những t liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho toàn bộ
nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế và
xã hội.
- Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động
sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ chỗ theo những qui
trình công nghệ phơng tiện phơng pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát
triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra năng suất lao động hiệu quả và trình
độ văn minh kinh tế xã hội cao.
- CNH,HĐH là xu hớng mang tính quy luật
Về CNH,các nớc phát triển đã đi trớc chúng ta cả trăm năm và đến nay đã
có những bớc tiến rất dài trong lịch sử.Cách mạng công nghiệp Anh bắt đầu
vào cui th k XVII đến nay đã thay đổi toàn bộ LLSX xã hội,làm ra lợng
của cải vật chất bằng tất cả các thời đại trớc cộng lại(Marx).Thực tế các nớc
phát triển cũng cho thấy quá trình chuyển từ một nền sản xuất nhỏ lạc hậu
sang nền sản xuất lớn,hiện đại tất yếu phải qua cách mạng công nghiệp.Một
thế giới đang phát triển với những xu hớng toàn cầu hội nhập sâu và rộng
không cho phép chúng ta quay lng với quy luật lịch sử ấy.Mang đặc điểm là
ni dung chớnh ca CNH XHCN.n nay,qua hn 20 nm i mi,nn kinh
t ó t mc tng trng khỏ v n nh.LLSX ngy mt phỏt trin. [xem
thờm ph lc(3,4) ]. Nhim v t ra trc mt l phn u n nm 2020
đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.Muốn đạt được mục tiêu
ấy,Đảng và Nhà nước đã xác định rõ:
-Trong quá trình thực hiện mục tiêu cơ bản ấy,không thể không xét đến
bối cảnh chung của thế giới cũng như kinh nghiệm từ những nước có nền
công nghiệp hiện đại bậc nhất hiện nay.Nguyên nhân của sự phát triển thần
kì ở hai đất nước Hàn Quốc và Nhật Bản là minh chứng rõ nét cho sự đầu tư
và phát triển đúng đắn cả hai lĩnh vực KH&CN,GD&ĐT.
Nhật Bản luôn là một tấm gương sáng trong chiến lược phát triển Khoa
học,Công nghệ cũng như chú trọng đặc biệt về nhân tố con người qua Giáo
dục,Đào tạo.Ngay từ sau chiến tranh thế giới hai,đang còn là một nước lạc
hậu so với các nước tư bản khác,nhưng chính phủ đã giành phần lớn ngân
sách cho việc nghiên cứu,phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại.Chi phí cho
nghiên cứu,phát triển khoa học năm 1955 còn ở mức 40,1 tỉ yên(0,84% thu
nhập quốc dân)đã tăng lên nhanh chóng đạt gần 1200 tỉ yên(1,96%thu nhập
quốc dân)vào năm 1970.Số phòng thí nghiệm tăng từ 1445 phòng năm 1955
thì năm 1970 đã tăng lên đến 12954,gấp 9 lần trong vòng 15 năm.Năm
1970,ở Nhật Bản có tới 419.000 nhà khoa học và chuyên gia kĩ thuật.Do
đó,tốc độ tăng năng suất lao động hằng năm của Nhật là
9,4%(1955-1965).Gía trị tổng sản lương công nghiệp tăng từ 4,1 tỉ USD
năm 1950 lên 56,4 tỉ USD năm 1969.Đúng một trăm năm sau cải cách Minh
trị(1868-1968),Nhật Bản đã vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới
chỉ sau Mỹ.Đặc biệt với việc phát huy vai trò nhân tố con người qua một nền
giáo dục khá hoàn thiện ngay từ trước chiến tranh thế giới thứ hai,Nhật Bản
đã có một nguồn tài nguyên đắt giá không thể thay thế được.Con người được
chú trọng đào tạo với những đức tính cần kiệm,kiên trì ,lòng trung thành,tính
phục tùng truyền thống…vẫn được đề cao.Bên cạnh đó là tính ham học của
người Nhật đi liền với kỉ luật lao động khắt khe đã tạo ra sự khác biệt lớn
nhiều lao động để giải quyết việc làm.
Trong vấn đề này, có ba điểm nhấn quan trọng.
a. Phát triển khoa học tự nhiên và công nghệ. Phát huy những năng lực
nội sinh đi đôi với tiếp thu, làm chủ, ứng dụng thành tựu khoa học và công
nghệ thế giới. Phát triển các công nghệ cao, công nghệ thông tin, viễn thông,
sinh học, vật liệu mới, tự động hóa và sản xuất các dạng năng lượng mới.
Phát triển hệ thống thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ.
b. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng Nhà
nước đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia đạt trình độ khu vực
và thế giới, xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của một số lĩnh vực
trọng điểm; xóa bỏ cơ chế hành chính bao cấp, thực hiện cơ chế tự chủ, tự
chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Huy
động các thành phần kinh tế, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho khoa học
và công nghệ. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công
nghệ. Nâng cao chất lượng và khả năng thương mại của các sản phẩm khoa
học và công nghệ; đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ trong các doanh
nghiệp.
c. Xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, các
nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành
nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có chính sách thu hút, trọng
dụng các nhà khoa học, công nghệ tài giỏi ở trong nước và người Việt Nam
định cư ở nước ngoài.
Minh chứng cho chủ trương lấy KH&CN,GD&ĐT làm quốc sách hàng
đầu trong quá trình CNH,HĐH của Đảng và Nhà nước ta,có thể thấy sự nỗ
lực từ việc tăng ngân sách cho giáo dục Việt Nam qua các năm từ 1986 tới
nay [xem thêm phụ lục (2)]đồng thời với đó là phát triển hệ thống giáo dục
rộng khắp,không ngừng đổi mới công tác dạy và học để vươn tới một nền
giáo dục hiện đại,đạt chuẩn quốc tế.
Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập kỷ
qua, chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao