Câu hỏi: Đánh giá thực trạng về hoạt động thị trường taì chính tiền tệ và thị trường ngoại hối ở Việt Nam - Pdf 20

Câu hỏi: Dánh giá thực trạng về hoạt động thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối ở Việt nam.
A.Thị trường tiền tệ
Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm thị trường tiền tệ
- “Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn có kỳ hạn dưới một
năm, là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế”
- Ở nước ta, thị trường tiền tệ mới hình thành, công cụ giao dịch trên thị trường tiền tệ còn ít nên
luật pháp cho phép các giấy tờ có giá dài hạn được phép giao dịch trên thị trường tiền tệ. Theo
điều 9, luật sửa đổi một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước (2003) định nghĩa: “Thị trường
tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá, bao gồm tín phiếu
kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác”.
2. Các loại thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ được phân loại căn cứ vào cách thức tổ chức hoặc loại công cụ.
2.1. Phân loại theo cơ cấu tổ chức:
Thị trường tiền tệ bao gồm:
- Thị trường tiền tệ cổ điển: là thị trường vay vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng
(TCTD) đặt dưới sự quản lý của ngân hàng trung ương (NHTW). Hàng ngày, tại đây hình thành
lãi suất chỉ đạo thị trường tiền tệ, như: lãi suất LIBOR trên thị trường tiền tệ London (London
Inter Banking Offered rate), lãi suất PIBOR trên thị trường tiền tệ Paris (Paris Inter Banking
Offered rate), SIBOR (thị trường tiền tệ Singapore)…
- Thị trường tiền tệ mới: đây là thị trường các trái phiếu ngắn hạn, cơ cấu của nó gồm 2 cấp:
+ Thị trường tiền tệ sơ cấp: là thị trường tiền tệ chuyên phát hành các loại trái phiếu
ngắn hạn lần đầu.
+ Thị trường tiền tệ thứ cấp: là thị trường tiền tệ tổ chức mua bán lại các trái phiếu đã
phát hành ở thị trường sơ cấp.
+ Thị trường mở (Openmarket operation): là thị trường mua bán các loại chứng khoán
nhà nước ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, nhằm điều tiết cung cầu tiền tệ
trong nền kinh tế. Tức thông qua thị trường mở, NHTW có thể làm cho “tiền dự trữ” của các
ngân hàng thương mại (viết tắt NHTM) tăng lên hoặc giảm xuống, từ đó tác động đến khả năng
cung cấp tín dụng của NHTM làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền tệ của nền kinh tế.
2.2. Phân loại theo đối tượng tham gia: Thị trường tiền tệ bao gồm:

- Chủ thể có nhu cầu về vốn như: NHTM, các đơn vị kinh tế khác, kho bạc nhà nước
Thông qua thị trường tiền tệ, các chủ thể này có thể thu hút được nguồn vốn ngắn hạn dễ dàng và
chi phí thấp.
- Chủ thể trung gian môi giới, vừa đi vay và vừa cho vay như: NHTM, Công ty chuyên môi
giới.
4. Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ
4.1. Nghiệp vụ vay và cho vay vốn ngắn hạn
Nghiệp vụ này diễn ra chủ yếu giữa các NHTM, xuất phát từ họat động kinh doanh tiền tệ,
tại một thời điểm nhất định một số NHTM tạm thời thừa vốn trong khi đó một số NHTM khác
rơi vào tình trạng thiếu vốn tạm thời. Do đó để đảm bảo cho khả năng thanh toán, quan hệ điều
tiết vốn giữa các NHTM diễn ra thông qua các hình thức sau:
- Cho vay bằng tiền mặt: Khi NHTM thiếu hụt vốn tạm thời, có thể đi vay tại một NHTM
khác đang thừa vốn tạm thời tại thời điểm đó để đảm bảo khả năng thanh toán. Giao dịch liên
ngân hàng chủ yếu dưới hình thức tín chấp hoặc đảm bảo bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân
hàng cho vay…; Thời hạn cho vay rất ngắn: hàng ngày (qua đêm), định kỳ 1 tuần, 2 tuần,
tháng…
- Cho vay dưới hình thức cầm cố hoặc chiết khấu các chứng từ có giá: Khi có nhu cầu lớn
2
về vốn, các NHTM đã vay các TCTD khác nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thì NHTW có
thể hỗ trợ bằng các nghiệp vụ sau:
+ Tái chiết khấu chứng từ có giá: NHTW sẽ nhận chiết khấu lại những chứng từ có giá
mà trước đây NHTM đã chiết khấu cho khách hàng.
+ Bảo chứng lại: NHTW sẽ cho NHTM vay vốn trên cơ sở cầm cố các chứng từ có giá
mà trước đây NHTM đã nhận cầm cố từ khách hàng.
4.2. Nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn
Công cụ chủ yếu của nghiệp vụ này là các loại trái phiếu ngắn hạn được phát hành từ thị
trường tiền tệ sơ cấp và bán lại ở thị trường thứ cấp.
Nghiệp vụ này phát sinh trong trường hợp một số chủ thể kinh tế cần bổ sung vốn bằng tiền
của mình nên phát hành một lượng trái phiếu ngắn hạn ra thị trường, trong khi một số chủ thế
khác đang muốn sinh lợi cho khoản vốn nhàn rỗi của mình bằng con đường kinh doanh trên thị

21/6/1993 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân hàng và Quyết định
số 190/QĐ-NH14 ngày 06/10/1993 về việc bổ sung, sửa đổi Quy chế tổ chức và hoạt động của
thị trường liên ngân hàng, thị trường nội tệ liên ngân hàng được hình thành dưới hình thức là một
thị trường tập trung có tổ chức qua Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và gắn liền với các trung tâm
thanh toán bù trừ (Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội) số lượng thành viên tham gia
và doanh số hoạt động rất hạn chế; trong đó, những thành viên là NHTM Nhà nước có khả năng
chi phối trên cả giác độ huy động vốn và cho vay vốn do có lợi thế về tài chính và uy tín. Từ năm
1997, hoạt động của thị trường diễn ra theo hình thức các ngân hàng trực tiếp vay mượn lẫn nhau
không thực hiện thông qua NHNN. Các Ngân hàng thỏa thuận phương thức giao dịch, thời hạn,
lãi suất cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay dựa trên mức độ tín nhiệm và có sự tham gia tích
cực của NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đến nay, phần
lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện dưới các hình thức tín chấp, bảo đảm bằng số dư
tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay; thậm chí một số ngân hàng đã thực hiện quan hệ vay
mượn dưới hình thức gửi tiền lẫn nhau.
* Kết quả đạt được
- Số lượng thành viên và doanh số hoạt động trên thị trường liên ngân hàng đã tăng đáng kể,
phương thức giao dịch của thị trường ngày càng đổi mới, hầu hết các giao dịch đều thực hiện qua
mạng, thời hạn của các giao dịch khá linh hoạt (qua đêm, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6
tháng, 12 tháng).
Hiện nay, gần 30 NHTM đã thực hiện giao dịch vốn liên ngân hàng (gửi tiền/cho vay và
nhận tiền gửi/đi vay) thông qua hệ thống của Hãng Reuters. Hãng Reuters đã xây dựng được
trang lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng Việt Nam (VNIBOR) trên cơ sở
chào giá hàng ngày của một số ngân hàng.
- “ Doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng từ năm 2002 đến nay, theo đánh giá
của các chuyên gia ngân hàng thì doanh số giao dịch tăng khoảng 20% mỗi năm”. Kết quả trên
đã chứng minh thị trường nội tệ liên ngân hàng đã thực hiện được vai trò điều tiết vốn ngắn hạn
bằng đồng Việt Nam giữa các ngân hàng, làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn của các TCTD
an toàn, hiệu quả.
- Bên cạnh phát triển thị trường liên ngân hàng, nghiệp vụ tái cấp vốn đã được NHNN từng
bước đổi mới, hoàn thiện theo hướng nâng cao hiệu quả điều tiết tiền tệ, thực hiện vai trò là

hàng thường có nhu cầu vay VND. Việc điều chuyển vốn thường chỉ diễn ra một chiều giữa
nhóm các ngân hàng thường cho vay và nhóm ngân hàng thường đi vay.
- Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng và lãi suất tái cấp vốn chưa phản ánh chính xác quan hệ
cung cầu và xu hướng vận động của thị trường tiền tệ.
- Vai trò của NHNN trong việc thu thập thông tin diễn biến thị trường liên ngân hàng và tham
gia điều tiết thị trường khá mờ nhạt, đặc biệt là cơ chế xử lý trong trường hợp cung lớn hơn cầu
vốn trên thị trường.
- Hoạt động tái cấp vốn mới chỉ dừng lại ở mục đích bổ sung nguồn vốn ngắn hạn và
phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng, các chức năng nhằm điều chỉnh các điều kiện
tiền tệ theo mục tiêu chính sách tiền tệ, điều chỉnh quá trình phát triển kinh tế về quy mô và cơ
cấu đầu tư dựa trên sự cấp vốn theo thời gian, theo lĩnh vực ngành kinh tế, theo từng vùng lãnh
thổ chưa được phát huy.
- Việc phân bổ hạn mức chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN với các ngân hàng mới
chỉ dựa trên các yếu tố như tổng dư nợ bằng đồng Việt Nam, tổng tài sản Có và vốn tự có của
ngân hàng mà chưa tính tới khối lượng giấy tờ có giá mà các ngân hàng nắm giữ, do đó chưa phù
hợp với nhu cầu và đặc biệt chưa kích thích việc tích cực nắm giữ giấy tờ có giá đủ điều kiện tái
cấp vốn.
2. Thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc
- Nghiệp vụ thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc được thực hiện từ tháng 5/1995 và trải
5
qua các giai đoạn phát triển sau:
+ Từ năm 1995 đến 1999: Phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc;
+ Từ năm 1999 đến 2003: Phát hành tín phiếu kho bạc;
+ Từ năm 2003 đến nay: Phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu ngoại tệ (USD, kỳ
hạn 5 năm).
Theo Thông tư 19/2004/TT-BTC ngày 18/3/2004 của Bộ Tài chính, hiện nay có hai
loại trái phiếu đang được đấu thầu tại Ngân hàng Nhà nước là: Tín phiếu kho bạc Nhà nước và
Trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ (trái phiếu ngoại tệ).
- Thành viên thị trường: Trước đây, số đơn vị được NHNN công nhận thành viên thị trường
đấu thầu Trái phiếu kho bạc là 47 thành viên. Tuy nhiên trong quá trình tham gia, có một số

6
2005 60 22.120,60 7 Không có
2006 48 22.075,10 Không có
Tổng cộng 498 107.344,50 17 14.500.000,00
- Số lượng thành viên tham gia trên thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc vẫn còn hạn
hẹp, thành viên chủ yếu vẫn là các NHTM.
- Lãi suất trên thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc vẫn còn nhiều bất cập. Hiện nay,
lãi suất áp dụng lãi suất chỉ đạo trong đấu thầu tín phiếu Kho bạc nên lãi suất trúng thầu chưa
hình thành theo các nguyên tắc thị trường.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn có những hạn chế nhất định.
3. Nghiệp vụ thị trường mở
- Thị trường mở được chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 và vận hành theo Quy
chế hoạt động thị trường mở được ban hành kèm theo Quyết định số 85/2000/QĐ – NHNN14
ngày 09/3/2000. Qua quá trình hoạt động, NHNN đã không ngừng hoàn thiện cơ sở pháp lý để
thị trường mở ngày càng phát huy vai trò, tác dụng trong sự phát triển của thị trường tiền tệ.
- Các công cụ tài chính được phép giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở bao gồm các loại
giấy tờ có giá (GTCG) phát hành bằng đồng Việt Nam như: Tín phiếu NHNN, TPCP (tín phiếu
kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu đầu tư do Quỹ Hỗ trợ
phát hành công trái) và trái phiếu chính quyền địa phương do Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh
và TP Hà Nội phát hành bằng đồng VN và có thời hạn còn lại tối đa là 91 ngày (Đối với trường
hợp mua, bán hẳn) và dài hơn thời hạn mua, bán (Đối với trường hợp mua hoặc bán có kỳ hạn).
3.1. Kết quả đạt được:
- Số thành viên tham gia tăng lên hàng năm. Đến nay có 35 thành viên tham gia.
- Tần suất và khối lượng trúng thầu tăng dần qua các năm. Từ tháng 11/2004,
NHNN đã tăng định kỳ giao dịch lên 3 phiên/ tuần và đến nay mỗi ngày có từ 2 đến 3 phiên giao
dịch. Bên cạnh đó, NHNN còn mở các phiên giao dịch đột xuất hoặc các phiên giao dịch hàng
ngày vào những dịp giáp Tết để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán, không để xảy ra tình trạng
mất khả năng thanh toán cũng như chậm trả đối với khách hàng. Nhờ đó, hoạt động ngân hàng
được diễn ra bình ổn, củng cố uy tín của hệ thống ngân hàng.
KHỐI LƯỢNG GIAO DỊCH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỞNG MỞ

trường tiền tệ các nước như thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi nhưng hầu như vẫn chưa được
hình thành, hoặc còn ít sử dụng ở Việt Nam.
- Kỳ hạn của các trái phiếu Chính phủ – công cụ chủ yếu sử dụng trong nghiệp vụ thị
trường mở vẫn chưa thực sự đa dạng, nhất là tín phiếu Kho bạc với thời hạn ngắn dưới 6 tháng.
- Số lượng thành viên tham gia hạn hẹp nên lãi suất nghiệp vụ thị trường mở chưa phản
ánh đúng quan hệ cung-cầu về vốn trên thị trường.
4. Thị trường hối đoái
4.1. Kết quả đạt được
Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động
kinh doanh hối đoái, đa dạng hoá các loại hình giao dịch trên thị trường; tạo các công cụ phòng
ngừa rủi ro trước những biến động của tỷ giá và lãi suất trên thị trường trong tương lại; giúp cho
các nhà xuất khẩu, nhập khẩu, các đơn vị kinh tế chủ động trong kinh doanh; thúc đẩy và phát
triển các giao dịch hối đoái để góp phần hoàn thiện thị trường hối đoái ở Việt Nam.
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chính thức được hình thành từ năm 1994. Thị trường này giúp
kết nối cung cầu ngoại tệ cho các ngân hàng. Qua thị trường này, NHNN đã theo dõi được các
giao dịch về ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng, thấy được diễn biến cung cầu và tham gia thị
trường với vai trò là người mua bán cuối cùng. NHNN tham gia thị trường này nhằm thực thi
8
chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Kể từ năm 1999, ngoài điều hành linh hoạt tỷ giá, NHNN
còn thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời tỷ giá trên thị trường giúp các NHTM cân đối
ngoại tệ đã góp phần làm ổn định tỷ giá.
4.2. Một số hạn chế, bất cập
- Thị trường ngoại hối của Việt Nam vẫn thuộc loại kém phát triển, ngay cả khi so với các nước
trong khu vực, kể cả quy mô và chiều sâu do chất lượng quản lý không cao, thiếu thống nhất, các
quy định lỏng lẻo, tạo điều kiện cho những hành vi vi phạm về quản lý. Phổ biến tình trạng niêm
yết giá cả bằng ngoại tệ, thanh toán, mua bán ngoại tệ bất hợp pháp vẫn còn diễn ra phổ biến, các
nguồn thu bằng ngoại tệ vẫn còn phân tán trong nhân dân, doanh nghiệp hoặc một số quỹ ngoại
tệ khác, chưa được thu hút vào hệ thống ngân hàng, chưa nâng cao được tính chuyển đổi của
đồng Việt Nam và chưa phát huy được tác dụng trong việc khắc phục tình trạng đô la hóa của
nền kinh tế.

9
2.1. Giải pháp trước mắt
2.1.1 – Tháo gỡ ngay một số vướng mắc pháp lý để tạo thuận lợi cho các giao dịch trên
thị trường tiền tệ và tăng cường công cụ giao dịch thị trường:
- Đề nghị Chính phủ cho phép trái phiếu đặc biệt được giao dịch trên thị trường tiền tệ như các
loại trái phiếu khác của Chính phủ.
- Đề nghị Bộ Tài chính xem xét phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc với nhiều loại kỳ hạn.
- Đề nghị NHNN bổ sung, sửa đổi một số qui định để tăng thêm tính thông thoáng cho thị
trường:
+ Sửa đổi quy chế cho vay cầm cố bằng giấy tờ có giá của NHNN đối với các ngân hàng theo
hướng không qui định điều kiện thời hạn còn lại của giấy tờ có giá dài hạn được phép cầm cố
(qui định hiện nay là không quá 2 năm); đồng thời có thể giải chấp ngay các giấy tờ có giá cầm
cố bảo đảm nợ đã quá hạn thanh toán để tăng cung cho thị trường;
+ Sửa đổi Quy chế chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN theo hướng quy định
hạn mức tín dụng trên cơ sở giá trị giấy tờ có giá NHTM nắm giữ để phù hợp nhu cầu của từng
ngân hàng và khuyến khích các NHTM tăng cường giao dịch, nắm giữ giấy tờ có giá đủ điều
kiện giao dịch trên thị trường mở và bảo đảm trong nghiệp vụ tái cấp vốn.
+ Bổ sung nghiệp vụ bảo lãnh phát hành vào Quy chế bảo lãnh của ngân hàng đối với khách
hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành giấy tờ có giá của doanh nghiệp, làm nền tảng
cho sự phát triển của thị trường tiền tệ trong tương lai và là cầu nối giữa thị trường tiền tệ và thị
trường chứng khoán.
2.1.2 - Điều hành linh hoạt thị trường mở và thị trường đấu thầu trái phiếu chính phủ:
- Điều hành linh hoạt thị trường mở với việc tăng số phiên và khối lượng giao dịch, đa dạng hoá
kỳ hạn và lãi suất để hút vốn khả dụng tạm thời dôi dư của các TCTD.
- Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính phối hợp tăng khối lượng tín phiếu Kho bạc Nhà nước
đấu thầu hàng quý, hàng năm và linh hoạt hơn nữa lãi suất đấu thầu qua các phiên theo sát diễn
biến thị trường.
2.2. Các giải pháp thường xuyên và lâu dài
2.2.1. Không ngừng hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển của thị trường tiền tệ
- Hoàn chỉnh các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Công cụ chuyển nhượng để mở rộng áp

mạnh thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực quản lý kinh doanh, năng lực tài chính và sức
cạnh tranh.
- Các NHTM tăng cường công tác đào tạo cán bộ trong hoạt động thị trường tiền tệ, nâng cao
trình độ kinh doanh, giao dịch tiền tệ cùng với việc xây dựng các biện pháp đảm bảo an toàn và
phòng ngừa rủi ro trong hoạt động.
B.Thị trường ngoại hối
Cơ sở lí luận về thị trường ngoại hối
I. khái niệm và đặc điểm của thị trường ngoại hối
1. Khái niệm :
Thị trường ngoại hối có tên tiếng Anh là : The Foreign Exchange Market, và được viết tắt là
FOREX hay FX.
Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản: Thị Trường Ngoại Hối là nơi diễn ra sự mua bán các
loại tiền tệ của nhiều quốc gia trên thế giới thông qua hệ thống chuyển đổi thả nổi tự do.
Trong thực tế, do hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng ( chiếm khoảng
85% tổng doing số giao dịch ), chính vì vậy, theo nghĩa hẹp ( nghĩa thực tế ) thì thị trường ngoại
hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hang, tức thị trường Interbank.

11
Bất kì đâu diễn ra hoạt động mua
bán ngoại tệ
Nghĩa hẹp
Nghĩa rộng
FOREX
2. Đặc điểm của thị trường ngoại hối :
- Forex không nhất thiết phải tập trung tại vị trí đia lý hữu hình nhất định, mà là bất cứ đâu diễn
ra hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau. Do đó, nó còn được gọi là thị trường không gian
(space market).
- Là thị trường toàn cầu, hoạt động 24/24h. Do có sự chênh lệch múi giờ giữa các khu vực trên
thế giới nên các giao dịch diễn ra suốt ngày đêm nên còn được gọi là thị trường không ngủ.
- Trung tâm là thị trường liên ngân hàng – Interbank, với các thành viên chủ yếu là các NHTM,

-Thị trường quyền chọn
2. Theo tính chất giao dịch
-Thị trường giao ngay
-Thị trường tiền gửi
3. Theo tính chất pháp lý
-Thị trường chính thức
-Thị trường phi chính thức
4. Theo phạm vi thị trường
-Thị trường ngoại hối quốc tế
-Thị trường ngoại hối nội địa
5. Theo phương thức giao dịch
-Thị trường giao dịch trực tiếp
-Thị trường giao dịch qua môi giới
III Chức năng và vai trò của thị trường ngoại hối
1.chức năng
Tại sao lại giao dịch ngoại hối? Dưới đây là những thuận lợi và giá trị của thị trường Forex, là
những lý do tại sao mọi người chọn giao dịch trong thị trường này:
13
Không phí dịch vụ : Không phí trao đổi, không phí thanh toán, không phí chính phủ,
không phí môi giới. Người môi giới sẽ được trích từ phí giao dịch thông qua điểm “bid-ask”
(trung bình 3-5 pips)
Không qua trung gian đặt lệnh: Giao dịch tiền tệ không cần trung gian và cho phép
khách hàng giao dịch trực tiếp với thị trường và được cập nhật thông tin trực tiếp về giá và tỉ giá
các cặp tiền tệ.
Không giới hạn giao dịch: trong các thị trường khác hợp đồng giao dịch được giới hạn
bởi tỉ lệ nhất định ( ví dụ hợp đồng quyền chọn tương lai đối với vàng là 5000 ounces). Trong
Forex, có thể giao dịch với chỉ một tài khoản nhỏ 300$.
Phí giao dịch thấp: Phí giao dịch cho các tài khoản nhỏ ( bid/ask spread) chỉ khoảng
0.1% với những điều kiện thường. Tài khoản càng lớn phí giao dịch càng thấp.
Thị trường giao dịch 24h: Không phải chờ đợi giờ thị trường mở cửa và đóng cửa. Giao

thực hiện với giá của thị trường hiện tại. Trong tất cả những thị trường di chuyển nhanh, không
thể tránh được rủi ro trong tất cả các giao dịch (chứng khoán, bất động sản, v.v…) nhưng có thể
được tránh bằng 1 vài chương trình phần mềm của nhà môi giới tiền tệ, các chương trình này sẽ
thông báo cho bạn biết giá nhập vào chính xác trước khi thực hiện lệnh. Bạn được phép chọn
tránh hoặc chấp nhận rủi ro. Khả năng thanh khoản của thị trường Forex rộng lớn đề ra những
khả năng khớp lệnh có chất lượng cao.
Giao dịch được xác nhận ngay lập tức và người giao dịch qua Internet chỉ việc in 1 bản sao của
màn hình máy vi tính để ghi chép lại tất cả hoạt động giao dịch. Nhiều người cho rằng đặc điểm
của việc giao dịch bằng Internet an toàn hơn so với việc sử dụng điện thoại để giao dịch. Những
hãng nổi tiếng như Charles Schwab, Quick $ Reilly và T.D. Warehouse đề nghị giao dịch qua
Internet. Họ sẽ không mạo hiểm danh tiếng của họ nếu dịch vụ Internet không đáng tin cậy và an
toàn. Trong tình huống xuất hiện vấn đề về kỹ thuật, máy vi tính tạm thời ngừng hoạt động,
nhưng với hệ thống đặt lệnh (ordering) của nhà môi giới (broker), người giao dịch có thể ngay
lập tức gọi điện thoại cho broker để vào hoặc thoát ra khỏi giao dịch. Hệ thống vi tính của nhà
môi giới (broker Internet) được bảo vệ bởi những bức tường lửa để giữ cho thông tin về tài
khoản không bị dòm ngó. Mối quan tâm lớn nhất của broker là sự an toàn của tài khoản. Họ phải
thực hiện nhiều bước để lọai trừ bất kỳ hiểm họa nào đi theo việc giao dịch trên Internet. Người
giao dịch Forex trên Internet không phải gọi điện thoại cho broker. Sự loại trừ người trung gian
(broker salesman) làm giảm chi phí, làm cho tiến trình đặt lệnh nhanh hơn và hạn chế khả năng
hiểu lầm.
Tính tập trung (Focus): Thay vì cố gắng chọn 1 chứng khoán, 1 khế ước, quỹ hỗ tương
hoặc bất động sản từ hàng chục ngàn thứ có sẵn trên thị trường, những người giao dịch Forex chỉ
tập trung vào 1 tới 4 đồng tiền. Những đồng dễ thay đổi và thông dụng là: Yên Nhật, bảng Anh,
đồng Thụy Sỹ và Euro. Những người giao dịch thành công cao là những người tập trung vào số
lượng đầu tư có giới hạn. Những người mới bắt đầu Forex thường tập trung vào 1 đồng tiền và
sau đó kết hợp từ 1 đến 3 đồng trong hoạt động giao dịch.
Tính xu hướng (Trendiness): Trong 1 khoảng thời gian lịch sử, tiền tệ đã khẳng định xu
hướng là quan trọng. Mỗi đồng tiền có “tính cách” riêng của nó và đưa ra chỉ 1 xu hướng, bất kể
những cơ hội giao dịch đa dạng trong thị trường đặc điểm Forex.
Tất cả các lệnh phải được đặt thông qua sàn giao dịch. Để giao dịch tiền tệ bạn phải cần 1 sàn

Từ đó ta có thể rút ra chức năng của ngoại hối :
Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là kết quả phát triển tự nhiên của một trong các chức
năng cơ bản của ngân hàng thương mại, đó là:nhằm dịch vụ cho các khách hang thực hiện các
giao dịch thương mại quốc tế.
2. vai trò của Forex là:
Phục vụ thương mại quốc tế (Primary Role)
Phục vụ luân chuyển vốn quốc tế
Nơi hình thành tỷ giá
16
Nơi NHTW can thiệp lên tỷ giá
Nơi KD và phòng ngừa rủi ro tỷ giá
IV; Những yếu tố và Thành viên tham gia FOREX
1.Điều kiện tham gia thị trường ngoại hối
- Điều kiện tối thiểu nếu bạn muốn giao dịch trong thời gian đó là bạn phải có từ 10 đến 50 triệu
USD để bắt đầu. FOREX ra đời lúc đầu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của các ngân hàng và
các công ty khổng lồ trong ngành, không phải là những “chàng tí hon”. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ
kì diệu của Internet, hệ thống giao dịch trực tuyến, các công ty giao dịch đã ra đời cho phép mở
những tài khoản “lẻ” cho chúng ta. Ngày nay, những nhà môi giới trên thị trường được phép phá
vỡ những đơn vị giao dịch rộng lớn và cho phép những giao dịch nhỏ có cơ hội để mua và bán
bất cứ số nào trong những giá trị nhỏ hơn này (lots).
2.Thành viên tham gia
- Ngân hàng thương mại:có 2 vai trò trong thị trường Forex
1. Làm cho việc giao dịch giữa hai bên trở nên dễ dàng, ví dụ như những công ty muốn trao đổi
tiền tệ (người tiêu thụ).
2. Đầu cơ bằng cách mua và bán tiền tệ. Ngân hàng có vai trò trong những đơn vị tiền tệ nhất
định bởi vì người ta tin rằng trong tương lai chúng sẽ có giá cao hơn (nếu mua trữ) và thấp hơn
(nếu bán sớm). Người ta thống kê rằng 70% lợi tức thường niên của những ngân hàng quốc tế
được sinh ra từ việc đầu cơ tiền tệ. Những đầu cơ khác bao gồm những nhà giao dịch thành công
nhất trên thế giới ví dụ George Soros.
- Ngân hàng trung ương của các quốc gia khác.Khi ngân hàng trung tâm mua và bán tiền tệ

Chuyển đổi ngoại tệ
Phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Nhòm khách hang này mua bán lẻ có nhu cầu mua bán ngoại tệ chỉ có mục đích là phục vụ bản
thân chứ không có mục đích kinh doanh.
Các ngân hang thương mại ( Commercial Bank)
Các NHTM tiến hành giao dịch ngoại hối nhằm hai mục đích :
18
Cung cấp dịch vụ cho khách hang, bằng cách mua hộ và bán hộ cho nhóm khách hàng mua bán
lẻ.
Thứ hai, kinh doanh cho chính mình, tức là mua bán ngoại hối nhằm kiếm lãi khi tỷ giá thay dổi.
Trên Interbank, các ngan hang giao dịch vời nhau theo hai phương pháp :
Giao dịch trực tiếp giữa ngân hang với nhau (Direct Interbank )
Giao dịch gián tiếp thông qua nhà môi giới ( Indirect Interbank )
Những nhà môi giới ngoại hối ( Foreign exchange brokers )
Ngày nay hình thức này cũng đang phát triển.
Các Ngân hang trung ương (Central bank )
Can thiệp tỷ giá
Mua bán, chuyển đổi tiền tệ nhằm bảo toàn và gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối quốc gia
NHTW là đạilý trong việc mua hộ, bán hộ ngoại tệ cho chính phủ.
V: Hàng hóa và các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
1.Hàng hóa
Vậy “hàng hóa” của thị trường FOREX là gì? Câu trả lời là TIỀN. Giao dịch ngoại hối là hoạt
động giao dịch mua một số lượng tiền này và bán một số lượng tiền khác diễn ra cùng thời điểm.
Tiền được giao dịch thông qua người môi giới hoặc trực tiếp theo từng cặp; ví dụ cặp EUR/USD
hay GBP/JPY. Hoạt động giao dịch FOREX có thể sẽ phức tạp đối với nhiều người vì họ không
thể mua bán tận tay bất kì thứ gì trong thị trường. Đơn giản bạn hãy nghĩ việc mua 1 đồng tiền
nào đó như là mua cổ phần của 1 đất nước. Khi bạn mua đồng Yên Nhật, bạn đang tác dộng đến
tỉ giá ngoại hối của Nhật và gián tiếp lên Kinh tế Nhật, do giá trị của động tiền là sự phản chiếu
đánh giá của thị trường về “sức khỏe” trong hiện tại và trong tương lai của một quốc gia. Tổng
quan, tỉ giá của một loại tiền tệ so với một loại tiền tệ khác là sự phản chiếu các yếu tố của một

ngày trong tương lai.
Đặc điểm:
Hợp đồng có thể chuyển nhượng tại bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực.
Hợp đồng được tiêu chuẩn hóa và được thực hiện trên sàn giao dịch của sở giao dịch tiền tệ
tương lai.
Mục đích: Bảo hiểm phòng ngừa rủi ro, mục đích đầu cơ.
2.4 OPTION Nghiệp vụ quyền chọn
Khái niệm: Cho phép người mua hợp đồng có quyền mua, bán tiền tệ tại một mức tỷ giá đã thỏa
thuận trước gọi là tỷ giá quyền chọn.
21
Phân loại:
Quyền chọn mua : cho phép người mua có quyền nhưng không bắt buộc mua một số lượng ngoại
tệ nhất định.
Quyền chọn bán : cho phép người bán có quyền nhưng không bắt buộc bán một số lượng ngoại
tệ nhất định.
2.5 FUTURE Nghiệp vụ tương lai
Khái niệm: Swap là một trong những công cụ thông dụng có hiệu quả cho các nhà đầu tư, người
đi vay ngoại tệ và các ngân hàng trong việc phòng ngừa rủi ro hối đoái, hoặc để kinh doanh thu
lợi nhuận .
Mục đích:
Giải pháp hỗ trợ tỷ giá cho đồng nội tệ.
Liên kết các thị trường tài chính trong nước và thị trường tài chính quốc tế với nhau
Phân loại:
Swap lãi suất
Swap tiền tệ
Trong đó :
- Nghiệp vụ giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi được thực hiện phi tập trung over the counter market
– OTC
- Nghiệp vụ quyền chọn có thể được thực hiện phi tập trung hoạc là Thực hiện tập trung trên cơ
sở giao dịch – the exchange.

chuyển sang VND để tiến hành hoạt động đầu tư dự án, đến kỳ trả nợ họ phải mua lại số ngoại tệ
đó bằng VND. Trong thời gian tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, rõ ràng sẽ có sự biến
động về cả lãi suất cho vay và cả tỷ giá hối đoái. Nếu sử dụng công cụ phái sinh như hoán đổi lãi
suất hoặc công cụ kỳ hạn hay quyền chọn về ngoại tệ thì các doanh nghiệp sẽ bảo hiểm được rủi
ro lãi suất trong trường hợp nếu lãi suất vay là thả nổi và khi lãi suất thị trường đã tăng lên như
hiện nay hoặc bảo hiểm được rủi ro tỷ giá khi ngoại tệ có xu hướng giảm xuống vào thời điểm
doanh nghiệp bán ngoại tệ.
Hai là:thiếu cơ sở pháp lý .
Trong vài năm trở lại đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã cho phép các NHTM được thực
hiện nhiều nghiệp vụ mới như quyền chọn ngoại hối, quyền chọn vàng, hoán đổi lãi suất. Tuy
nhiên cơ sở pháp lý cho nghiệp vụ phái sinh còn chưa đầy đủ, ngoại trừ chỉ có giao dịch hoán đổi
lãi suất đã có quy chế của NHNN là Quyết định số 1133/2003/QĐ-NHNN, ngày 30/09/2003.
Mặc dù hiện nay tất cả các NHTM đều được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, tuy nhiên
chỉ được thực hiện quyền chọn giữa ngoại tệ và ngoại tệ, còn quyền chọn giữa ngoại tệ và VND
thì phải được sự cho phép từ phía NHNN. Trên thực tế, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường
chuyển đổi ngoại tệ ra VND để phục vụ hoạt động đầu tư sản xuất trong nước mà hầu như không
23
chuyển đổi từ ngoại tệ ra ngoại tệ. Đây cũng là trở ngại lớn đối với các NHTM làm cho doanh số
giao dịch quyền chọn rất thấp.
Ba là, thiếu kiến thức, hiểu biết về công cụ phái sinh.
Sản phẩm phái sinh trong phòng chống rủi ro là một sản phẩm khá mới và phức tạp đối với thị
trường Việt Nam. Đòi hỏi các doanh nghiệp cũng như các NHTM phải có hệ thống thông tin dự
báo tỷ giá quốc tế nhanh, chính xác, cập nhật liên tục; phải có công cụ đo lường và cảnh báo rủi
ro tỷ giá, lãi suất; đội ngũ các nhà quản lý, các giao dịch viên chuyên nghiệp, Thực tế có nhiều
NHTM được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại hối từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa triển khai
được. Đối với các doanh nghiệp thì việc hiểu biết các công cụ phái sinh để phòng chống rủi ro
còn nhiều hạn chế.
1.2 Điều kiện để phát triển các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam
Từ thực tế trên, để ứng dụng và phát triển công cụ phái sinh tại Việt Nam cần phải có các điều
kiện sau

năng phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp và phân tích thông tin để
dự đoán xu hướng diễn biến của thị trường nhằm sử dụng các công cụ phái sinh một cách hiệu
quả nhất. Thông qua đó để có thể tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ cho khách hàng của mình hiểu biết
hơn về thị trường ngoại hối.
Ba là, về phương tiện, thiết bị.
Ngoài những phương tiện, thiết bị hiện có của Reuters, Thomson, SowJones News hay
Metastock, cần trang bị thêm phần mềm xử lý, quản lý rủi ro và tính phí đối với các nghiệp vụ
phái sinh. Mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài trên thị trường ngoại hối quốc
tế, để tranh thủ sự hỗ trợ về kiến thức, về hệ thống phân tích quản lý rủi ro đối với các công cụ
phái sinh nói chung và công cụ quyền chọn ngoại hối, công cụ tương lai ngoại hối nói riêng.
II:Những con số và sự kiện đã sảy ra ở việt nam
Năm 2008, thị trường ngoại hối từng có những đợt biến động mạnh và căng thẳng; tỷ giá
USD/VND trên thị trường tự do có lúc lên sát 19.000 VND. Những diễn biến này được đặt trong
những áp lực cơ bản: nhập siêu tăng kỷ lục và lạm phát tăng rất mạnh.
Những tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối cũng căng thẳng, nhưng những áp lực trên đã
không còn quá lớn.
7 tháng đầu năm, nhập siêu chỉ mới ở mức 3,38 tỷ USD; và theo mục tiêu Bộ Công Thương đặt
ra, năm nay nhập siêu sẽ dưới 20% kim ngạch xuất khẩu, cả năm sẽ khoảng 8 - 10 tỷ USD, rất
thấp so với sự đột biến 18 tỷ USD năm 2008.
Cũng trong 7 tháng đầu năm, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ
tăng 3,22% so với cuối năm 2008; trong khi đó tỷ giá USD/VND tăng 6,22%. Mức tăng của hai
chỉ số này vẫn đang đảm bảo yếu tố có lợi và hỗ trợ cho xuất khẩu. Áp lực lạm phát đối với tỷ
giá cũng không quá lớn khi nhiều dự báo tin tưởng khả năng chỉ tăng dưới 10%, thậm chí chỉ
khoảng 7% - 8% trong năm nay.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng khẳng định có đủ khả năng để can thiệp thị trường khi cần
thiết với nguồn ngoại tệ đủ mạnh. Hiện dự trữ ngoại tệ ở khoảng trên dưới 22 tỷ USD. Tuy
nhiên, nhà điều hành không thể dùng biện pháp tưởng như đơn giản là tung một nguồn ngoại tệ
lớn cho thị trường để xoa dịu sự căng thẳng của cầu, bởi theo giải thích của Thống đốc Nguyễn
Văn Giàu, điều hành chính sách tỷ giá còn phải đảm bảo hài hòa các lợi ích, yêu cầu khác của
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status