Quy trình kỹ thuật sản xuất khoai tây
giống và khoai tây thương phẩm
Quy trình kỹ thuật sản xuất khoai tây giống
và khoai tây thương phẩm
Một số giống khoai tây phổ biến:
- Giống Việt - Đức: Thời gian sinh
trưởng 85 - 90 ngày. Củ hình ovan
dẹt, vỏ mịn màu vàng, ruột màu vàng
nhạt, mắt nông, củ to đều, chất lượng
khác. Năng suất cao, thân lá phát
triển nhanh. Thời gian ngủ 100 - 105
ngày. Mầm màu xanh, to khỏi, có 2 -
4 mầm/củ. Chống chịu bệnh: Mốc sương trung bình; bệnh vi rút Y tương đối khá.
- Giống Solara: Thời gian sinh trưởng 80 - 90 ngày. Củ hình ovan, vỏ mịn màu
vàng, mắt nông, củ to đều, chất lượng khá. Năng suất trung bình - cao. Thân lá cây
đứng, phát triển trung bình. Thời gian ngủ là 80 - 85 ngày. Mầm màu tím nhạt, to
khoẻ, có 2 - 3 mầm/củ. Chống chịu bệnh Mốc sương trung bình; bệnh vi rút Y
tương đối khá.
- Giống Diamant (Hà Lan): Thời gian sinh trưởng 85 - 90 ngày.
Mô tả giống: Hình dạng củ: Ovan, vỏ màu vàng nâu, ruọt màu vang, mắt nông
vừa, củ to đều, chất lượng ngon, đạt tiêu chuẩn chế biến.
Năng suất: Khá.
Thận lá: Cây đứng, phát triển nhanh.
Thời gian ngủ: 70 - 75 ngày.
Mầm: Màu tím - nâu, to khoẻ, có 2 - 3 mầm/củ.
Chống chịu bệnh: Mốc sương: Trung bình; Bệnh virut Y: Trung bình.
nhiễm bệnh, nhất là các bệnh vi rut truyền qua củ, nếu trồng củ bị bệnh, chắc chắn
cây sẽ ít củ, củ nhỏ hoặc không có củ, người ta gọi là giống thoái hoá. Để khắc
phục sự thoái hoá, cần có củ nhỏ hoặc không có củ, người ta gọi là giống thoái
hoá. Để khắc phục sự thoái hoá, cần có củ giống tốt thì phải sản xuất củ giống theo
quy trình kỹ thuật riêng, không thể trồng khoai tây giống như lâu nay thường làm.
Những giống khoai tây trình bày trên cần được sản xuất củ giống tốt để cung cấp
cho sản xuất khoai thương phẩm. Một số nơi có sự nhầm lẫn giữa củ giống với
khoai giống. Coi giống khoai mới như là củ giống tốt, trong khi giống khoai mới
này chưa được thử nghiệm rộng rãi, chưa đưa vào sản xuất giống chặt chẽ nên khi
giống đã không đạt kết quả như ý.
Khoai tây giống có những tiêu chuẩn và đặc điểm sau:
2.1. Phẩm chất giống:
Theo quy định của Việt Nam, khoai tây là giống có 3 cấp giống, thứ tự từ phẩm
cấp cao đến thấp là:
* Giống siêu nguyên chủng
* Giống nguyên chủng
* Giống xác nhận
2.2. Tiêu chuẩn khoai tây giống (xem phụ lục)
Tiêu chuẩn phẩm cấp giống chủ yếu là mức độ nhiễm sâu bệnh thấp, độ thuần
giống cao. Để phân loại phẩm cấp giống thì dựa vào tiêu chuẩn ngành khoai tây
giống được Bộ Nông nghiệp và Phát tiển Nông thôn ban hành theo quyết định số
5799/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2003.
* Tiêu chuẩn ruộng giống: Chỉ tiêu
Siêu
nguyên
Nguyên
chủng
(Pseudomonas
solanacearum), % s
ố
cây không lớn hơn.
0 0 0,5
6. Mốc s
ương
(Phytophora
infestans), c
ấp bệnh
1 3 3
* không lớn hơn. Cấp 1: Không bệnh; Cấp 3: < 20% diện tích thân lá nhiễm bệnh
* Tiêu chuẩn củ giống: Chỉ tiêu
Siêu
nguyên
chủng
Nguyên
chủng
Xác
nhận
1. B
ệnh virut, % số
thể phân biệt đư
ợc,
% s
ố củ không lớn
hơn.
0 0,5 2,0
6. Củ có kích thư
ớc
nhỏ h
ơn 25mm, %
số củ không lớn hơn.
- - 5
7. T
ạp chất, % khối
lượng không l
ớn
hơn.
1,0 1,0 1,0 2.3. Củ giống trẻ sinh lý:
Củ giống sản xuất ra cần được bảo quản tốt đến khi trồng, củ giống phải là mầm
trẻ, mầm khoẻ, tức là ở trạng thái trẻ sinh lý.
Củ khoai mới thu hoạch thường chưa có mầm, sau một thời gia, mầm mọc và phát
triển. Dựa vào tình trạng mầm, tình trạng củ mà chia ra tuổi sinh lý của củ giống.
Củ giống ngủ: Củ chưa có mầm, phải qua một thời gian ngủ, củ khoai mới mọc
mầm. Củ giống chưa mọc mầm tất nhiên chưa trồng được.
Củ giống quá trẻ sinh lý: Củ mới nhú mầm hoặc mới có 1 mầm đỉnh. Nếu trồng,
cây sẽ mọc chậm, không đều, kéo dài thời gian sinh trưởng, củ tuy to nhưng ít củ,
năng suất thấp.
4.1.1. Phẩm cấp giống: Nếu là cấp giống siêu nguyên chủng thì sản xuất ra cấp
nguyên chủng; Nếu là giống nguyên chủng thì sản xuất ra cấp giống xác nhận.
Nếu là giống thoái hoá nhanh thì mỗi đời giảm một cấp giống; Nếu là giống thoái
hoá chậm thì có thể 2 đời mới giảm một cấp giống.
4.1.2. Củ giống trẻ sinh lý:
Khi trồng, củ giống trẻ là tốt nhất. Vì mầm khoẻ, cây sẽ mọc nhanh, phát triển tốt,
củ đều, năng suất cao.
Trường hợp cần nhân giống nhanh hoặc cần sản xuất giống cho nhu cầu thị
trường, phải sử dụng củ giống quá trẻ hoặc già sinh lý thì chấp nhận năng suất
thấp.
4.1.3. Cỡ củ giống:
Có hai loại.
4.1.3.1.Củ nhỏ: Loại này được sản xuất từ nuôi cấy mô, sau đó được trồng trong
nhà lưới để sản xuất ra giống nguyên chủng, cỡ củ từ 5 - 20 gam (Hình 9) Củ nhỏ
thường có một mầm, không bẻ mầm với loại này.
4.1.3.2. Củ bình thường: Loại này được sản xuất ra từ củ nhỏ hoặc từ củ giống
bình thường hay nhập từ nước ngoài, cỡ củ từ 25 - 40 gam. Loại cỡ củ này đôi khi
cũng phải xử lý với những lỗ giống chưa đạt yêu cầu. Bẻ mầm:
Có giống khoai mọc ít mầm, chỉ có một mầm đỉnh, nếu đem trồng sẽ mọc ít cây,
thường có 1 - 2 cây/khóm. Như vậy, củ sẽ to nhưng ít củ, mà sản xuất giống thì
cần nhiều củ. Để có nhiều mầm, mọc nhiều cây thì phải bẻ mầm.Bẻ mầm đỉnh đi
thì sau một tuần sẽ có 3 - 4 mầm mới mọc lên. Củ nhỏ không nên bẻ mầm mà bẻ
mầm với cỡ củ trung bình trở lên, có hiệu quả rõ rệt (Hình 10).
Trồng bằng củ giống to sẽ có năng suất cao hơn so với trồng bằng củ giống nhỏ,
nhưng tốn giống, chi phí sản xuất cao. Trường hợp củ giống to, cỡ đường kính củ
trên 45mm tương đương trên 50 gam thì có thể bổ củ để tiết kiệm giống. Có 2
cách:
theo không gian ở vùng núi cao, hải đảo hoặc vùng ven biển. Có thể cách ly theo
thời gian, tức trồng khác vụ, khác thời gian với khoai thương phẩm.
Ruộng sản xuất giống xác nhận phải cách xa ruộng khoai thương phẩm từ 3m trở
lên.
4.2.2. Thời vụ trồng:
4.2.2.1. Vùng đồng bằng Bắc Bộ:
Đây là vùng trồng khoai tây lớn nhất, chiếm trên 90% diện tích trồng khoai tây của
cả nước. Vùng này có 3 vụ:
Vụ sớm: Thường ở vùng Trung du trồng vào đầu tháng 10, thu hoạch vào tháng
12.
Vụ chính: ở khắp trong vùng. Trồng vào cuối tháng 10 đầu tháng 11 thu hoạch vào
cuối tháng 1, đầu tháng 2.
Vụ Xuân: Thường ở đồng bằng sông Hồng, trồng vào tháng 12, thu hoạch vào đầu
tháng 3.
4.2.2.2. Vùng núi miền Bắc:
Vùng núi thấp (dưới 1000m): Vụ Đông: Trồng vào tháng 10, thu hoạch vào tháng
1. Vụ Xuân: Trồng vào tháng 12, thu hoạch vào cuối tháng 3.
Vùng núi cao (trên 1000m): Vụ Xuân: Trồng vào tháng 2, thu hoạch vào tháng 5.
Vụ Thu Đông: Trồng vào đầu tháng 10, thu hoạch vào tháng 1.
4.2.2.3. Vùng Bắc Trung Bộ:
Có một vụ trồng là khoai đông, trồng vào đầu tháng 11, thu hoạch vào cuối tháng
1.
4.2.2.4. Khu vực Đà Lạt:
Do khí hậu của Đà Lạt mát nên có thể trồng khoai tât quanh năm. Tuy nhiên ở đây
có 2 vụ chính:
Vụ Thu Đông: Trồng tháng 10, thu hoạch tháng 12.
Vụ Xuân: Trồng tháng 2 tháng 3, thu hoạch tháng 5, tháng 6.
4.2.3. Làm đất lên luống:
4.2.3.1. Độ ẩm đất:
Trước khi thu hoạch lúa 1-2 tuần lễ đã phải quan tâm đến độ ẩm đất. Cần điều
Lân Supe 350 - 400 kg 12 - 15 kg
Kali Sunphat 200 - 250 kg 7 - 9 kg
Không bón phân chuồng tươi vì có nhiều vi khuẩn nấm bệnh làm cho mã củ không
đẹp. Lượng phân đạm lân và kali nêu trên là theo loại phân có phổ biến trên thị
trường, khi sử dụng khác loại thì phải điều chỉnh lượng bón theo tỷ lệ nguyên chất
của loại đó.
4.2.5. Mật độ và cách trồng:
4.2.5.1. Mật độ với củ nhỏ: Cứ 1 m
2
trồng 10 củ. Với cỡ luống như trên, khoảng
cách đặt củ cách nhau 17 đến 20 cm. Mỗi khóm sẽ mọc từ 1 đến 2 thân và bảo
đảm có 15 - 20 thân/m
2
.
4.2.5.2. Mật độ với củ bình thường: Cứ 1 m2trồng 5 - 6 củ. Với cỡ luống như trên,
khoảng cách đặt củ cách nhau 25 - 30 cm. Mỗi khóm sẽ mọc 3 - 4 thân và bảo
đảm có trên 20 thân/m
2
.
4.2.5.3. Lượng giống:
Với củ giống nhỏ, lượng giống cho 1 ha khoảng 8 vạn củ, quy tính cho một sào
(360m2) khoảng 2.900 củ.
Với củ giống bình thường, lượng giống cho 1 ha là 5 - 5,5 vạn củ hoặc 1,5 - 1,6
tấn, quy tính cho 1 sào 360m2) là 1.800 - 2.000 củ hoặc 55 - 60 kg.
4.2.5.4. Cách trồng:
Sau khi rạch hàng trồng thì bón lót phân chuồng, đạm và lân vào rạch rồi lấp một
lớp mỏng lên ơhân, sau đó tiến hành đặt củ giống. Khi đặt củ giống tránh đặt trực
tiếp vào phân, nhất là phân hoá học vì làm như vậy củ giống dễ bị chết xót vì
phân.
Sau khi đặt củ thì lấp đất phủ lên củ giống một lớp đất dầy 3 - 5 cm, sau đó vét
Nếu kết hợp tưới nước với phân đạm và kali thì phải chủ ý lượng phân hoà với
nước. Nhiều trường hợp xẩy ra cây bị chế vì lượng phân quá đậm, nhất là với kali
Thùng 10 - 12 lít chỉ pha 1 năm nhỏ phân lá vừa. Không nên kết hợp tưới nước với
phân chuồng, vì nước phân chuồng có nhiều nấm và vi khuẩn dể gây thối củ.
+ Tưới phun:
Dùng máy bơm nước và ống dẫn (dây dẫn) để tưới. Tưới phun thì nước trực tiếp
vào là cây, lượng nước hoa phí rất ít nhưng số làn tưới thì nhiều.Ở Đà Lạt thường
dùng phương pháp này.
Trước khi thu hoạch khoai khoảng 2 tuần, không tưới nước cho khoai, cần đất khô
ráo, tuyệt đối tránh để nước vào ruộng, nếu mưa phải tháo kiệt nước kịp thời.
Nhiều vùng khi thu hoạch khoai tây là thời vụ cấ rộ lúa xuân, nước ruộng lúa tràn
sang ruộng khoai làm thối củ gây ra thất thu. Cần có sự qui hoạch chung của cộng
đồng thôn xóm hoặc hợp tác xã.
4.2.7. Chăm sóc:
Xới đất, làm cỏ, bón phân thúc và vun luống thường là những công việc kết hợp
với nhau và tiến hành làm cùng đợt chăm sóc. Những đợt chăm sóc thường làm
vào sau đợt tưới nước, khi đất đã ráo (hình 14).
Chăm sóc đợt 1: Khi cây cao khoảng 15 - 20 cm thì xới nhẹ, làm sạch cỏ, bón
phân thúc đợt 1 với lượng bón như ở mục 4.2.4 rồi vun luống. Khi bón phân thúc
thì bón vào mép luống hoặc giữa 2 khóm khoai. Không bón phân trực tiếp vào gốc
cây, làm cây chết.
Chăm sóc đợt 2: Sau chăm sóc đợt 1 khoảng 15 - 20 ngày, cây khoai đã được
khoảng 40 - 45 ngày tuổi và cũng đã qua tưới nước lần thứ 2 thì tiến hành với nhẹ,
làm cỏ và vun luống lần cuối. Cần lấy đất ở rãnh luống để vun cho luống to và
cao. Vun luống không đủ đất sẽ làm vỏ củ bị xanh hoặc mọc thành cây, gặp nhiệt
độ cao củ sẽ biến dạng (hình 15) làm giảm chất lượng khoai. Vét sạch đất ở rãnh
luống là để đề phòng khi ruộng bị nước sẽ nhanh khô.
4.2.8. Sâu bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ:
Có nhiều loại sâu bệnh hại khoai tây, ở đây xin đề cập đến những sâu bệnh hại
chính thường xuất hiện ở vùng trồng khoai nước ta.
rất dễ lây lan sang cây khác.
Biện pháp phòng trừ: Như phần trình bày trên.
4.2.8.1.3. Bệnh virut khảm lá:
Do virut X, S và M thuộc loại virut nhẹ (hình 18)
Đây là loại vi rut hại khoai tây ít nghiêm trọng hơn nhưng lại rất phổ biến ở Việt
Nam, làm giảm năng suất 10 - 15%.
Triệu chứng: Trên phiến lá có những vết đốm màu vàng nhạt xen với màu xanh
của lá tạo thành vết khảm lốm đốm. Lá cũng hơi biến dạng, lá nhỏ lại, mép hơi
cong, mặt lá hơi gồ ghề.
Biện pháp phòng trừ: Như phần trình bày trên.
Biện pháp khắc phục là sản xuất giống sạch bệnh, bằng cách chọn những cây
không bị bệnh rồi nhân giống và đưa vào sản xuất theo quy trình chặt chẽ. Nhiều
nước đã sử dụng công nghệ cắt điểm sinh trưởng của cây khoai tây và nhân nhanh
bằng nuôi cây mô để sản xuất củ giống sạch bệnh. Ở Đà Lạt, từ năm 1983 đến nay,
nông dân đều trồng khoai tây bằng giống từ nuôi cấy mô, đạt năng uất 35 - 40
tấn/ha, hiệu quả cao.
4.2.8.2. Bệnh héo xanh: Bệnh héo xanh còn gọi là héo rũ, do vi khuẩn
(Pseudomonas solabacearum) gây nên. Đây là bệnh nghiệm trọng và phổ biến ở
vùng nhiệt đới nóng ẩm, trong đó có Việt Nam. Bệnh làm cho cây chết đột ngột và
thối củ, lây lan nhanh, thường làm năng suất bị giảm nhiều.
Triệu chứng: Cây đang xanh, lá và thân héo rũ đột ngột. Trường hợp nặng thì gốc
cây bị thối nhũn, cắt 1 lát củ, thấy rỉ mủ ra có màu trắng vàng đục như sữa ở vành
vỏ củ và thịt củ (hình 19a, 19b). Củ bị nặng thì ở mắt củ cũng rỉ mủ, củ thối nhũn
thì trong củ như một chất nhầy dính như nước mũi, mùi thối khẳn.
Khi cây mới bị bệnh, phát hiện bằng cách: Cắt đoạn thân gần gốc dài khoảng 3- 4
cm nhúng vào cốc thuỷ tinh nước trong sạch, sau một thời gian nếu thấy có dòng
dịch trắng đục chảy xuống thì đó là vi khuẩn héo xanh.
Nguyên nhân và điều kiện gây bệnh héo xanh:
Bệnh héo xanh vi khuẩn có thể do những nguyên nhân sau:
+ Củ giống bị nhiễm khuẩn từ khi thu hoạch, do không loại trừ triệt để cây bị bệnh
biệnh trên ruộng (hình 20b). Nấm bệnh mốc sương phát triển rất nhanh, nếu không
phòng trừ kịp thời sẽ thành dịch bệnh phá hoại cả vùng rộng lớn.
Nguyên nhân gây bệnh có thể do:
- Củ giống có nấm bệnh.
- Nấm bệnh ở những ruộng bên cạnh bị bệnh như cà chua, cà, thuốc lá.
Biện pháp phòng trừ:
- Sử dụng củ giống sạch bệnh để trồng.
- Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, khi phát hiện có ổ bệnh thì khẩn trương tập
trung diệt ổ bệnh và phun thuốc phòng trừ cả cánh đồng trồng khoai.
- Có thể dùng thuốc boob đô nồng độ 1% hoặc Zinep 80WP, Benzel 70 WP,
Vectra 200EC, Ridomil Golde 68WP, Scoe 250EC, Binhsin 70WP, Viroxyl 58
BTN phun lên cây.
4.2.8.4. Bệnh lở cổ rễ:
- Bệnh lở cổ rễ do nấm (Rhizoctonia solami) gêy nên, tuy không xẩy ra thành dịch
nghiêm trọng với khoai tây nhưng thường làm chết cây ở thời kỳ mọc.
Triệu chứng: (Hình 21):
+ Nấm phát triển và phá hoại ở gốc cây, làm chết mầm khoai đang mọc, làm chết
rễ và vỏ ở gốc. Cây bị thắt gốc rồi héo và chết. Nấm phát triển mạnh ở phần dưới
mặt đất.
+ Cũng có trường hợp nấm tấn cống khi cây đã lớn, xâm hại ở gốc cây, ban đầu
làm cho lá uốn cong lên tương tự virut cuốn lá, nhưng khi bóp mạnh bằng tay thì
lá mềm không giòn như bệnh vi rut cuốn lá. Nấm còn bám vào củ tạo thành những
vết màu nâu.
Nguyên nhân:
Nấm bệnh lở cổ rễ thuộc loại tạp, sống trên nhiều loại cây, như cây khoai tây, cà,
cà chua, đỗ đậu, ngô và lúa v.v… Đặc biệt vụ lúa mùa ở miền Bắc nước ta thường
mắc bệnh khô vằn, lây truyền và gây ra bệnh lở cổ rễ khoai tây.
Biện pháp phòng trừ:
+ Sử dụng củ giống sạch bệnh để trồng.
+ Khi làm đất phải dọn sạch rơm rác, gốc rạ, nhất là ruộng lúa bị bệnh khô vằn.