Báo cáo tốt nghiệp: Ứng dụng phương pháp phân tích tỉ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính của công ty may Đức Giang - Pdf 20

Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
Trường
Khoa……………….
………… o0o…………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và
phương pháp so sánh vào phân tích tài chính của
Công ty may Đức Giang
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
MỤC LỤC
Tr ng ườ 1
Khoa .……………… 1
L i m uờ ở đầ 2
CH ng Iươ 4
các ph ng pháp phân tích t i chính trong các doanh nghi pươ à ệ 4
I-T m quan tr ng c a phân tích t i chínhầ ọ ủ à 4
1-T ng quan v t i chính doanh nghi pổ ề à ệ 4
Ch ng ii ươ 31
th c tr ng v ph ng pháp phân tích t i chínhự ạ ề ươ à 31
c a công ty may c giangủ đứ 31
I-T ng quan V công ty may c giangổ ề Đứ 31
Công ty May c Giang, tên giao d ch qu c t : DUCGIANG - IMPORT - Đứ ị ố ế
EXPORT - GARMENT COMANY. Tên t t l : DUGARCO. ắ à 31
L m t doanh nghi p nh n c, s n xu t v kinh doanh các s n ph m à ộ ệ à ướ ả ấ à ả ẩ
may m c, tr c thu c T ng công ty D t - May Vi t Nam - B công ặ ự ộ ổ ệ ệ ộ
nghi p. ệ 31
Tr s chính c a Công ty t t i: 59 Ph c Giang - Gia Lâm - H ụ ở ủ đặ ạ ố Đứ à
N i.ộ 31
Ch ng iiiươ 88

Thực hiện đề tài này với mục đích dựa vào tình hình thực tế hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty để ứng dụng phương pháp phân tích, từ đó đánh giá
hiệu quả đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
Chuyên đề gồm 3 chương :
Chương I: Các phương pháp phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Phần II: Thực trạng về phương pháp phân tích tài chính của Công ty may
Đức Giang.
Phần III: Một số giải pháp ứng dụng phương pháp tỷ số và so sánh vào phân
tích tài chính của Công ty may Đức Giang.
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
CHương I
các phương pháp phân tích tài chính trong các doanh nghiệp
I-Tầm quan trọng của phân tích tài chính
1-Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản
của hoạt động sản xuất kinh doanh .Hoạt động này nhằm thực hiện mục tiêu
của doanh nghiệp: tối đa hoá giá trị tài sản sở hữu của doanh nghiệp cụ thể
thành những mục tiêu khác như: tối đa hoá lợi nhuận, tăng trưởng ổn định,
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh
nghiệp và các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp
chủ yếu bao gồm:
-Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát
sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà
nước góp vốn vào doanh nghiệp.
-Quan hệ doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thể
hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị
trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn
ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn
dài hạn. Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần

dịch vụ mà các nhà doanh nghiệp mua sắm để sử dụng trong quá trình sản
xuất-kinh doanh. Các hàng hoá dịch vụ đầu vào kết hợp với nhau tạo ra
hàng hoá dịch vụ đầu ra - đó là hàng loạt các hàng hoá dịch vụ có ích được
tiêu dùng hoặc được sử dụng trong quá trình sản xuất-kinh doanh khá. Như
vậy trong một thời kỳ nhất định, các doanh nghiệp đã chuyển hoà hàng hoá
dịch vụ đầu vào thành hàng hoá dịch vụ đầu ra để trao đổi. Mối quan hệ
giữa tài sản hiện có và hàng hoá dịch vụ đầu vào, hàng hoá dịch vụ đầu ra
(tức quan hệ giữa bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh) có
thể mô tả như sau:
Hàng hoá dịch vụ sản xuất-chuyển hoá Hàng hoá dịch vụ
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
(mua vào) (bán ra)
Trong số các tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ có một loại tài sản đặc
biệt - đó là tiền. Chính dự trữ tiền cho phép các doanh nghiệp mua các hàng
hoá dịch vụ cần thiết để tạo ra những hàng hoá dịch vụ để phục vụ cho mục
đích trao đổi. Mọi quá trình trao đổi đều được thực hện qua trung gian là
tiền và khái niệm dòng vật chất và dóng tiền phất sinh từ đó, tức sự dịch
hcuyển hàng hoá, dịch vụ và sự dịch chuyển tiền giữa các đơn vị và tổ chức
kinh tế.
Như vậy ứng với dòng vật chất đi vào (hàng hoá, dịch vụ đầu vào) là
dòng tiền đi ra; ngược lại, tương ứng với dòng vật chất đi ra (hàng hoá, dịch
vụ đầu ra) là dòng tiền đi vào. Quy trình này được mô tả theo sơ đồ sau:
Dòng vật chất đi vào Dòng tiền đi ra (xuất quỹ) Dòng vật chất đi ra Dòng tiền đi vào (xuất quỹ)
Sản xuất, chuyển hoá là một quá trình công nghệ. Một mặt, nó được
đặc trưng bởi thời gian chuyển hoá hàng hoá và dịch vụ, mặt khác nó đặc
trung bởi yếu tố cần thiết cho sự vận hành - đó là tư liệu lao động và sức

hoạt động tài chính ngắn hạn như thế nào để đưa ra quyết định thu, chi phù
hợp?
Nghiên cứu tài chính doanh nghiệp thực chất trả lời ba câu hỏi trên.
2-Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ bản trong tài chính
doanh nghiệp, có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh
nghiệp. Phân tích tài chính là sử dụng tập hợp các khái niệm, phương pháp
và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá
rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, đều bình
đẳng trước nhau trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề và các lĩnh
vực kinh doanh. Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp
khách hàng, kể cả các cơ quan nhà nước và người làm công, mỗi đối
tượng quan tâm đế tình hình tài chính trên một góc độ khác nhau. Đối với
chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu
của họ là khả năng phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị sở hữu
tài sản doanh nghiệp, do đó họ quan tâm trước hết tới lĩnh vực đầu tư và tài
trợ.đối với người cho vay mối quan tâm chủ yếu của họ là khả năng trả nợ
hiện tại và tương laicủa doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư khác mối
quan tâm của yếu của họ là các yếu tố rủi ro, lãi suất, khả năng thanh toán
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích
các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ
thống các phương pháp, công cụ, kỹ thuật phân tích giúp người sử dụng từ
các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hơpự khái quát, vừa xem
xét mọôt cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, để nhận biết, phán

với mức rủi ro của khoản đầu tư mà họ chịu. Nhà đầu tư phân tích tài chính
để nhận biết khả năng sinh lãi của doanh nghiệp , đây là một trong những
căn cứ giúp nhà đầu tư ra quyết có bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không?
Thu nhập của các cổ đông tiền chia lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm
của vốn đầu tư. Hai yếu tố này ảnh hưởng đén lợi nhuận kỳ vọng của doanh
nghiệp. Các nhà đầu tư thường tiến hành đánh giá khả năng sinh lợi của
doanh nghiệp với câu hỏi trọng tâm: lợi nhuận bình quân cổ phiếu của công
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
ty sẽ là bao nhiêu? Dự kiến lợi nhuận sẽ được nghiên cứu đầy đủ trong
chính sách phân chia lợi tức cổ phần và trong nghiên cứu rủi ro hướng các
lựa chọn vào những cổ phiếu phù hợp nhất.
3-Đối với người cho vay
Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ
của khách hàng phân tích. Để đưa ra quyết định cho vay, thì một trong
những vấn đề mà người cho vay cần phải xem xét là doanh nghiệp thật sự có
nhu cầu vay hay không? Khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào?Bởi
nhiều khi một quyết định cho vay có ảnh hưởng nặng nề đến tình hình tài
chính của người cho vay, có thể dẫn đến tình trạng phá sản của người cho
vay, hay đơn vị cho vay. Phân tích tài chính đối với những khoản nợ dài hạn
hay khoản nợ ngắn hạn cũng có sự khác nhau.
Nếu là những khoản nợ ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến
khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Nghĩa là khả năng ứng phó
của doanh nghiệp khi khoản nợ tới hạn trả nợ.
Nếu là những khoản cho vay dài hạn, ngưòi cho vay phải tin chắc khả
năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì việc hoàn trả vốn và
lãi phụ thuộc vào khả năng sinh lời này
Kỹ thuật phân tích thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của khoản
vay, nhưng cho đó là khoản vay dài hạn hay nhắn hạn thì người cho vay đều
quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp

đồng nhất và phong phú, kế toán hoạt động như một nhà cung cấp quan
trọng nhưng thông tin đánh giá cho phân tích tài chính.Vả lại các doanh
nghiệp có nghĩa vụ cung cấp các thông tin kế toán cho đối tác bên trong và
bên ngoài doanh nghiệp.thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong
các báo cáo kế toán. Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo
cáo tài chính được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán chủ
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
yếu: đó là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, ngân quỹ (báo
cáo lưu chuyển tiền tệ).
1-Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính mô tả tìng trạng tài chính của
một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là báo cáo tài
chính có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan
hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp. Thông thường bảng
cân đối kế toán dược trình bày dưới dạng bảng cân đối các số dư tài khoản
kế toán: một bên phản ánh tài sản, một bên phản ánh nguồn vốn của doanh
nghiệp.
Bên tài sản của bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản
hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của
doanh nghiệp: đó là tài sản lưu động, tài sản cố định. Bên nguồn vốn phản
ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm
lập báo cáo: đó là vốn chủ và các khoản nợ.
Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán dược sắp xếp theo khả năng
chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống.
Bên tài sản
Tài sản lưu động: tiền chứng khoán ngắn hạn dễ bán, khoản phải thu,
dự trữ .Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
Bên nguồn vốn
Nợ ngắn hạn bao gồm nợ pahỉ trả nhà cung cấp, các khoản phải

doanh, phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ
nhất định. Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử
dụng tiềm năng về vốn, lao động, kĩ thuật và trình độ quản lý sản xuất-kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh
doanh: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động
tài chính, doanh thu từ hoạt động bất thường và chi phí tương ứng từ các
hoạt động đó.
Những loại thuế như: VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, về bản chất không
phải là doanh thu cũng không phải là chi phí của doanh nghiệp nên không
phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh. Toàn bộ các khoản thuế đối với
doanh nghiệp và các khoản phải nộp khác được phản ánh trong phần: Tình
hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
3-Ngân quỹ (báo cáo lưu chuyển tiền tệ)
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính. Nếu bảng cân đối
kế toán những nguồn lực của cải (tài sản) và nguồn gốc của những tài sản
đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho ta biết chi phí và thu nhậpphát sinh
dể tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển
tiền tệ được lập để trả lời những vấn đề liên quan đéen luồng tiền vào, ra
trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp
trong từng thời kỳ.
Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được khả năng chi trả hay
không cần tìm hiểu tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp. Ngân quỹ thường
được xác định trong thời gian ngắn hạn (thường là từng tháng).
Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập (thu ngân quỹ), bao gồm:
dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh (từ bán hàng hoá hoặc dịch vụ);
dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động đầu tư tài chính; dòng tiền nhập quỹ từ
hoạt động bất thường.

-Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh
nghiệp.
-Phương hướng sản xuất kinh doanh trong kỳ tới.
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
-Các kiến nghị.
5-Bảng tài trợ
Bảng tài trợ là một trong nhũng công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài
chính. anó giúp các nhà quản lý xác định rõ các nguồn cung ứng vốn và sử
dụng nguồn vốn đó.
Để lập được biểu kê nguồn vốn và sử dụng vốn (bảng tài trợ), trước hết
phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ
đến cuối kỳ. Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở hai cột: sử dụng vốn và
nguồn vốn theo nguyên tắc:
-Nếu khoản mục bên tài sản giảm hoặc khoản mục bên nguồn vốn tăng
thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn.
-Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hoặc khoản mục bên nguồm vốn
giảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng nguồn.
Việc thiết lập bảng tài trợ là cơ sở để chỉ ra những trọng điểm đầu tư
vốn và nguồn vốn chủ yếu hình thành để đầu tư.
Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, các nhà
phân tích cần phải đọc và hiểu được báo cáo tài chính, qua đó, nhận biết
được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu
phân tích của họ. Tất nhiên, muốn được như vậy, các nhà phân tích cần tìm
hiểu thêm nội dung chi tiết các khoản mục của báo cáo tài chính trong các
môn học liên quan.
iv-trình tự phân tích tài chính doanh nghiệp
1-Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giảivà
htuyết minh thực trạng sử dụng tình hình tài chính của doanh nghiệp, phục

chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính
doanh nghiệp.Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính,
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng phương pháp so sánh và phương
pháp phân tích tỷ lệ.
1-Phương pháp so sánh
Điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh là các chỉ tiêu tài chính phỉa
thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính
toán, và theo mục đích phân tích mà xác định số gốc so sánh. Gốc so sánh
được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được lựa
chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể lựa chọn bằng số
tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân; nông dân so sánh bao gồm:
-So sánh giữa số thực hiện trong kỳ này với số thực hiện kỳ trước để
thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng
trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
-So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạc để thấy rõ mức độ phấn đấu
của doanh nghiệp.
-So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành
của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
mình tốt hay xấu, được hay chưa được.
-So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với
tổng thể, so sánh chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về
số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế
toán liên tiếp.
2-Phương pháp phân tích tỷ số
Tỷ số là công cụ phân tích tài chính phổ thông nhất. một tỷ số là mối
quan hệ tỷ lệ giữa hai dòng hoặc hai nhóm dòng của bảng cân đối tài sản.
Phương pháp phân tích tỷ số dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại
lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ là sự biến đổi

chủ sở hữu (ROE) với tỷ số doanh lợi tài sản (ROA)
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Lợi nhuận sau thuế
ROA = x = (1)
Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản
Tỷ ROA cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu
- Một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Tiếp theo, ta xem xét tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
(ROE):
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ
sở hữu.
Nếu tài sản của doanh nghiệp chỉ được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì
doanh lợi vốn và doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bằng nhau vì khi đó tổng tài
sản = tổng nguồn vốn.
Lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế
ROA = = = ROE(2)
Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho các tài sản của mình thì ta có
mối liên hệ giữa ROA và ROE:
Tổng tài sản
ROE = x ROA (3)
Vốn chủ sở hữu
Kết hợp (1) & (3) ta có:
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Tổng tài sản
ROE = x x

Trong quá trình phân tích tổng thể thì việc áp dụng linh hoạt, xen kẽ
các phương pháp sẽ đem lại kết quả cao hơn khi phân tích đơn thuần, vì
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
trong phân tích tài chính kết quả mà mỗi chỉ tiêu đem lại chỉ thực sự có ý
nghĩa khi xem xét nó trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác. Do vậy,
phương pháp phân tích hữu hiệu cần đi từ tổng quát đánh giá chung cho đến
các phần chi tiết, hay nói cách khác là lúc đầu ta nhìn nhận tình hình tài
chính trên một bình diện rộng, sau đó đi vào phân tích đánh giá các chỉ số
tổng quát về tình hình tài chính và để hiểu rõ hơn ta sẽ phân tích các chỉ tiêu
tài chính đặc trưng của doanh nghiệp, so sánh với những năm trước đó,
đồng thời so sánh với tỷ lệ tham chiếu để cho thấy được xu hướng biến động
cũng như khả năng hoạt động của doanh nghiệp so với mức trung bình
ngành ra sao.
4-Nội dung phân tích tài chính
4.1-Phân tích các tỷ số tài chính
4.1.1-Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Tình hình tài chính được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu tài chính
về khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán của doanh
nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính các khoản có khả năng thanh toán
trong kỳ với khoản phải thanh toán trong kỳ. Sự thiếu hụt về khả năng thanh
khoản có thể đưa doanh nghiệp tới tình trạng không hoàn thành nghĩa vụ trả
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đúng hạn và có thể phải ngừng hoạt động.
Do đó cần chú ý đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nhóm chỉ tiêu
này bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:
Tài sản lưu động
Khả năng thanh toán hiện hành =
Nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ giữa tài sản lưu động
với các khoản nợ ngắn hạn. TSLĐ bao gồm tiền, chứng khoán ngắn hạn dễ

thanh toán của doanh nghiệp bởi nó mới tính đến các khoản nợ ngắn hạn.
Nếu nợ dài hạn đến hạn trả doanh nghiệp phải xử lý như thế nào nếu không
lập kế hoạch từ trước và nó có khiến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Nguyễn Thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
không?Tỷ số thanh toán tức thời cho chúng ta biết khá rõ về tình trạng đó
tuy nhiên hệ số này hết sức nhạy cảm nên doanh nghiệp cần xác định phù
hợp vì nếu hệ số thanh toán tức thời thấp hơn một thì doanh nghiệp phải bán
các tài sản lưu động khác như chứng khoán ngắn hạn để thanh toán, còn tỷ
số thanh toán tức thời quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt
thì doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội sinh lời. Các chủ nợ đánh giá mức trung bình
hợp lý cho tỷ lệ này là 0.5. Khi tỷ lệ này lớn hơn 0.5 thì khả năng thanh toán
tức thời của doanh nghiệp là khả quan và ngược lại.
Tỷ số dự trữ trên vốn lưu động dòng: Tỷ số này cho biết dự trữ chiến
bao nhiêu phần trăm vốn lưu động ròng. Nó đượctính bằng cáchlấy dự trữ
chia cho vốn lưu động ròng. Nếu dự trữ trên vốn lưu động ròng quá cao thì
sẽ không tốt vì dự trữ khoản khonả khó chuyển đổi thành tiền nhất trong
vốn lưu động ròng. Và khi chuyển đổi dự trữ thành tiền thì chi phí chuyển
đổi cao doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại, do vậy doanh nghiệp tính toán một mức
dự trữ cho hợp lý tránh tình trạng tồn động vốn gây thiệt hại.
Sau khi tính toán các chỉ tiêu trên doanh nghiệp, doanh nghiệp tiến
hành phân tích một cách chi tiết nhu cầu và khả năng thanh toán nhằm đánh
giá chính xác tình hình thanh toán của doanh nghiệp bằng cách đối chiếu và
so sánh với các tỷ số thanh toán năm trước và các chỉ số tham chiếu.
Không thể đưa ra một chỉ tiêu chuẩn mực về hệ số thanh toán cho tất cả
các loại hình doanh nghiệp. Nhưng thông thường hệ số thanh toán trên 0.5
thì coi là lành mạnh còn dưới 0.5 là dấu hiệu không lành mạnh.
4.1.2-Các tỷ số về khả năng cân đối vốn
Tỷ số này dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh
nghiệp so với phân ftài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp và có ý

Khả năng thanh toán lãi vay =
lãi vay
Tỷ số về khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm
bảo khả năng trả lãi hàng năm như thế nào. Việc không trả được các khoản
nợ này sẽ thể hiện khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản. Lãi vay là
Nguyễn Thị Vân Khánh

Trích đoạn Chương iii ti chớnh cụngty may à Đức Giang nh h Đị ướng phỏt tr in cụngty ma yể Đức Giang trong thi gian tiờ ớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status