Đ 4:ề Vấn đề vô hiệu hóa hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế và thực trạng giải quyết hợp đồng vô hiệu.Trong mục tiêu phát triển tổng quát chiến lược xuất
khẩu của Việt Nam là phát triển xuất khẩu với tốc độ
cao, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong đó
tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng có
lợi thế cạnh tranh, tích cực phát triển các mặt hàng tiềm
năng, mặt hàng mới theo hướng nâng cao hiệu quả đi đôi
với chuyển dịch cơ cấu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu
các nhóm hàng có giá trị gia tăng cao, cùng với việc xuất
khẩu vấn đề nhập khẩu các loại máy móc thiết bị để nâng
cao năng xuất, chất lượng sản phẩm là không thể thiếu.
Để tạo thuận lợi trong công tác xuất nhập khẩu, mua bán
hàng hóa quốc tế, thu hút đầu tư từ nước ngoài Chính
phủ đã cải thiện môi trường pháp lý đã tạo thuận lợi cho
hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu, mua bán hàng hóa
quốc tế. Để đạt được mục tiêu phát triển, các doanh nghiệp Việt
Nam cần mở rộng quan hệ làm ăn với các đối tác bên
ngoài là xu thế tất yếu và mang lại nhiều cơ hội tăng
trưởng cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều vấn đề phức
tạp cũng phát sinh từ đây. Trên thương trường, bất kể
hoạt động kinh doanh nào của doanh nghiệp với đối tác
bên ngoài cũng đều được thể hiện thông qua hợp đồng.
Đây chính là ràng buộc pháp lý về nghĩa vụ của các bên
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
2.1 Một số trường hợp vô hiệu hợp đồng hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế
2.2 Thực trạng giải quyết hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế bị tuyên bố vô hiệu
2.3 Xem xét bản án ví dụChương 1 :
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm:
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn gọi là hợp
đồng xuất nhập khẩu hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương
là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở
các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu
(Bên bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một
bên khác gọi là bên nhập khẩu (Bên mua) một tài sản nhất
định, gọi là hàng hoá; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả
tiền hàng. Ðịnh nghĩa trên đây nêu rõ: Bản chất của hợp đồng này là sự thoả thuận của các bên ký kết
(các bên đương sự), chủ thể của hợp đồng là bên bán (bên xuất
khẩu) và bên mua (bên nhập khẩu), họ có trụ sở kinh doanh ở
các nước khác nhau, bên bán giao một giá trị nhất định và để
đổi lại, bên mua phải trả một đối giá cân xứng với giá trị đã
được giao. Ðối tượng của hợp đồng này là tài sản do được
đem ra mua bán tài sản này biến thành hàng hoá. Hàng hoá
này có thể là hàng đặc tính và cũng có thể là hàng đồng loại.
đẳng và tự nguyện giữa các bên.
Chủ thể hợp đồng là những đối tác cam kết thực hiện
những nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi theo
những điều kiện của hợp đồng. Hợp đồng có thể ký
giữa: Pháp nhân với pháp nhân, Pháp nhân với cá
nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp
luật.1.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tổng hợp các quyền và nghĩa vụ
của các bên trong hợp đồng (bên bán và bên mua), được hình thành trong
quá trình các bên thương lượng, thỏa thuận và đi đến ký kết hợp đồng.
Nội dung hợp đồng phải hợp pháp, thể hiện ý chí của các bên. Việc đàm
phán, ký kết và thực hiện hợp đồng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản,
các quy định trong pháp luật của các quốc gia và pháp luật quốc tế trong
lĩnh vực hợp đồng.
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được quy
định rất khác nhau trong pháp luật của các quốc gia và pháp luật quốc tế.
Có hệ thống pháp luật yêu cầu bắt buộc hình thức của hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản, nhưng cũng có hệ thống
pháp luật không có bất kỳ một yêu cầu nào về hình thức hợp đồng. Theo
đó, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được xác lập và chứng
minh dưới mọi hình thức, kể cả bằng lời khai của nhân chứng. Bên cạnh
đó, một điểm cần lưu ý là ngay cả trong khái niệm “văn bản” giữa các
quốc gia cũng có cách quan niệm rộng hẹp khác nhau về những dạng vật
chất nhất định chứa đựng thông tin nào được coi là “văn bản”. Vì vậy,
các bên khi tiến hành giao kết hợp đồng phải thận trọng trong việc tìm
hiểu các quy định của luật có khả năng được áp dụng cho quan hệ hợp
thương mại, tên khoa học, …), địa phương sản xuất ra nó
nếu nơi đó ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, qui cách
chính của hàng đó, tên nhà sản xuất ra nó hình thức này
áp dụng với những sản phẩm nổi tiếng của những hãng
có uy tín, công dụng của hàng đó.
Điều kiện về phẩm chất là điều khoản nói lên các mặt
của hàng hóa như tính năng, tác dụng, công suất, hiệu
suất của hàng hóa đó, có nhiều phương pháp để xác định
phẩm chất hàng hóa như xác định phẩm chất dựa vào
mẫu hàng, tiêu chuẩn, nhãn hiệu, tài liệu kỹ thuật, hàm
lượng một chất nào đó trong sản phẩm, hàng mẩu xem
trước.
Điều kiện về số lượng; quy cách chất lượng; giá cả; phương
thức thanh toán; Ðịa điểm và thời gian giao nhận hàng,
thông báo giao hàng. Ngoài ra các bên có thể thoả thuận
thêm những nội dung, những điều khoản cho hợp đồng như:
bảo hành, phạt và bồi thường thiệt hại, bảo hiểm, khiếu nại,
trọng tài, ….
Hình thức của hợp đồng phải là văn bản. Ðó có thể là bản
hợp đồng (hoặc bản thoả thuận ) có chữ ký của hai bên,
cũng có thể là những thư từ, điện tín, điện chữ, thư điện tử
bao gồm: chào hàng và chấp nhận chào hàng được hợp đồng
đã giao kết hoặc, đặt hàng và xác nhận đặt hàng được hợp
đồng đã giao kết.1.3 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế:
Đây là vấn đề được các bên ký kết hợp đồng đặc biệt quan tâm.
đại diện. Ủy quyền phải được làm bằng văn bản và người
ủy quyền phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của
người được ủy quyền trong phạm vi quy định của sự ủy
quyền. (Điều 140-142 Bộ luật dân sự 2005)
Bốn là, Đối tượng của hợp đồng phải hợp pháp. Tức là hàng
hoá theo hợp đồng phải là hàng hoá được phép mua bán theo
qui định của pháp luật của nước bên mua và nước bên bán.
Theo qui định của pháp luật Việt Nam, thương nhân được xuất
khẩu nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề
đăng ký kinh doanh trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất
khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm
nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu. Đối với hàng hóa xuất nhập
khẩu theo giấy phép, thương nhân muốn xuất nhập khẩu phải
có giấy phép của Bộ thương mại hoặc các Bộ quản lý chuyên
ngành. (Điều 3,4 Nghị Định 12/2006/NĐ-CP). Danh mục hàng
hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; Danh mục hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ thương mại; Danh mục
hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành theo quy định của
Việt Nam được quy định trong phụ lục số 01, 02 và 03 ban
hành kèm theo Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006.Năm là, Nội dung của hợp đồng phải hợp pháp. Nội dung của hợp
đồng phải tuân thủ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng. Nguồn luật điều
chỉnh hợp đồng có thể được các bên thoả thuận quy định trong hợp
đồng. Khi nguồn luật điều chỉnh hợp đồng không được quy định trong
hợp đồng thì áp dụng theo quy tắc luật xung đột: "luật nước người bán",
"luật nơi xảy ra tranh chấp", "luật nơi ký kết hợp đồng", "luật nơi thực
hiện nghĩa vụ".
doanh.1.4 Những nguyên tắc liên quan đến hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế:
Chế định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác
định là một trong những nội dung trọng tâm của luật
Thương mại (sửa đổi) số 36/2005/QH11 và nội dung những
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại của luật
thương mại Việt Nam.
Nguyên tắc bình đẳng trước Pháp luật, Thương nhân
thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật
trong hoạt động thương mại.
Nguyên tắc tự do tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động
thương mại, Các bên tự do thỏa thuận không trái với các qui
định của Pháp luật, thuần phong mỹ tục đạo đức xã hội, các
bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào thực hiện hành vi
áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào.
Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại
được thiết lập giữa các bên, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong
hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên đó mà bên
đã biết hoặc phải biết nhưng không trái với qui định pháp
luật.
Nguyên tắc áp dụng tập quán, Trường hợp pháp luật không
có qui định, các bên không có thỏa thuận và không có thói
quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán
thương mại nhưng không trái với qui định ghi trong luật
này và trong bộ luật dân sự.