Thiết kế nhà chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm với năng suất 50 tấn sản phẩm /ngày - Pdf 20


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
1 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm ở nước ta đã có từ rất lâu đời. Đây là một ngành
kinh tế có hình thức phát triển rất đa dạng và hiện nay đang có xu hướng phát triển theo
hướng công nghiệp hoá.
Trong xu hướng phát triển như hiện nay thì nhu cầu, thị hiếu của con người càng
được nâng cao. Vấn đề đầu tư khoa học công nghệ, phát triển kinh tế, nâng cao chất
lượng sản phẩm, hàng hoá là rất quan trọng, trong đó ngành chăn nuôi là không ngo
ại lệ.
Phát triển ngành chăn nuôi là áp dụng các biện pháp kỹ thuật để nâng cao chất
lượng con giống, nâng cao chất lượng sản phẩm thịt, nâng cao sản lượng chăn nuôi
nhằm đáp ứng một lượng lớn nhu cầu về sử dụng thịt trên thị trường. Vấn đề này đòi
hỏi ngành công nghệ chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm cần phải có những
dây chuyền công ngh
ệ hiện đại để tạo ra được những thức ăn có chất lượng tốt, cân đối
về nhu cầu dinh dưỡng và giảm được chi phí trong chăn nuôi, cung cấp đủ nguồn thức
ăn cho ngành chăn nuôi.
Hiện nay ngành công nghệ thực phẩm phát triển mạnh và các sản phẩm phụ của
ngành này góp phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành công nghệ chế biến thức ăn
chăn nuôi. Bên cạnh đó ngành trồ
ng trọt cũng khá phát triển cung cấp cho ngành chế
biến một lượng lớn nguyên liệu chế biến thức ăn cho chăn nuôi đảm bảo giá trị dinh
dưỡng và đa dạng sản phẩm thức ăn.


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
3 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
CHƯƠNG 1
LẬP LUẬN KINH TẾ - KỸ THUẬT
1.1. Sự cần thiết phải đầu tư
Việt Nam là nước nông nghiệp, phần lớn dân cư tập trung ở nông thôn, tham gia
kinh tế vườn, ao, chuồng là chủ yếu. Trong đó ngành chăn nuôi đem lại lợi nhuận kinh
tế cao, và có thể phát triển trên mọi địa hình. Để ngành chăn nuôi phát triển mạnh thì
chúng ta cần đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm để phục
vụ đầy đủ và tốt hơn cho người chăn nuôi, từ đó
đưa ngành công nghiệp chế biến các
sản phẩm chăn nuôi phát triển mạnh.
Qua tìm hiểu vị trí địa lý, khí hậu, hệ thống giao thông vận tải và các điều kiện
khác, tôi quyết định xây dựng nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm tại thị trấn

1.5. Nguồn cung cấp điện
Sử dụng nguồn điện từ hiệu điện thế 220V/380V, nguồn điện lấy từ lưới điện quốc
gia, ngoài ra để nhà máy được sản xuất liên tục nhà máy còn lắp thêm máy phát điện
dự phòng.

1.6. Nguồn cung cấp nước

Sử dụng nguồn nước từ giếng bơm của nhà máy, có bể lọc xử lý nước trước khi
đưa vào sử dụng.
1.7. Thoát nước và xử lí nước
Nguồn nước thải của nhà máy chủ yếu là nước thải sinh hoạt nên không cần thiết
phải có hệ thống xử lý nước thải riêng trong nhà máy.
1.8. Hợp tác hoá
Gần nhà máy có các xưởng chế biến lương thực, các trại chăn nuôi, như vậy có thể
tận dụng các chế phẩm, phế liệu của các xưởng, tiêu thụ sản phẩm nhanh…
1.9. Nguồn nhân lực
Đội ngủ công nhân chủ yếu ưu tiên trong tỉnh và các tỉnh lân cận
Đội ngủ cán bộ được tuyển dụng, đào tạo từ các trường học
1.10. Nguồn cung cấp nhiên liệu
Nhà máy sử dụng dầu DO được lấy từ các trạm xăng dầu trong thị trấn
Từ những phân tích trên, tôi quyết định xây dựng nhà máy chế biến thức ăn gia
súc, gia cầm với năng suất 50 tấn sản phẩm/ngày tại thị trấn nông trường Lệ Ninh,
huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Với năng suất này thì ngoài việc đáp ứng nhu cầu
thức ăn chăn nuôi trong tỉnh còn
đáp ứng nhu cầu thức ăn chăn nuôi cho một số tỉnh
lân cận.

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
5 -

là các axit béo chưa no. Khoáng trong thức ăn xanh thay đổi tuỳ theo tính chất đất đai,
chế độ phân bón.
Những điểm cần chú ý khi sử dụng:

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
6 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
- Cần thu hoạch đúng thời vụ để đảm bảo giá trị dinh dưỡng cao. Nếu thu hoạch
sớm ít xơ, nhiều nước, hàm lượng vật chất khô thấp.
- Đề phòng một số chất có sẵn trong thức ăn: lá sắn, cây cao lương, cỏ xu
đăng… có độc tố HCN, ngoài ra trong thức ăn xanh còn chứa NO
3
dưới dạng KNO
3
,
nếu hàm lượng NO
3
quá cao sẽ gây cho con vật ngộ độc và chết.
2.2. Thức ăn tinh bột giàu năng lượng

2.2.1. Sắn củ
Sắn củ tươi là loại thức ăn có hàm lượng nước khá cao 75-92%, protein thấp 3-5%.
Đây là loại thức ăn giàu tinh bột, nghèo khoáng, Ca, P thấp, giàu K, nghèo vitamin,
hàm lượng xơ cao.
Sắn có hai loại: Sắn đắng có hàm lượng độc tố trên 0,02% và sắn ngọt có hàm

Lê Thị Hương
Hạt ngũ cốc là loại thức ăn tinh chủ yếu cho bê, nghé, lợn và gia cầm, hạt ngũ cốc
và sản phẩm phụ của nó chiếm 90% nguồn năng lượng cung cấp trong khẩu phần.
Ngô
Ngô gồm có 3 loại: ngô vàng, ngô trắng, ngô đỏ.
Ngô vàng chứa sắc tố cryptoxanthin là tiền chất của vitamin A sắc tố này có liên
quan tới màu sắc của mỡ, thịt khi vỗ béo gia súc, màu của lòng đỏ trứng của gia cầm.
Trong s
ố các hạt cốc dùng làm thức ăn gia súc, trừ cao lương thì ngô có năng
lượng cao nhất, nhưng hàm lượng protein lại thấp hơn các hạt cốc khác. Ngô giàu tinh
bột, ngon miệng, tỷ lệ tiêu hoá cao.
Ngô chứa 65% tinh bột, lượng xơ thấp, năng lượng cao 3200-3400 kcal/kg. Protein
thô từ 8-13%, lipit từ 3-6% chủ yếu là các acid béo chưa no. Protein trong ngô nghèo
các axit amin lyzin, methionin và tryptophan. Khiếm khuyết Ca và một số khoáng chất,
vitamin do đó cần phải sử dụng phối hợp ngô chung với thức
ăn khác nhằm đảm bảo
dinh dưỡng động vật nuôi, cân đối protein, khoáng và vitamin.
Hiện nay người ta dùng ngô để sản xuất bột và glucoza cho người. Nhiều sản sản
phẩm của ngô rất thích hợp cho động vật như lá và thân cây ngô có thể dùng cho
bò,trâu ăn rất tốt, quan trọng hơn là mầm ngô, cám ngô và gluten. Khi 3 loại này hỗn
hợp lại tạo thành sản phẩm có tên là bột ngô-gluten, chứa xấp xỉ 24% protein thô, 3-5%
xơ thô. Hỗn hợp này thích hợp cho t
ất cả các loại gia súc gia cầm, đặc biệt là bò sữa
tuy vậy cũng cần bổ sung thêm acid amin công nghiệp để đầy đủ thành phần acid amin
trong khẩu phần thức ăn.
Tỷ lệ tiêu hoá của ngô cao từ 85-90%.
Ngô là loại ngũ cốc có chứa đường và mỡ cao nên ngô dễ bị nhiễm nấm mốc khi
độ ẩm trên 15% làm giảm chất lượng của ngô,thậm chí còn chứa độc tố aflatoxin. Vì
vậy khi bảo quản c
ần chú ý phơi khô, để nguội, bảo quản trong cao ráo với độ ẩm ngô

ế biến bột mì. Cám mì là loại thức ăn tốt
để nuôi lợn. So với cám gạo thì cám mì có hàm lượng protein cao hơn, ít dầu hơn, năng
lượng trao đổi bằng 2420 Kcal/kg. Cám mì thường có hai loại, loại màu vàng nâu nhạt
hoàn toàn là vỏ cám; loại màu trắng ngà, ngoài vỏ cám còn lẫn cả tinh bột.
Tấm
Tron quá trình xay xát gạo thu hồi được 3% tấm. Về mặt dinh dưỡng tấm tương
đương gạo. Về mặt năng lượng và protein tấm tương
đương ngô.
2.3. Thức ăn bổ sung protein
2.3.1. Thức ăn bổ sung protein nguồn gốc thực vật
Gồm hạt đậu tương, đậu xanh, đậu mèo, đậu triều, lạc, vừng…. và các khô dầu.
Đây là loại thức ăn giàu protein, protein từ 30-40%. Chất lượng protein cao hơn và
cân đối hơn so với hạt ngũ cốc. Tuy chất lượng protein của hạt họ đậu không bằng

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
9 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
protein động vật nhưng có một số hạt đậu giá trị sinh vật học protein của chúng gần
bằng với cá, trứng sữa.
Tuy nhiên hạt họ đậu nói chung chưa hoàn toàn cân đối về axit amin, trong đó axit
glutamic, cystin và methionin thường thiếu.
Đậu tương
Đậu tương là một trong những loại họ đậu được sử dụng phổ biến đối với gia súc,
gia cầm. Trong đậu tương có 50% protein thô, 16-21% lipit, protein đậu tương chứa
đầy

GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
Khô dầu đậu nành
Khô dầu đậu nành chứa 1% béo, là một trong những nguồn protein hữu hiệu nhất
cho động vật. Protein của nó chứa đầy đủ các axit amin không thay thế nhưng hàm
lượng cystin và methionin còn thấp. Bã dầu đậu nành chứa một số độc tố, chất kích
thích hoặc ức chế sinh trưởng, bánh dầu đậu nành nghèo vitamin nhóm B nhưng là
nguồn cung cấp Ca, P khá hơn hạt ngũ cốc.
2.3.2. Thức ăn bổ sung protein nguồn gố
c động vật
Bao gồm các sản phẩm phụ được thu nhận từ các ngành sản xuất và chế biến thịt
cá, lò mổ gia súc gia cầm, chế biến sữa, tôm, cua, mực, cá…Các loại thức ăn này có
giá trị dinh dưỡng khá cao, hàm lượng protein khoảng trên dưới 50%, có đầy đủ các
axit amin không thay thế, là loại thức ăn cân đối nhất với gia súc, gia cầm.
Loại thức ăn này khó bảo quản và vận chuyển, khi bảo quản thườ
ng gây ra mùi ôi
khét khó chịu và một số axit amin bị phân huỷ. Do vậy cần phải sấy khô ở một điều
kiện nhất định, độ ẩm sau khi sấy phải nhỏ để giảm đến mức thấp nhất khả năng phân
huỷ thành phần dinh dưỡng của thức ăn.
Bột cá
Là loại thức ăn bổ sung hoàn hảo cho gia súc, gia cầm, là loại thức ăn giàu protein.
Loại bột cá t
ốt chứa 50-60% protein, tỷ lệ axit amin cân đối có nhiều axit amin chứa
lưu huỳnh, bột cá giàu Ca, P tỷ lệ tương đối cân đối, giàu vitamin B
1
, B
12

phầm chế biến thịt như phủ tạng, nhau thai, xương, máu. Nguyên liệu chế biến bột thịt
x
ương rất đa dạng nên hàm lượng dinh dưỡng bột thịt xương cũng biến động lớn. Bột
thịt xương tốt có hàm lượng protein 50%. Hàm lượng tryptophan và methionin trong
bột thịt xương thấp. Tuy nhiên nó là nguồn cung cấp Ca, P, lý tưởng. Sử dụng bột thịt
xương cần chú ý đến điều kiện bảo quản, bột thịt xương rất dễ thối, mốc, nhiểm vi
khuẩn có hại.
2.4. Các sản phẩm phụ của các ngành chế biến
2.4.1. Sản phẩm phụ của ngành nấu rượu bia
Gồm bã rượu, bã bia…đều là những loại thức ăn nhiều nước (90% là nước) do vậy
khó bảo quản và vận chuyển.
Hàm lượng dinh dưỡng trong 1kg bã rượu có 0,26 đơn vị thức ăn, 46g protein tiêu hoá.
Trong 1kg bã bia khô có 0,8-0,9 đơn vị thức ăn, 80-90g protein tiêu hoá.
Đây là loại thức ăn nghèo protein và năng lượng. Các loại thức ăn này có thể sấy
khô để sử dụng cho l
ợn và gia cầm.
Mức sử dụng cho lợn và gia cầm 5-10% khối lượng khẩu phần.

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
12 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
2.4.2. Sản phẩm phụ của ngành làm đường, tinh bột
Gồm bã khoai, bã sắn, rỉ mật đường, bã mía, đường cặn…
Rỉ mật đường dùng cho loại nhai lại có thể sử dụng bằng nhiều cách: trộn urê với
mật rỉ đường cùng với các loài thức ăn thô như cỏ khô, rơm, bã mía, thân cây ngô, cao

Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
Hiện nay ngành chăn nuôi sử dụng 2 dạng men: men gia súc khô và men ủ.
Nấm men gia súc khô: Là sinh khối khô của các chủng nấm men bia, các chủng
nấm men gia súc thuần tuý như Torula utilis, Torula lipolitica, Candida utilis,
Saccharomyces serevisiae. Các chủng nấm men này được sản xuất ở các nhà máy
chuyên môn hay được tách từ dấm chín và bã rượu của quá trình sản xuất rượu, bia.
Nấm men gia súc nói chung thành phần dinh dưỡng rất cao và hoàn chỉnh, đó là loại
thức ăn bổ sung đạm và vitamin rất tốt cho gia súc và gia cầm.
Li
ều lượng sử dụng nấm men khô trong khẩu phần thức ăn 3-5% nếu tăng tỷ lệ
thì giá thành thức ăn hỗn hợp tăng.
Men ủ: Ngành chăn nuôi sử dụng 2 dạng men ủ: men ủ tươi, men ủ khô chủ yếu
để nuôi lợn, nuôi bò, một ít dùng để nuôi gia cầm.
Khi sử dụng nấm men, nhất là men ủ cho gia súc ăn sẽ mang lại nhiều hiệu quả:
- Thức ăn có kh
ẩu vị tốt nên con vật ăn được nhiều.
- Tăng tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn, hạn chế được các loại ký sinh đường ruột.
- Làm tăng trọng thêm 5-10% và giảm tiêu tốn thức ăn là 10-15%.
- Cải thiện được một phần chất lượng của thức ăn, nhất là các loại thức ăn bột
đường nghèo protein và vitamin.
Axit amin công nghiệp
Trong xây dựng khẩu phần thức ăn cho gia súc dạ dày
đơn, hàm lượng và tỷ lệ các
axit amin không thay thế được đặc biệt chú ý. Thiếu axit amin hiệu quả sử dụng thức
ăn thấp. Một số thức ăn chính của lợn thiếu một số axit amin không thay thế. Vì thế khi
lập khẩu phần thức ăn cho gia súc, gia cầm cần bổ sung thêm các axit amin công
nghiệp vào khẩu phần cho đủ định mức.

2
.6H
2
O, Co(CH
3
COO)
2
.4H
2
O
- Đồng: CuSO
4
.5H
2
O
- Sắt: FeSO
4

- Kẽm: ZnSO
4
.6H
2
O, ZnCO
3

- Mangan: MnO
2
, MnSO
4
.4H

Căn cứ vào định mức vitamin cho từng loại vật nuôi, từng lứa tuổi, các hãng sản
xuất th
ức ăn sản xuất các loại premix tương ứng. Khi sử dụng căn cứ trên nhãn hiệu
bao bì để bổ sung vào khẩu phần cho đúng.
2.5.4. Các chất bổ sung khác
Kháng sinh
Kháng sinh có tác dụng kích thích sinh trưởng. Lợn ăn thức ăn có bổ sung kháng
sinh tăng trọng hơn đối chứng 15-20%, gà 7-15%, bê 4 – 5%. Kháng sinh còn làm gà
mái đẻ nhiều trứng hơn 9-10% và tăng tỷ lệ nở của trứng.
Kháng sinh giúp cho con vật khoẻ mạnh, hạn chế còi c
ọc, hạn chế bệnh tiêu chảy
và rối loạn tiêu hoá.
Kháng sinh làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn. Nếu thức ăn có thêm kháng sinh thì
cứ tăng 100 kg thể trọng tiết kiệm được 15-20kg thức ăn.
Những kháng sinh được sử dụng trong chăn nuôi:
Aureomycine Spiramycine
Tetramycine Oleandomycine
Penicilline Neomycine
Bacitracine Framycetine
Erythromycine Biomycine

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
16 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.

Chất tạo mùi: B
ổ sung các hương liệu vào thức ăn hỗn hợp để kích thích tính thèm
ăn của gia súc, gia cầm.
Chất tạo vị: Chủ yếu là muối, hàm lượng ≤1%, bổ sung dầu mỡ sẽ làm tăng vị ngon.
Các chất kích thích tăng trọng
Như thyroxin được chiết xuất từ tuyến giáp của trâu bò, cừu khi bổ sung vào khẩu
phần làm tăng trọng nhanh.
Chế phẩm estrogen chiết xuất từ buồng trứ
ng của gia súc hoặc tổng hợp, khi bổ
sung vào làm tăng khả năng sinh sản hoặc giảm tỷ lệ mỡ.
2.6. Vai trò của các chất có trong thức ăn
Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp gồm: đạm (protit), bột, đường (gluxit),
chất béo (lipit), khoáng, vitamin và nước. Hàm lượng này khác nhau ở mỗi loại thức ăn.


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
17 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
2.6.1. Vai trò và giá trị của chất đạm (protein)
Chất đạm là chất chính để cấu tạo nên cơ thể, cấu tạo nên tế bào, cấu tạo nên kích
thích tố (hoocmon), kháng thể và vitamin. Có thành phần hoá học chính là C, H, O, N
ngoài ra còn có thêm S, P. Trong cơ thể protein cũng là chất dinh dưỡng sinh năng
lượng. Dựa vào thành phần hoá học đạm chia làm 2 loại cơ bản:
- Đạm đơn giản: Như albumin, globulin…được cấu tạo đơn giản, gia súc hấp thụ
dễ dàng

SVTH:
Lê Thị Hương
Xenluloza: Là chất xơ bao bọc thực vật, lợn khó tiêu hoá nhưng khẩu phần ăn hằng
ngày phải có một lượng nhất định.
2.6.3. Vai trò và giá trị của chất béo
Trong cơ thể chất béo là nguồn năng lượng dự trữ, là thành phần cấu tạo nên các
mô cơ thể và tham gia vào các phản ứng trao đổi chất trung gian khác.
Lipit là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho cơ thể, năng lượng do lipit cung
cấ
p thường gấp 2-2,5 lần so với các chất dinh dưỡng khác. Khẩu phần thiếu lipit ảnh
hưởng tới trao đổi carbonhydrate và làm tăng nhu cầu vitamin nhóm B. Lipit còn là
dung môi hoà tan các vitamin quan trọng như A, D, E, K. Do vậy khẩu phần thiếu lipit
kéo dài làm con vật mắc bệnh thiếu các vitamin trên.
Lipit là loại thức ăn có nhiều trong các loại hạt có dầu như đậu phụng, mè, dừa
khô, hạt bông, hạt thầu dầu, hạt điều và hạt hướng dương…Còn ở
động vật lipit có
trong gan, sữa, mỡ…
2.6.4. Vai trò và giá trị của chất khoáng
Đối với vật nuôi chất khoáng cũng quan trọng như protein. Ngoài chức năng cấu
tạo mô cơ thể, chất khoáng còn tham gia vào nhiều quá trình chuyển hoá của mô cơ
thể. Thiếu khoáng con vật sẽ bị rối loạn trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản bị ngừng
trệ, sức sản xuất sút kém.
Chất khoáng được chia làm 2 loại:
- Khoáng đa lượng
- Khoáng vi lượng
Vai trò của chất khoáng:
- Tham gia vào các thành phần dịch thể của: máu, huyết tương.
- Ổn định áp suất thẩm thấu của tế bào và máu.
- Cấu tạo: xương, lông, da…
Nguyên tố đa lượng.

3
-
.
Vitamin D có tác dụng làm tăng độ hấp thụ của Ca và huy động Ca vào máu đưa
đến các tổ chức trong cơ thể, cung cấp lượng Ca cần thiết.
Phot pho: P là chất khoáng có nhiều chức năng hơn bất kì cấu tử khoáng nào khác.
P ngoài nhiệm vụ tạo xương còn có nhiều nhiệm vụ quan trọng khác như các liên kết
cao năng lượng của ATP,…
Tỷ lệ Ca:P thích hợp nhất cho gia súc là 1:1 hoặc 2:1. Đối với gia cầm đẻ
trứng thì
tỷ lệ đó lớn hơn rất nhiều.
Vai trò của kali, natri và clo:
Thức ăn thiếu NaCl, con vật kém ăn, con vật non chậm lớn, gia súc nuôi con ít sữa.
Nếu thiếu nghiêm trọng thì thân nhiệt giảm, tim đập không bình thường và có thể chết.
Natri có nhiều trong máu 5-6% dưới dạng NaCl. Na có nhiều trong huyết tương
nhưng không có trong tế bào máu. Nhiệm vụ chính là duy trì áp suất thẩm thấu giữa tế
bào và máu.
Kali có nhiều trong hồng cầu ở
dạng KHCO
3
có nhiệm vụ chuyên chở CO
2
từ các
tế bào về phổi. Chất Kali tham gia sự hoạt động của cơ có trong huyết tương ở dạng

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
20 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch

gia vào quá trình chuyển hoá (-CH
3
) và kích thích quá trình tạo máu của cơ thể.
Vitamin B12 là yếu tố cần thiết của động vật. Một số loài vi sinh vật có khả năng sinh
tổng hợp Vitamin B12. Vì vậy nguồn bổ sung vitamin B
12
và Coban chủ yếu cho vật
nuôi là các loại chế phẩm B
12
thu được của quá trình nuôi cấy vi sinh vật thích hợp.
Kẽm (Zn): Kẽm có trong thành phần của enzim cacbonic anhydraza nên có sự liên
quan đến hô hấp của tế bào.
Thiếu kẽm sẽ bị bệnh: Lông khô, á sừng, da xù sì, chậm lớn và bị bệnh rụng lông.

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
21 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
Kẽm có trong tất cả thức ăn động vật và thực vật: Sò biển, gan, mầm lúa, men và
rau xà lách. Sữa rất ít kẽm.
Mangan (Mn): Trong cơ thể Mn tham gia hoạt hoá enzym photphataza có liên
quan đến trao đổi Ca và P vì vậy nếu thiếu Mn sẽ mắc bệnh về xương và teo sụn dưỡng
ở phổi. Trong rau cỏ có nhiều Mn, cỏ đồng và thức ăn xanh chứa đầy đủ Mn, còn thức
ăn động vật ngược lại kém Mn hơn. Cám gạ
o và lúa mỳ rất giàu Mn.
Iot (I

Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
2.6.6. Vai trò và giá trị của vitamin
Vitamin là nhóm thiết yếu được phát hiện sau cùng. Vitamin còn gọi là sinh tố,
một yếu tố dinh dưỡng không thể thiếu được của mọi sinh vật. Cơ thể lợn cần các loại
vitamin để phát triển cơ thể, sinh sản và phòng bệnh.
Vitamin vào cơ thể lợn qua nguồn thức ăn.
Vitamin A
Vitamin A có trong ngô vàng, cám, các loại rau tươi, dầu cá. Vitamin A có vai
trò trong việc tiếp nhận ánh sáng của mắt và thành lập, bảo v
ệ các tế bào biểu mô.
Thiếu vitamin A lợn con còi, chậm lớn, mặt sưng phù, đi xiêu vẹo, chân sau cứng,
ỉa chảy và chết dần.
Vitamin D
Đồng hoá thức ăn khoáng Ca, P. Thiếu vitamin D lợn con sưng khớp, xương mềm,
lợn quỳ lê đầu gối 2 chân trước, rên la, mặt sưng phù. Cần nơi thả buổi sớm (1 tiếng),
uống thêm dầu cá.
Vitamin E
Vitamin E có trong khô dầu, cám, ngô, thóc mầm, quan trọng đối với lợn sinh sản.
L
ợn nái thiếu vitamin E xuất hiện bào tha chết, thiếu sữa nuôi con. Đối với đực tinh
kém, phối không đậu thai.
Ở gà thiếu vitamin E dẫn đến suy thoái sinh sản, thoái hoá bắp thịt, thoái hoá não,
protein của máu bị phá huỷ.
Vitamin B
Có trong cám gạo, bột cá, bột đỗ tương, bã bia chủ yếu là B
1
, B
2

- Căn cứ vào tiêu chuẩn
ăn đã được quy định để phối hợp khẩu phần.
- Nắm vững nhu cầu dinh dưỡng của gia súc, gia cầm, nguồn thức ăn dự trữ, phẩm
chất và giá trị thức ăn, điều kiện chăm sóc và đặc tính từng con vật nuôi, từng loài vật
nuôi.
- Phải phù hợp với toàn bộ yêu cầu chăn nuôi, rẻ tiền, chất lượng tốt.
- Trong thời gian vật nuôi sử d
ụng khẩu phần ăn cần thường xuyên theo dõi ảnh
hưởng của khẩu phần đến tình hình sức khoẻ và sức sản xuất của nó để xử lý, bổ sung
kịp thời.
- Phải căn cứ vào đặc tính sinh lý của vật nuôi, cụ thể là đặc điểm tiêu hoá của mỗi
loài gia súc, gia cầm.
- Khi phối hợp khẩu phần phải đảm bảo được sự cân bằng các chất dinh d
ưỡng.
- Khẩu phần phải ngon và không có các chất độc hại.
- Khi phối hợp khẩu phần phải chú ý đến sinh lý và chức năng các cơ quan sống
của vật nuôi và đặc biệt là sức chứa của dạ dày.
Nguyên tắc kinh tế
- Phải hết sức tận dụng nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương và tổ chức sản xuất, dự
trữ thức ăn ngay tạ
i cơ sở chăn nuôi.
- Phối hợp nhiều loại thức ăn và sử dụng thức ăn hỗn hợp được sản xuất công
nghiệp để dần dần cơ giới hoá và kế hoạch hoá ngành chăn nuôi.

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
24 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
-
25 -
GVHD:
Th.s.Trần Xuân Ngạch
Thiết kế nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.
SVTH:
Lê Thị Hương
CHƯƠNG 3
CHỌN VÀ THUYẾT MINH QUY TRÌNH
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
3.1. Chọn dây chuyền công nghệ
Thức ăn công nghiệp là thức ăn mà khi gia súc gia cầm ăn vào đã đầy đủ các chất
dinh dưỡng không cần phải bổ sung thêm một thức ăn nào khác.
Công nghệ sản xuất thức ăn hỗn hợp cho gia súc hay gia cầm được sử dụng trên
thế giới và ở nước ta nói chung về quy trình và kỹ thuật sản xuất là tương tự nhau. Ở
nước ta đa số các nhà máy đều chọn phương pháp phối tr
ộn, cho nên các thiết bị máy
móc sử dụng trong công nghệ thường giống nhau về mặt cấu tạo và nguyên tắc hoạt
động. Tuy nhiên thiết bị và dây chuyền của từng hãng sản xuất khác nhau, có những
đặc điểm riêng, đặc tính kỹ thuật cũng khác nhau.
Trong đồ án thiết kế này, tôi chọn dây chuyền công nghệ có những đặc tính như sau.
3.1.1. Đặc điểm công nghệ
Dây chuyền công nghệ lựa chọn xếp theo chiề
u đứng nhằm lợi dụng tính tự chảy
của nguyên liệu.
Dây chuyền công nghệ là tổ hợp của nhiều dây chuyền khác nhau, bao gồm:
+ Dây chuyền tiếp nhận và xử lý nguyên liệu thô.
+ Dây chuyền tiếp nhận và xử lý nguyên liệu mịn.
+ Dây chuyền định lượng và phối trộn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status