Chương
Nhóm bể
trầm tích
Trường Sa
và
tài nguyên
dầu khí
13
421
Chương 13. Nhóm bể trầm tích Trường Sa và tài nguyên dầu khí
Quần đảo Trường Sa (QĐTS) nằm phía
Đông Nam của biển Đông Việt Nam. Vùng
nghiên cứu được khống chế bởi vó tuyến 6
0
30
– 12
0
00 Bắc và trong khoảng kinh tuyến từ
111
0
30 tới 117
0
20 Đông (hình 13.1). Diện
tích khu vực nghiên cứu khoảng 190.000
km
2
gồm các đảo nổi, đảo ngầm, các bải
đá ngầm nằm trải dài theo hình elip có trục
chính theo hướng đông bắc – tây nam được
bao quanh bởi vùng nước có chiều sâu khác
nhau. Đảo gần nhất cách bờ biển Việt Nam
Hình 13.1. Bản đồ vùng nghiên cứu
1. Giới thiệu
422
Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam
2. Lòch sử tìm kiếm thăm dò
Do vò trí đòa lý quan trọng trong khu
vực biển Đông, và do tầm quan trọng về
các nguồn lợi tài nguyên, khoáng sản nên
ngay từ thời hậu Lê (1471-1490?) đã đo vẽ
bản đồ tại khu vực QĐTS và khu vực quần
đảo Hoàng Sa (QĐHS). Đời chúa Nguyễn
và sau này là Nhà Nguyễn (1802-1945)
đã tổng kết các tư liệu về vùng QĐTS và
QĐHS với tên gọi là Đại Trung Sa [8]. Trên
bản đồ Việt Nam xuất bản vào năm 1938
toàn bộ QĐTS có tên gọi Vạn Lý Trường
Sa, tách khỏi khu vực QĐHS ở phía Bắc.
Vào năm 1927 người Pháp đã tiến hành
khảo sát nghiên cứu về các rạn san hô, tài
nguyên photphat và tiếp sau đó là các cuộc
khảo sát của tàu De Lanessan, Alunde,
Astrolate v. v. . Năm 1931 Pháp khởi công
xây dựng đèn biển tại đảo Song Tử Tây,
năm 1938 Pháp xây dựng đài khí tượng và
trạm vô tuyến tại đảo Ba Bình [8]
Từ năm 1954 tới đầu tháng 4 năm 1975
chính quyền Sài Gòn thực hiện quyền quản
lý đối với khu vực quần đảo Trường Sa.
Các khảo sát về thổ nhưỡng, đất đai đầu
tiên được chính quyền Sài Gòn tiến hành
Các kết quả khảo sát, minh giải các tuyến
khu vực đóng vai trò hết sức quan trọng góp
phần nhìn nhận các đặc điểm về cấu trúc,
chiều dày lớp phủ trầm tích Đệ Tam cũng
như đòa hình móng cổ trước Đệ Tam (Hình
13.5, 13.6) khu vực QĐTS.
Trong nhiều năm qua Bùi Công Quế và
các cộng sự đã có nhiều công trình nghiên
cứu, tổng hợp các kết quả đo từ, trọng lực,
các công trình trên chủ yếu liên quan tới
cấu trúc sâu lớp vỏ trái đất.
Từ năm 1976-1984 các công ty như
Hình 13.2. Sơ đồ các tuyến đòa chấn
423
Chương 13. Nhóm bể trầm tích Trường Sa và tài nguyên dầu khí
AMOCO (Mỹ), SALEN (Thụy Điển) đã
khoan 07 giếng tại khu vực bãi Cỏ Rong
(Reed Bank).
Năm 1993, trong đề án hợp tác giữa
trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại
học Paris VI, tàu Atlante
(Pháp) đã thực
hiện chuyến khảo sát “Ponaga” với việc đo
trọng lực, từ và thu nổ đòa chấn nông kết
hợp lấy mẫu tầng mặt ở vùng biển miền
Trung và Đông Nam.
Năm 1993 Petrovietnam cũng đã tiến
hành khảo sát đòa chấn 2D khu vực Tư
Chính - Vũng Mây, Vũng Mây- Đá Lát.
Gần đây nhiều tài liệu từ hàng không, trọng
khu vực phản ánh lớp vỏ lục đòa chuyển
tiếp. Dò thường trọng lực đòa phương dương
và âm nhìn chung phản ánh sự nhô cao của
móng các bể trầm tích hoặc đá magma và
sụt lún của móng bể trầm tích.
Trường dò thường từ trong khu vực khá
phân dò và phức tạp, có biên độ từ 100 nT
đến 200 nT, hình dạng không đều, hướng
chủ yếu là đông - đông bắc và tây bắc -
Hình 13.3. Sơ đồ dò thường trọng lực Bouguer đòa
phương vùng QĐTS (Z=30km) theo [8]
Hình 13.4. Bản đồ dò thường từ ΔTa
vùng QĐTS theo [8]
424
Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam
đông nam. Ở khu vực trũng nước sâu Biển
Đông, dò thường từ có biên độ khá lớn, đến
300 – 400 nT (Hình 13.4).
Dò thường từ nhìn chung phản ánh đặc
tính của các khối đá magma xâm nhập và
phun trào.
Theo [8] tại khu vực QĐTS có 4 phức
tập đòa chấn (seismic megasequences)
(Hình 13.5, 13.6, 13.7, 13.9, 13.10).
Phức tập đòa chấn TS-1 đặc trưng bởi
sóng phản xạ biên độ trung bình, tần số cao,
độ liên tục tốt, phân lớp song song, vận tốc
lớp khoảng 1.600 – 2.900 m/s. Chúng phát
triển rộng theo kiểu onlap, đặc trưng cho
trầm tích sét biển và đá bùn (mudstone)
và TS-4 đều quan sát thấy các bất chỉnh
hợp.
3.2. Các đơn vò cấu trúc chính
Trong [8] các tác giả đã xác lập được
trong khu vực QĐTS một số bể trầm tích
Meso-Kainozoi. Trong [11] các tác giả
xem toàn bộ khu vực nghiên cứu là đòa khối
QĐTS, được phân thành các khối kiến trúc
Trường Sa (Spratly – Dangerous Grounds),
Bãi Cỏ Rong (Reed Bank), Calamina (Bắc
Palawan – Mindovo) và Luconia. Trong
các khối này lại dược phân thành các trũng
và đới nâng v v
Trên cơ sở các tài liệu hiện có, khu vực
QĐTS và vùng phụ cận có thể phân thành
Hình 13.7. Trích đoạn mặt cắt đòa chấn
điểm sâu chung, theo [8]
Hình 13.8. Núi ngầm trũng Tây Nam
Trường Sa, theo [8]
Hình 13.6. Kết quả giải thích mặt cắt đòa chấn theo các tuyến dọc, theo [8]
426
Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam
3 đới: Tây Nam trũng nước sâu Biển Đông,
Trường Sa và trũng Borneo-Palawan (Hình
13.11).
• Đới Tây Nam trũng nước sâu Biển
Đông giới hạn phía Tây Bắc là đứt gãy
Nam Côn Sơn, phía Đông Nam là đứt
gãy Tây Trường Sa. Đây là vùng sụt lún
sâu của đáy biển theo phương tây nam
qua cả trầm tích Neogen - Đệ Tứ. Ở đây
các trũng Đá Lát, Đá Chữ Thập, Trường
Sa, chiều dày trầm tích Đệ Tam có thể tới
4-5 km.
Ở phần Nam của phụ đới Tây Trường
Sa có đòa hình đáy biển ở độ sâu 1.500 -
2.000m tương đối phẳng. Trầm tích sau tách
giãn nhìn chung là bằng phẳng, chỉ ở đôi
nơi, gắn với các khối nhô cao đá magma là
có biến dạng. Do chòu ảnh hưởng của kiến
tạo nén ép nên trong vùng có các nếp lồi cổ.
Ở nóc các uốn nếp lồi này thấy rõ sự bào
mòn ở dưới phức tập đòa chấn TS-3, chứng
tỏ quá trình bình nguyên hoá (planation),
làm gián đoạn quá trình trầm đọng thời
kỳ Paleogen, và khu vực này trở thành
nguồn cung cấp vật liệu cho trũng Borneo
– Palawan. Ở đây có trũng An Bang và xa
hơn về phía Tây là trũng Vũng Mây. Trầm
tích Đệ Tam ở trũng An Bang có thể tới 3-
4km. Giữa phần Bắc và Nam của phụ đới
Tây Trường Sa là một gờ nâng liên quan
đến khối nhô các đá magma.
Phụ đới Đông Trường Sa chòu ảnh hưởng
rõ nét của các đứt gãy hướng kinh tuyến,
mặc dù cũng có một số đứt gãy hướng tây
bắc - đông nam. Tại đây có trũng Nam
Yết (trũng Sơn Ca theo [11]) nằm trải theo
phương á kinh tuyến từ các đảo Song Tử
Đông, Song Tử Tây ở phía Bắc qua các đảo
song và liên tục , nhưng bên dưới chúng các
tầng phản xạ liên quan đến các trầm tích
Miocen sớm - Paleogen lại cắm dốc, độ
liên tục kém đến hỗn loạn và thường bò cắt
ở phía Đông Nam tiếp giáp với vùng chờm
nghòch (overthrust) Borneo – Palawan.
3.3. Đặc điểm hệ thống đứt gãy
Theo [8] trên cơ sở các tài liệu đòa vật lý
hiện có, tại khu vực QĐTS có hai hệ thống
đứt gãy sau:
• Hệ thống đứt gãy có phương đông bắc
- tây nam (đứt gãy Tây Trường Sa và
đứt gãy Nam Côn Sơn). Đứt gãy Tây
Trường Sa đồng thời là ranh giới phía
Bắc QĐTS. Đứt gãy Tây Trường Sa
phát triển từ Đông Bắc bãi Cỏ Rong tới
phía Tây đảo Trường Sa và đi sâu vào
thềm lục đòa Việt Nam. Đứt gãy Nam
Côn Sơn nằm ở phía Nam dải nâng Côn
Sơn có chiều dài hơn 1.000 km (Hình
13.11). Các đứt gãy này thể hiện rõ trên
các bản đồ từ, trọng lực bằng các dải dò
thường tuyến tính (lineament).
• Hệ thống đứt gãy có phương gần như
Bắc - Nam. Đây là các đứt gãy trượt
ngang (F1, F2, F3, F4) bò phân cắt thành
các đoạn khác nhau.
Theo [11] ngoài hai hệ thống đứt gãy
trên còn có các đứt gãy hướng TB - ĐN
song hình ảnh không được rõ nét.
rộng lớn và nối liền với thềm cổ Sunda ở
phía Nam biển Đông Việt Nam bò giập vỡ
tạo nên các đới móng có đòa hình gồ ghề, bò
phân cắt bới các đới nâng sụt, đòa phương.
b. Giai đoạn đồng tạo rift
Vào Paleocen- đầu Eocen, do va chạm
giữa mảng Ấn Độ và mảng Âu-Á, sự hút
chìm mảng Ấn Độ dưới rìa Nam lục đòa
Âu-Á dẫn đến quá trình tách giãn các khối
móng tạo thành các bể trầm tích Đệ Tam
trong khu vực biển Đông, trong đó có khu
vực QĐTS. Vào cuối Eocen đầu Oligocen
các bể trầm tích như nói ở trên tiếp tục
được mở rộng.
Trục tách giãn khu vực có phương đông
bắc - tây nam hầu như trùng hợp với trục
phát triển của các bể trầm tích. Quá trình
tách giãn, hình thành các bể trầm tích gắn
liền với sự hình thành và phát triển của các
đứt gãy sâu trong đó có các đứt gãy Tây
Trường Sa, Nam Côn Sơn cùng với các hoạt
động magma xâm nhập và phun trào rộng
khắp. Vào giữa Eocen xảy ra sự giãn đáy
Biển Đông. Pha giãn đáy ghi nhận rõ nhất
vào Oligocen theo hướng bắc nam, xô đẩy
nhóm bể Trường Sa về phía Đông Nam,
trượt theo đứt gãy 109
O
KĐ và dẫn tới sự
hình thành hệ thống đứt gãy gần như có
tích vụn thô giàu hóa đá sinh vật.
4. Đòa tầng - trầm tích
Trên cơ sở tài liệu giếng khoan PV-94-
2X ở bể Tư Chính - Vũng Mây và giếng
khoan Sampaguita-1 Bắc Palawan, các tài
liệu đòa chất, đòa vật lý hiện có, chúng tôi
xây dựng cột đòa tầng tổng hợp khu vực
QĐTS (Hình 13.12). Dưới đây là mô tả các
phân vò đòa tầng được dự kiến có mặt trong
vùng.
4.1. Móng trước Đệ Tam
QĐTS là khu vực có đặc điểm đòa chất
hết sức đặc biệt. Từ các mặt cắt đòa chấn
430
Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam
(Hình 13.7, 13.8, 13.9) cho thấy móng cổ
trước Đệ Tam là các khối nhô, sụt, gồ ghề,
có đòa hình phức tạp, hiện nằm ở các chiều
sâu rất khác nhau. Tại các trũng sâu, phủ
bất chỉnh hợp trên móng là các trầm tích
Paleogen, nhiều nơi là các ám tiêu san hô
có tuổi thay đổi từ Oligocen tới Pliocen, đôi
khi lại lộ ra trên đáy biển. Thành phần đá
móng bao gồm:
• Đá biến vò, biến chất: gặp tại các khoan
Sampaguita-1, chiều sâu 4.000m [8]
phía Đông Bắc QĐTS gồm cát kết,
bột kết, sét xen kẽ nhau, bò biến chất,
tuổi Creta. Quá về phía Nam bể Nam
Côn Sơn tại khoan Cipta-1X cũng đã
Với các kết quả nêu trên và liên kết
với các tài liệu khu vực, các thành tạo
móng tại khu vực QĐTS sẽ khác nhau
về thành phần và tuổi.
4.2. Lớp phủ trầm tích Đệ Tam
Hiện tại chưa có đònh danh đòa tầng
nào cho lớp phủ trầm tích Đệ Tam khu vực
QĐTS. Trên cơ sở tổng hợp các kết quả
hiện có, có thể dự báo các phân vò đòa tầng
tại khu vực QĐTS và các đặc trưng trầm
tích như sau:
a. Trầm tích tuổi Paleocen (E
1
)
Hiện trầm tích Paleocen đã gặp tại giếng
khoan Sampaguita-1 Bắc Palawan (phía
Đông Bắc QĐTS), gồm đá carbonat, các
thành tạo vụn thô như cuội kết, cát kết hạt
mòn tới trung xen kẽ sét bột kết và một vài
vỉa than, được thành tạo trong môi trường
lục đòa, lấp đầy các trũng đòa phương, tuổi
được xác đònh trên cơ sở các dạng bào tử
phấn hoa Retritiporite (P1, P2, P5. P6). Có
thể dự đoán các trầm tích Paleocen sẽ có
mặt rộng rãi tại các trũng sâu, nơi lớp phủ
Đệ Tam dày trên 6 km.
b. Trầm tích tuổi Eocen (E
2
)
Đã gặp tại giếng khoan Sampaguita-1
d. Trầm tích tuổi Miocen (N
1
)
Ở cả hai khu vực Bãi Cỏ Rong, Bắc
Palawan và Tư Chính–Vũng Mây đã gặp
đầy đủ các trầm tích tuổi Miocen. Tại Bắc
Palawan các trầm tích Miocen gồm sét kết,
bột kết, xen một số vỉa cát và đá vôi. Khu
vực Tư Chính trầm tích Miocen dưới gồm
cát kết hạt nhỏ chứa glauconit, chuyển dần
lên Miocen giữa là đá vôi ám tiêu và đá
vôi dạng nền, màu trắng, trắng xám, thành
phần đá vôi gồm các mảnh sinh vật, calcit.
Mảnh sinh vật đa dạng về chủng loài như
textularia sp. Ammonia sp. Lepidocyclina
sp, san hô, tảo và tay cuộn [4]. Tuổi Miocen
được xác đònh bằng sự có mặt của bào tử
phấn hoa Fl. Levipoli. Các ám tiêu san
Hình 13.12. Cột đòa tâng tổng hợp khu vực QĐTS
432
Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam
hô rất phát triển trong Miocen và Pliocen
trong khu vực QĐTS, Nam và Đông Nam
bể Nam Côn Sơn. Điều này phản ánh trong
suốt lòch sử phát triển đòa chất QĐTS luôn
là vùng nổi cao, các bãi đá ngầm có hình
hài tương tự như hiện nay.
e. Hệ tầng Biển Đông
Tuổi Pliocen - Đệ Tứ (N
2
gồ ghề bao gồm các khối nâng, hố sụt, bò
phân cắt phức tạp.
Trong bình đồ khu vực Đông Nam Á,
vùng nghiên cứu nằm rất xa miền lục đòa
cổ bao gồm khối lục đòa Đông Dương, dải
nâng cổ Côn Sơn, Khorat - Natuna. Do vậy
nguồn cung cấp vật liệu chủ yếu mang tính
tại chỗ, chính ngay từ các khối nâng móng
kề cận. Mạng sông suối cổ lớn hầu như
không tồn tại.
b. Thời kỳ Paleogen (Eocen, Oligocen)
- Miocen sớm
Các trũng thuộc khu vực nghiên cứu
(sau này là các bể trầm tích) được hình
thành từ Paleocen đầu Eocen sau khi hình
thành bể trầm tích rộng lớn Sông Hồng và
Phú Khánh ở phía Bắc. Môi trường lục đòa
thuần tuý xẩy ra ngắn ngủi với sự thành tạo
các trầm tích vụn thô cuội kết, cát, bột kết
thuộc các tướng sườn tích, lũ tích và tướng
sông, sau đấy được nhanh chóng thay thế
bằng điều kiện biển nông (Hình 3.12), với
việc hình thành các tập sét, cát hạt mòn, đôi
nơi là đá carbonat. Các trầm tích được hình
thành trong điều kiện đền bù thiếu. Hầu
như không tồn tại chế độ đầm hồ ở khu vực
QĐTS.
c. Thời kỳ Miocen giữa - muộn
Vào thời kỳ này trừ các khối nâng còn
các trũng đã liên thông với nhau. Tại khu
sét nghèo vật chất hữu cơ (VCHC). Tổng
hàm lượng carbon hữu cơ (TOC) thay đổi
từ 0,4-1,04 %wt, chủ yếu là các giá trò <0, 5
%wt, thuộc loại nghèo. So sánh với các khu
vực lân cận tại bể Nam Côn Sơn: 0, 42-8,
1 %wt, các giá trò TOC cao là các vỉa than
hoặc sét than. Kerogen chủ yếu thuộc loại
III. Từ so sánh trên có thể dự đoán rằng
sét, bột kết tuổi Paleogen khu vực QĐTS là
các tầng có hàm lượng VCHC từ nghèo tới
trung bình, nếu có khả năng sinh sản phẩm
thì chủ yếu là sinh khí.
Các tập sét kết, bột kết có tuổi Miocen
sớm có thể dự đoán tại các trũng sâu quanh
vùng đảo nổi, bãi ngầm là các tầng sinh
nghèo. Các kết quả phân tích đòa hoá của
đá sét, bột kết cùng tuổi tại giếng khoan
PV-94-2X cho thấy, tổng hàm lượng carbon
hữu cơ thường nhỏ hơn 0, 5%wt, thuộc loại
nghèo VCHC. Chỉ số HI (Hydrocacbon
Index) hầu như nhỏ hơn 50mgHC/gTOC,
kerogen thuộc loại III, chứng tỏ khả năng
sinh nghèo nàn [4], chỉ có khả năng sinh
khí. So sánh các bể lân cận có điều kiện
đòa chất tương tự như Nam Côn Sơn: 0,16
-0,53 %wt [1] ta thấy có đặc điểm tương
tự là các tầng sét nghèo VCHC, khả năng
sinh nghèo.
Các tầng sét, bột tuổi Paleogen,
Miocen sớm có chiều dày thay đổi từ 5-15
b. Tầng chứa vụn thô có tuổi Đệ Tam
Đá vụn thô Paleogen chủ yếu là cát kết
hạt mòn, thuộc loại feldsfathic litharenit
lithic arenit (ảnh 13.1 [1]) bò biến đổi thứ
sinh từ catagen muộn tới metagen sớm.
Hiện bò chôn vùi ở chiều sâu 3- 6 km có thể
là các tầng chứa kém tới trung bình.
Đá cát kết, cát kết gắn kết yếu tuổi
Miocen: chủ yếu là cát kết arkos, hạt có độ
mài tròn, chọn lọc tốt (ảnh 13.2 [1]), được
thành tạo trong môi trường biển nông, biển
ven bờ. Có độ rỗng cao 15-25 %, độ thấm
tốt là các tầng chứa từ trung bình tới tốt.
Các tầng chứa tốt nhất trong khu vực QĐTS
là tập cát xen kẽ sét, bột tuổi Miocen muộn
tới Pliocen. Đây là đối tượng thăm dò quan
trọng nhất.
c. Tầng chứa carbonat tuổi Đệ Tam
Carbonat dạng ám tiêu: các ám tiêu san
hô, thành phần vụn san hô là xác foram,
tảo, là các tầng chứa tốt tới rất tốt, độ rỗng
lớn 4-20%, không gian rỗng chủ yếu là rỗng
hang hốc, rỗng khe nứt được hình thành do
quá trình hoà tan các khoáng vật carbonat,
hoặc do quá trình dolomit hoá (ảnh 13.3,
13.4 [1]). Các ám tiêu san hô đặc biệt phát
triển trong khu vực nghiên cứu, là các tầng
chứa rất tốt, đặc biệt là các ám tiêu tuổi
Miocen muộn, Pliocen.
Carbonat thềm: dạng vỉa mỏng, phân
là thiếu vắng các tầng chắn cho các ám tiêu
san hô, do vậy loại bẫy ám tiêu này rất ít có
khả năng triển vọng về mặt dầu khí.
5.4. Các dạng bẫy tiềm năng
Từ các trình bày ở trên có thể thấy rằng
dạng bẫy tiềm năng để tìm kiếm thăm dò
dầu khí tốt nhất tại khu vực QĐTS là các
nếp lồi với tầng chứa là cát kết, tầng chắn
là sét có tuổi từ Miocen tới Pliocen, là cấu
tạo nếp lồi cuốn (rollover) và cấu tạo phát
triển kế thừa từ các khối nhô cổ. Mỏ dầu
Champion và Ampa của Brunei là những ví
dụ gần gũi nhất.
Hai đối tượng móng trước Đệ Tam và
các ám tiêu san hô tại QĐTS không phải là
các bẫy tiềm năng.
Đá carbonat dạng thềm là đối tượng có
tiềm năng thấp.
6. Tiềm năng dầu khí
6.1. Kết quả khoan thăm dò
Như đã trình bày ở các phần trước, tại
khu vực bãi Cỏ Rong, các nhà thầu nước
ngoài đã khoan tổng cộng 7 giếng khoan
thăm dò, trong đó giếng khoan Sampaguita-
1, sâu 4.124m, khoan năm 1976 (Salen) đã
có phát hiện khí trong cát kết tuổi Paleogen
tại chiều sâu 3.150m-3.160m, còn lại các
khoan khác đều khô, đặc biệt các giếng
khoan vào đối tượng carbonat.
6.2 Các bể trầm tích và phân vùng triển
tôi cho rằng vùng có tiềm năng nhất phải là
các trũng ở phía Nam QĐTS sau đấy là các
trũng nằm ở phía Bắc đảo Trường Sa.
7. Kết luận
Nhóm bể Trường Sa là bể căng giãn rìa
thụ động được hình thành từ đầu Eocen (?)
chòu ảnh hưởng của giãn đáy Biển Đông.
Đặc trưng bởi các trầm tích có tướng lục
đòa, ven bờ (Eocen - Oligocen) và các trầm
tích biển nông, sâu từ Miocen đến nay. Mặc
dù hệ thống dầu khí còn nhiều vấn đề chưa
rõ, đặc biệt là tầng sinh, nhưng với lớp phủ
trầm tích Đệ Tam dày, có nơi tới 6 km, hy
vọng tồn tại các tầng sinh trong Oligocen và
Miocen sớm tạo nguồn hydrocarbon cung
cấp cho các bẫy trong các play móng phong
hóa nứt nẻ, cát kết Oligocen - Miocen và
carbonat Miocen. Bởi vậy để có đònh hướng
công tác thăm dò dầu khí ở đây trong thời
gian tới cần phải đẩy mạnh công tác khảo
sát, nghiên cứu, đặc biệt là khoan thăm dò
để có cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lòch
sử phát triển đòa chất, cơ chế tạo bể và hệ
thống dầu khí của nhóm bể Trường Sa.
437
Chương 13. Nhóm bể trầm tích Trường Sa và tài nguyên dầu khí
1. Hoàng Đình Tiến, Nguyễn Thúy
Quỳnh, 2003. Đặc điểm đòa hóa của
các bẻ trầm tích thềm lục đòa Việt Nam.
Tạp chí Dầu khí số 7/2003. Hà Nội, Việt
đòa chất và tiềm năng dầu khí vùng
QĐTS. Hà Nội, 1993.
9. Lý Trường Phương, 1996. Tướng, môi
trường thành tạo và tiềm năng dầu
khí đá trầm tích tuổi Oligocen bể Cửu
Long. Tạp chí Dầu khí số 2/1996. Hà
Nội, Việt Nam.
10. Lý Trường Phương, 1998. Đặc điểm
đòa chất và tiềm năng dầu khí vùng
phía nam bể NCS. Tạp chí Dầu khí số
2/1998.
11. Mai Thanh Tân và nnk, 2003. Biển
đông III. Đòa chất- Đòa vật lý biển.
NXB Đại học Quốc Gia. Hà Nội
12. Hoàng Văn Vượng, Đỗ Chiến Thắng,
2003. Về khả năng minh giải tổng hợp
tài liệu trọng lực, từ nghiên cứu móng
trước Kainozoi TLĐ Việt Nam. Tạp chí
Dầu khí số 3/2003.
13. Nguyễn Như Trung, Nguyễn Thò Thu
Hương, 2003. Cấu trúc vỏ trái đất khu
vực biển Đông theo số liệu dò thường
trọng lực vệ tich và đòa chấn sâu. Hội
nghò KHCN Viện Dầu khí 25 năm xây
dựng & trưởng thành. Hà Nội, Việt
Nam.
Tài liệu tham khảo