KÝ HIỆU VIẾT TẮT
PVFC: Công ty tài chính dầu khí
NHTM: Ngân hàng thương mại
TSCĐ: Tài sản cố định
TSLĐ: Tài sản lưu động
VLĐR: Vốn lưu động ròng
NQR: Ngân quỹ ròng
CTTC: Công ty tài chính
CIC: Trung tâm thông tin ngân hàng
NHNN: Ngân hàng nhà nước
TCTD: Tổ chức tín dụng
UT: Uỷ thác
TCKT: Tổ chức kinh tế
CN: Cá nhân
PS: Báo cáo triển khai dự án
1
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1: Bảng nguồn vốn và sử dụng vốn PVFC
Bảng 2: Tổng hợp các chỉ tiêu kinh doanh Giai đoạn 2003 - 2005
Bảng 3: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2006
Bảng 4: Quy mô tài sản có năm 2006
Bảng 5: Quy mô nguồn vốn năm 2006
Phụ lục 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PVFC
Biểu đồ 2.1: Tổng giá trị thu xếp vốn PVFC đến năm 2006
Biểu đồ 2.2: Tín dụng với các đơn vị trong ngành của PVFC
Biểu đồ 2.3: Cho vay đối với các TCTD của PCFC
Biểu đồ 2.4: Cho vay các tổ chức kinh tế và cá nhân của PVFC
Biểu đồ 2.5: Thu từ lãi cho vay của PVFC
2
LỜI NÓI ĐẦU
Thế giới đang từng ngày thay đổi một cách lớn lao về kinh tế, chính trị,
khách hàng tại Công ty Tài chính Dầu khí Việt Nam.
Em Xin chân thành cảm on thầy giáo và các anh chị tại PVFC đã giúp đỡ
em hoàn thành đề tài này.
4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm công ty tài chính
Từ thế kỷ XV đã có những ngân hàng đầu tiên được thành lập. Có thể thấy
rất rõ lợi ích mà hệ thống các ngân hàng mang lại. Tuy nhiên ngân hàng không
phải chiếm vị trí duy nhất trong hệ thống các tổ chức tài chính trung gian mà
còn có rất nhiều các loại hình tổ chức khác: Các công ty tài chính, các công ty
bảo hiểm, công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán… Các hoạt động
dịch vụ tài chính của các công ty tài chính mới chỉ xuất hiện từ những năm 60
của thế kỷ XX.
Có nhiều lý do cho sự xuất hiện của các công ty tài chính:
- Sự hạn chế của luật ngân hàng, nhiều dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân
hàng không được phép mở rộng sang các địa hạt khác. Cần có những tổ chức
thích hợp đáp ứng nhu cầu đó.
- Hệ thống ngân hàng lúc đó không thể đáp ứng cho nhu cầu to lớn và đa
dạng vốn đầu tư.
Công ty tài chính làm một số nghiệp vụ như ngân hàng, nhưng không phải
là ngân hàng thương mại, nên hầu hết các nước đều xếp các công ty tài chính
vào loại hình các tổ c hức tín dụng phi ngân hàng.
1.1.1.1. Khái niệm về công ty tài chính
Theo Điều 2 - Nghị định của chính phủ về tổ chức và hoạt động của công
ty tài chính. Công ty tài chính được hiểu là: "LOại hình tổ chức tín dụng phi
ngân hàng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng với chức năng chủ yếu là
sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung
ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính - tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác liên
pháp chỉ cho phép các công ty tài chính được huy động vốn trung và dài hạn,
không được phép huy động vốn ngắn hạn dưới 1 năm… Đó chính là hạn chế lớn
6
nhất ngăn cản sự lớn mạnh của các công ty tài chính.
Bên cạnh đó hành lang pháp lý cũng tạo điều kiện mở cho các công ty tài
chính phát triển các dịch vụ không bị hạn chế trong quy định về mở chi nhánh,
quy định cách thức huy động vốn… nhằm đáp ứng các nhu cầu dịch vụ tài chính
cho công chúng, mà các NHTM không đáp ứng được, hoặc cạnh tranh với các
ngân hàng thương mại ở các lĩnh vực cần chuyên sâu: đầu tư, thuê mua, trả góp,
bán hàng hóa…
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của công ty tài chính
Một là: công ty tài chính được huy động vốn từ các nguồn:
- Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước;
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có
giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy
định của pháp luật hiện hành;
- Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong, ngoài nước và các tổ chức tài
chính quốc tế;
- Tiếp nhận vốn uỷ thác của Chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và
ngoài nước.
Hai là: Công ty tài chính được cho vay dưới các hình thức:
- Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước.
- Cho vay theo uỷ thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước theo quy quy định hiện hành của Luật Tổ chức tín dụng và hợp đồng uỷ
thác.
- Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp.
Ba là: Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có
giá khác.
- Hoạt động ngoại hối;
- Hoạt động bao thanh toán;
8
- Các hoạt động khác.
1.1.3. Vai trò hoạt động phân tích tài chính khách hàng của Công ty
Tài chính
Phân tích tài chính là một nguồn tài liệu quan trọng để các doanh nghiệp
đưa ra các quyết định trong từng thời kỳ hoạt động của bản thân công ty. Do đó
mức độ chính xác của các thông tin từ công tác phân tích tài chính đưa ra có ý
nghĩa quyết định đối với hiệu quả hoạt động của công ty. Phân tích tài chính
không chỉ quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp mà còn cho các nhà đầu tư,
các chủ nợ có cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp họ
đang quan tâm. Từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn nhất nhằm đạt mục tiêu
hiệu quả trong kinh doanh.
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm phương pháp và công cụ
cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong
quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực
của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ, chất lượng và hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính,
quyết định quản lý phù hợp.
Trong quá trình kinh doanh trên thị trường như hiện nay, các doanh nghiệp
đều có quyền bình đẳng như nhau, có quyền lựa chọn ngành nghề mà mình kinh
doanh và trong sự lựa chọn tự do đó bản thân mỗi doanh nghiệp sẽ phải tiếp xúc
với nhiều đối tượng khác nhau: nhà đầu tư, người cho vay, nhà quản lý, người
lao động, ngân hàng… Mỗi đối tượng sẽ quan tâm đến tình hình tài chính của
doanh nghiệp ở những giác độ khác nhau. Đối với công ty tài chính hoạt động
phân tích tài chính đóng vai trò quyết định về sự tồn tại và hiệu quả trong công
việc của công ty. Công ty tài chính:
Với tư cách là một nhà đầu tư:
Mối quan tâm mà họ hướng đến chính là sự rủi ro, mức sinh lãi, thời gian
CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.2.1. Quy trình phân tích tài chính khách hàng của công ty tài chính.
10
1.2.1.1. Thu thập thông tin
Trong phân tích tài chính các cán bộ thẩm định phải thu thập sử dụng mọi
nguồn thông tin phản ánh thực trạng hoạt động tài chính của khách hàng những
nguồn thông tin đó sẽ giúp cho người phân tích đưa ra những kết luận, nhận xét
chính xác. Công ty tài chính có thể thu thập thông tin từ các nguồn sau:
- Hồ sơ khách hàng: Thông tin về tình hình tài chính của khách hàng được
cung cấp thông tin qua báo cáo tài chính: bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu
chuyển tiền tệ, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài
chính, kế hoạch về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp.
- Phỏng vấn trực tiếp khách hàng: Các thông tin này góp phần bổ xung
thêm, xác minh lại tính chính xác, trung thực của các thông tin thu được từ
nguồn khác.
- Từ các ngân hàng hay các tổ chức tín dụng có quan hệ tín dụng, thanh
toán với khách hàng. Xem xét mức độ tín nhiệm của ngân hàng đối với khách
hàng xem tổng dư nợ của khách hàng tại các tổ chức này, có bị nợ quá hạn hay
không? Và doanh nghiệp dã có cách giải quyết như thế nào đối với những khoản
nợ quá hạn này.
- Thông tin lưu trữ trong công ty tài chính: là những thông tin của doanh
nghiệp đã có quan hệ kinh tế đối với công ty.
- Thông tin từ các chủ nợ, các con nợ có mối quan hệ kinh tế đối với khách
hàng đánh giá mối quan hệ về thanh toán giữa khách hàng với các chủ nợ.
- Người phân tích tài chính có thể đến trực tiếp công ty cần phân tích để
xem xét tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kiểm tra tính trung
thực, chính xác của những thông tin được đưa ra trong các bản báo cáo tài
chính…
- Các nguồn thông tin khác: Trung tâm thông tin tín dụng của ngân hàng
nhà nước CIC, thông tin từ các đối thủ cạnh tranh, từ các cơ quan thuế, kiểm
các khoản tín dụng hay sự suy giảm chất lượng tín dụng, dự báo nhu cầu tài
chính của doanh nghiệp trong các kỳ tiếp theo. Xếp hạng các khoản vay xem là
12
tốt, bình thường, hay là có vấn đề đưa ra quyết định có nên cung cấp tiếp vốn
hay không cho doanh nghiệp. Nếu có nợ quá hạn hay nợ có vấn đề cần tìm hiểu
rõ nguyên nhân và có biện pháp xử lý kịp thời.
1.2.1.3. Chấm điểm và xếp loại doanh nghiệp
Công ty tài chính cũng giống như các NHTM, cùng với hoạt động phân
tích thì chấm điểm khách hàng cũng rất quan trọng. Công việc này sẽ hỗ trợ đắc
lực khi công ty tài chính đưa ra quyết định kinh tế. Bởi đây là những chỉ tiêu
được chuẩn hóa cho phù hợp với bản thân công ty tài chính cũng như môi
trường tài chính tại Việt Nam.
1.2.2. Nội dung phân tích tài chính khách hàng
Hoạt động phân tích tín dụng khi tiến hành cần chia làm hai lĩnh vực: phân
tích tài chính và phân tích phi tài chính đối với khách hàng. Với phân tích tài
chính là phân tích những vấn đề ít hoặc không liên quan đến vấn đề tài chính
của khách hàng một cách trực tiếp: uy tín của doanh nghiệp, tính cách của doanh
nghiệp. Phân tích tài chính là phân tích thực trạng tài chính và dự báo tài chính
doanh nghiệp trong tương lai nhằm tiên lượng những tình huống xấu có thể xảy
ra làm ảnh hưởng khoản vay.
Khi phân tích tài chính khách hàng các công ty tài chính quan tâm lớn nhất
đến khả năng trả nợ của khách hàng và vì thế công ty thường chú ý đến các
khoản tiền, các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền rồi đem so sánh với
khoản nợ ngắn hạn để biết khả năng chi trả của doanh nghiệp và khả năng sinh
lời từ hoạt động kinh doanh đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi của khoản vay, đồng
thời chú ý đến cơ cấu tài chính an toàn trong doanh nghiệp để phòng ngừa rủi ro.
Nội dung phân tích tài chính đối với doanh nghiệp bao gồm:
- Cân bằng tài chính
- Phân tích các hệ số tài chính
+ Phân tích tình hình và khả năng thanh toán ngắn hạn
với nợ ngắn hạn, hoặc VLĐR được tính là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài
hạn với TSCĐ và đầu tư dài hạn.
14
Còn nhu cầu VLĐR bằng (=) hàng tồn kho cộng (+) nợ phải thu của khách
hàng trừ (-) nợ phải trả ngắn hạn (không kể vay ngắn hạn).
NQR là phần chênh lệch giữa VLĐR và nhu cầu VLĐR.
- Nếu VLĐR âm liên tục qua các năm thì doanh nghiệp sẽ mất cân bằng tài
chính, tình hình và khả năng thanh toán sẽ gặp khó khăn; tuy nhiên, để có đánh
giá đầy đủ hơn cần thông qua chỉ tiêu NQR.
+ Nếu NQR âm, có nghĩa là doanh nghiệp phải huy động các khoản vay
ngắn hạn để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu VLĐR và tài trợ cho TSCĐ; cân
bằng tài chính kém an toàn và bất lợi cho doanh nghiệp.
+ Nếu NQR dương thể hiện một cân bằng tài chính rất an toàn vì doanh
nghiệp không phải vay để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu VLĐR và tài trợ cho
TSCĐ; cân bằng tài chính kém an toàn và bất lợi cho doanh nghiệp.
+ Nếu NQR dương thể hiện một cân bằng tài chính rất an toàn vì doanh
nghiệp không phải vay để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu VLĐR.
1.2.2.2. Các nhóm chỉ tiêu sử dụng khi phân tích tài chính
a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Doanh nghiệp được nhìn nhận làm ăn có hiệu quả không chỉ thể hiện thông
qua mức lợi nhuận cao mà còn thể hiện ở khả năng thanh toán. Nhìn vào một
doanh nghiệp làm ăn có lãi nhưng việc có lãi đó chủ yếu là mua bán chịu và đi
vay nợ thì đó không thể coi là một doanh nghiệp có tình hình tài chính vững
mạnh. Đối với những nhà đầu tư và những nhà tài trợ, những chỉ tiêu phản ánh
khả năng thanh toán được coi là vô cùng quan trọng, nó quyết định đến khả năng
được tài trợ và được các nhà đầu tư chú ý đến. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các
chỉ tiêu chủ yếu sau:
Khả năng thanh toán hiện hành=
Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn
hạn của doanh nghiệp nó cho biết khả năng mà các tài sản lưu động có thể
Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với
16
các chủ nợ. Thông thường, các chủ nợ thích tỷ số này vừa phải vì tỷ số này càng
thấp thì khoản nợ càng cao được bảo đảm trong trường hợp doanh nghiệp bị phá
sản. Trong khi đó, chủ sở hữu doanh nghiệp lại muốn tỷ số này cao vì họ muốn
nắm quyền điều hành và kiểm soát, muốn lợi nhuận gia tăng nhanh. Tỷ số này
quá cao doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
=
Hệ số này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo cho khả năng trả lãi hàng
năm như thế nào. Đây cũng là chỉ tiêu mà doanh nghiệp quan tâm phân tích vì
nó thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Hệ số này càng cao thì rủi ro
mất khả năng chi trả lãi tiền vay càng thấp và ngược lại. Các chủ nợ thường
chấp nhận mức lớn hơn hoặc bằng 2.
c. Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Các chỉ tiêu về khả năng hoạt động đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn nói
chung, chú trọng đến từng bộ phận cấu thành nên nguồn vốn của doanh nghiệp.
Vòng quay hàng tồn =
Chỉ tiêu này đo lường khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Bình
quân một đơn vị sản phẩm hàng hóa dự trữ tham gia vào quá trình kinh doanh
thì thu được bao nhiêu đồng giá vốn. Hệ số này càng cao thể hiện việc thu tiền
bán hàng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn, hoạt động kinh doanh càng
tốt và ngược lại. Khi phân tích đánh giá cần so sánh với các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh cùng ngành nghề để so sánh. Nếu vòng quay hàng tồn kho của
khách hàng thấp, cán bộ thẩm định cần tìm hiểu kỹ xem có hàng tồn kho mất
phẩm chất, kém chất lượng hay mẫu mã không phù hợp với thị hiếu của người
tiêu dùng hay không.
Vòng quay vốn lưu động =
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh vốn lưu động quay được bao
nhiêu vòng. Số vòng quay càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao và
ngược lại.
18
vốn chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng lời nhuận sau thuế.
Tỷ lệ càng lớn biểu hiện xu hướng tích cực, doanh nghiệp có thể đi tìm vốn
mới trên thị trường để tài trợ cho tăng trưởng của mình. Ngược lại nếu nhỏ và
dưới mức của tỷ lệ thị trường thì doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc thu hút
vốn. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh lời vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng thuận
lợi bở lẽ có thể do vốn chủ sở hữu nhỏ, điều này thể hiện mức độ mạo hiểm càng
lớn.
1.2.2.3. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Người ta thường xem xét sự thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử
dụng vốn của một doanh nghiệp trong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời
điểm lập bảng cân đối kế toán.
Một trong những công cụ mà các nhà tài chính sử dụng đó là bảng kê
nguồn vốn và sử dụng vốn. Nó giúp nhà quản lý xác định rõ các nguồn cung ứng
vốn và việc sử dụng các nguồn cung ứng đó.
Để lập được bảng này trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên
bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ. Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở 2
cột: sử dụng vốn và nguồn vốn theo nguyên tắc:
- Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hoặc các khoản mục bên nguồn vốn
giảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng vốn.
- Nếu các khoản mục bên tài sản giảm hoặc các khoản mục bên nguồn vốn
tăng thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn.
Bảng 1: Bảng nguồn vốn và sử dụng vốn
Sử dụng vốn Nguồn vốn
Chỉ tiêu Số tiền % Chỉ tiêu Số tiền %
Tăng tài sản
Giảm nguồn vốn
Giảm tài sản
Tăng nguồn vốn
Tổng vốn 100 Tổng nguồn vốn
lượng tuyệt đối và số tương đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán
liên tiếp.
20
Sử dụng phương pháp so sánh nhăm mục đích:
- Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch mà doanh nghiệp đã đặt
ra bằng cách so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kỳ thực tế với trị số của chỉ tiêu kỳ
kế hoạch.
- Đánh giá tốc độ, xu hướng phát triển của hiện tượng và kết quả kinh tế
thông qua việc so sánh giữa kết quả kỳ này với kết quả kỳ trước.
- Đánh giá mức độ tiên tiến hay lạc hậu của đơn vị bằng cách so sánh giữa
kết quả của bộ phận hay của đơn vị thành viên với kết quả trung bình của tổng
thể hoặc so sánh giữa kết quả của đơn vị này với kết quả của đơn vị khác có
cùng quy mô hoạt động, trong cùng một lĩnh vực hoạt động.
1.2.3.2. Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài
chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ lệ cố nhiên là sự biến đổi
các đại lượng tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định
được các ngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh
nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành
các nhóm đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt
động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ
lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh,
nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời.
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của
hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích,
người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân
tích tài chính của mình.
1.2.4. Chất lượng phân tích tài chính khách hàng của công ty tài chính
1.2.4.1. Khái niệm về chất lượng phân tích tài chính
tích phải có được nhiều nguồn thông tin khác (thông tin mang tính nhiều chiều)
để có được kết quả phân tích tốt nhất, chính xác nhất. Thông tin nội bộ doanh
22
nghiệp, thông tin từ bên ngoài…
Thời gian phân tích tài chính
Hoạt động phân tích có thể diễn ra trong một thời gian xác định, tuy nhiên
phải đảm bảo cho công ty tài chính đưa ra kết luận kịp thời, nhằm tiết kiệm thời
gian và nâng cao hiệu quả hoạt động cho công ty tài chính. Trong kinh doanh
thời gian là vàng bạc, nếu chậm trễ trong phân tích tài chính khách hàng có thể
công ty sẽ mất thêm một khoản chi phí hoặc khách hàng sẽ mất đi cơ hội kinh
doanh…
Chi phí phân tích tài chính
Chi phí hoạt động phân tích phải thấp nhất có thể tuy nhiên vẫn phải đảm
bảo chi trả đầy đủ cho các công việc trong quá trình phân tích. Muốn làm được
điều này, công ty cần phải có được nguồn thông tin "giá rẻ" tức là công ty phải
biết tìm kiếm, khai thác để giảm chi phí cho công tác phân tích tài chính. Chi phí
thấp sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động này, là tiền
đề để cải thiện tích cực hiệu quả hoạt động của công ty.
Tính chính xác của kết quả phân tích
Độ chính xác của các chỉ tiêu tính được ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng
phân tích tài chính như: khả năng thanh toán, cơ cấu tài chính, khả năng sinh
lời… Cùng với đó là các nhân tố tác động như: quan điểm của nhà quản lý về
phân tích tài chính doanh nghiệp, công tác tổ chức phân tích tài chính, người
thực hiện phân tích tài chính…. Ở đây độ chính xác được quan tâm hàng đầu, bởi vì
phân tích tài chính dựa trên các con số tính toán được và chọn ra chỉ tiêu nào cần thiết
phục vụ cho mục tiêu phân tích, dựa trên các con số này mà mà các nhà phân tích đưa ra
những quyết định tài chính và những giải pháp. Do vậy chỉ cần một sự nhầm lẫn nhỏ
cũng có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong các kết luận tài chính.
Thông tin được cung cấp đầy đủ
Khi nhà phân tích có được lượng thông tin đầy đủ thì sẽ dễ dàng hơn rất
trẻ tuổi thường có những kiến thức mới nhưng họ hay nóng vội, thiếu kinh
nghiệm thực tế. Tất cả những yếu tố kể trên đều tác động rất lớn đến chất lượng
24
khi phân tích tài chính doanh nghiệp.
Công tác tổ chức hoạt động phân tích tài chính
Các công việc như lên kế hoạch, thực hiện, kiểm tra giám sát và đánh giá
kết quả luôn là những hoạt động cần thực hiện khi phân tích tài chính. Nếu như
ở từng khâu yếu kém tất yếu sẽ kéo theo chất lượng phân tích tài chính giảm
xuống. Vì vậy cần có sự phối hợp ăn ý giữa các phòng ban trong công ty, mỗi
phòng ban với nhiệm vụ khác nhau sẽ phụ trợ cho nhau tát cả đều phải hướng
đến chất lượng phân tích tài chính.
Lựa chọn phương pháp
Trên cơ sở nguồn thông tin có được các cán bộ phân tích sẽ phải làm gì?
làm như thế nào? áp dụng phương pháp phân tích tài chính nào để đánh giá thực
trạng tài chính của doanh nghiệp là một điều rất quan trọng.
Trong điều kiện hiện nay, phải kết hợp các phương pháp phân tích tài chính
tùy theo từng mục tiêu cụ t hể của nhà quản lý quan tâm thì việc phân tích mới
mang lại hiệu quả như ý muốn của doanh nghiệp.
1.2.5.2. Nhân tố khách quan
Doanh nghiệp đang được phân tích
Các số liệu và báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong các năm trước và năm tài chính là cơ sở để cán bộ thẩm định phân tích
trước khi quyết định có cho vay không. Công tác phân tích tài chính khách hàng
sẽ gặp khó khăn trong trường hợp doanh nghiệp che dấu, không thực sự hợp tác,
cố tình gian luận bằng việc cung cấp báo cáo tài chính phản ánh không chính
xác những gì xảy ra đối với doanh nghiệp, gây ra tình trạng cán bộ tín dụng
đánh giá sai tình hình tài chính của khách hàng và kết quả là Công ty Tài Chính
sẽ gặp rủi ro nếu cấp tín dụng cho những doanh nghiệp đó.
Chất lượng thông tin
Trong phân tích tài chính yếu tố thông tin là rất quan trọng, chất lượng