Nâng cao chất lượng phân tích tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Pdf 50

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

LỜI MỞ ĐẦU
Trong một vài năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang dần từng bước hòa
nhịp với sự phát triển kinh tế toàn cầu. Điều này đã trở thành tiền đề quan trọng
cho việc phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Với vai
trò là trung gian tài chính, các ngân hàng thương mại đang sử dụng một cách linh
hoạt nghiệp vụ tín dụng của mình để phục vụ cho sự tăng trưởng của đất nước, đáp
ứng các nhu cầu về vốn đầu tư mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp… Tuy nhiên,
tín dụng luôn được đánh giá là một trong các loại nghiệp vụ ngân hàng phức tạp và
có độ rủi ro cao. Chính vì vậy, để đảm bảo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế
một cách tốt nhất, các ngân hàng thương mại ngày càng đầu tư nghiên cứu để hoàn
thiện các quy trình quản trị rủi ro tín dụng của mình.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là một trong những ngân hàng lớn
và uy tín nhất tại Việt Nam. Cùng trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế,
Ngân hàng đang trong quá trình chuyển đổi mãnh liệt nhằm hướng tới xây dựng mô
hình một ngân hàng thương mại đạt tiêu chuẩn quốc tế, hiện đại và vững mạnh.
Muốn vậy, yêu cầu kiểm soát tốt rủi ro phải được đặt lên hàng đầu, trong đó, tất
nhiên bao gồm loại rủi ro tín dụng. Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định
trong việc quản trị rủi ro nói chung và quản lý rủi ro tín dụng nói riêng nhưng có
thể thấy qua các năm, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của ngân hàng vẫn ở mức
3%. Tỷ lệ này không phải là một con số quá lớn so với mức khống chế dư nợ xấu tối
đa 5% của NHNN nhưng có thể thấy chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam vẫn còn ở mức cao so với một số ngân hàng TMCP khác
trong ngành. Do đó, để nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam, công tác phân tích, thẩm định tín dụng cần phải được chú trọng nghiên
cứu và hoàn thiện hơn nữa, đặc biệt là về mặt quy trình cũng như về mặt cán bộ
thẩm định.
Nhận thức được thực tế nêu trên, trong quá trình thực tập của mình, em đã

Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

2


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

CBTD: Cán bộ tín dụng
GHTD: Giới hạn tín dụng
HĐTD: Hội đồng tín dụng
HĐQT: Hội đồng quản trị
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHNT, VCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
NHTM: Ngân hàng thương mại
PTGĐ: Phó tổng giám đốc
TCTD: Tổ chức tín dụng
TMCP: Thương mại cổ phần
TGĐ: Tổng giám đốc

Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

3


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



Bảng 2.8: Bảng các chỉ số phân tích

61

Bảng 2.9: GHTD của CTCP P tại các tổ chức tín dụng

62

Bảng 2.10: Bảng chấm điểm tín dụng theo chuẩn của VCB
Bảng 2.11: Kế hoạch sản xuất kinh doanh và nhu cầu tín dụng của CTCP P
năm 2009
Biểu đồ tỷ lệ chi phí quản lý/ tổng doanh thu
Sơ đồ mô hình tổ chức tại Hội sở chính Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam
Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam
Sơ đồ quy trình phân tích tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam.

63
64

Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

37
38
39
48


là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.
Trong khi nhiều người tin rằng các ngân hàng chỉ đóng một vai trò rất nhỏ
trong nền kinh tế - nhận tiền gửi và cho vay – thì trên thực tế ngân hàng hiện đã phải
thực hiện nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu
cầu của xã hội. Các ngân hàng ngày nay có những vai trò cơ bản sau:
- Vai trò trung gian tài chính: chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ
gia đình, thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần
khác để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác.
- Vai trò thanh toán: ban đầu các ngân hàng phát hành giấy nhận nợ, dựa
trên số lượng tiền kim loại ngân hàng đang nắm giữ, với những ưu điểm nhất định
đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi thay cho tiền kim loại. Trong điều kiện
thanh toán qua ngân hàng phát triển, khách hàng có số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán có thể sử dụng tài khoản này để thực hiện thanh toán cho việc mua hàng

Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

5


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

hóa và dịch vụ (như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh
toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền).
- Vai trò người bảo lãnh: cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng
mất khả năng thanh toán (phát hành thư tín dụng).
- Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ,
phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán.
- Vai trò thực hiện chính sách: với vai trò này, các ngân hàng đóng vai

triển của hoạt động sản xuất, các ngân hàng bắt đầu mở rộng sang cho vay trực tiếp
đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ mở rộng sản xuất kinh
doanh hoặc xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất.
Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

6


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

Cho vay tài trợ dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn,
các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng
nhà máy mới đặc biệt là trong ngành công nghệ cao. Vì rủi ro trong loại hình tín
dụng này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện thông qua một công ty
đầu tư, là thành viên của công ty sở hữu nh, cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư
khác để chia sẻ rủi ro.
Cho vay tiêu dùng: Trong vài năm trở lại đây, cho vay tiêu dùng đang được
các ngân hàng phát triển mạnh. Lúc đầu, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho
vay đối với các cá nhân và hộ gia đình bởi các khoản cho vay tiêu dùng thường có
quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do vậy, chúng có mức sinh lời
thấp. Tuy nhiên sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã
buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung
thành tiềm năng. Ngày nay, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại
hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất. Trong khi tại các nước phát triển, tốc
độ tăng trưởng tín dụng tiêu dùng gần đây đã chậm lại do sự cạnh tranh ngày càng
trở nên gay gắt kèm theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đã chậm lại thì tại các
nước đang phát triển, người tiêu dùng vẫn tiếp tục là thị trường tiềm năng và tạo ra
một trong những nguồn thu quan trọng nhất của ngân hàng.

quản, vừa thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh toán qua ngân
hàng đã mở đầu cho xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt, điều này cho phép
người gửi tiền không cần phải trực tiếp đến ngân hàng mà chỉ cần viết giấy chi trả
cho khách (còn gọi là séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền.
Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác,
tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập
cho các doanh nhân. Điều này đã khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào ngân
hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Như vậy, một dịch vụ mới quan trọng nhất
được phát triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit), cho phép người
gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài
khoản tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong
công nghiệp ngân hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thể
thức thanh toán được phát triển như Ủy nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng
điện, thẻ…
1.1.2.5.

Dịch vụ thuê mua thiết bị trung và dài hạn (leasing):

Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều
hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê (thay vì bán) các thiết bị. Cuối hợp đồng
thuê, khách hàng có thể mua (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua). Rất nhiều ngân
hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc
cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho
khách hàng thuê. Hợp đồng cho thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải
trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê. Do vậy, cho thuê của ngân hàng cũng có
nhiều điểm giống như cho vay, và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
1.2.

Hoạt động tín dụng ngân hàng


và dài hạn.
- Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp
với mọi đối tượng trong kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.
1.2.2.

Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng :

- Hoạt động tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho NHTM.
Tiền lãi vay là nguồn bù đắp cho chi phí huy động vốn, tạo ra nguồn thu nhập lãi
ròng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng.
- Vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra liên tục, tạo điều kiện
mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Kích thích các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, tránh lãng phí vốn
đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Giúp doanh nghiệp xây dựng được cơ cấu vốn tối ưu với chi phí vốn trung
bình thấp nhất.
- Thông qua hoạt động tín dụng của NHTM, Chính phủ điều tiết cung – cầu
tiền trong nền kinh tế thông qua các chính sách tiền tệ. Như vậy, có thể thấy hoạt
động tín dụng ngân hàng góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cả.
- Bằng việc cung cấp vốn cho không chỉ cho các tổ chức kinh tế mà còn phục
vụ cho các tầng lớp dân cư, tín dụng ngân hàng góp phần ổn định đời sống, tạo công
ăn việc làm và ổn định xã hội.

Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

9


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo tương ứng cho khoản vay.
1.2.4.

Bảo đảm tín dụng:

 Bảo đảm tín dụng hay còn được gọi là bảo đảm tiền vay là việc TCTD áp dụng
các biện pháp nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu
hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.
 Để đảm bảo tiền vay thực sự có hiệu quả đòi hỏi:
- Giá trị bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm.
- Tài sản dùng làm bảo đảm nợ vay phải tạo ra được nguồn thu (phải có giá
trị và có thị trường tiêu thụ).
Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

10


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

- Có đầy đủ cơ sở pháp lý để bên cho vay có quyền xử lý tài sản dùng làm
bảo đảm tiền vay.
 Các hình thức bảo đảm tín dụng:
- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp: là việc bên vay vốn thế chấp tài
sản của mình cho bên cho vay để bảo đảm khả năng hoàn trả vốn vay. Thế chấp tài
sản là việc bên đi vay sử dụng bất động sản thuộc sở hữu của mình hoặc giá trị
quyền sử dụng đất hợp pháp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay.
- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản cầm cố: là việc bên đi vay cầm cố tài sản
của mình cho bên cho vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Cầm cố tài sản là


11


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

Tín dụng ngắn hạn (từ 12 tháng trở xuống): Tài sản lưu động thường có vòng

quay trên 1 vòng trong một năm. Dựa trên đặc tính này, ngân hàng cấp tín dụng
ngắn hạn với thời hạn từ 1 năm trở xuống.
- Tín dụng trung hạn (từ trên 1 năm đến 5 năm): Các tài sản cố định như
phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị chống hao mòn có
yêu cầu được tài trợ từ trên 1 năm tới 5 năm.
- Tín dụng dài hạn (trên 5 năm) Các công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu,
đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu có yêu
cầu tài trợ trên 5 năm.
1.2.5.2.

Phân loại theo hình thức:

Theo cách phân loại này, tín dụng bao gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và
cho thuê.
- Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở
hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ). Trong hoạt động chiết khấu
thương phiếu, ngân hàng đứng làm vai trò trung gian, tuy ứng trước tiền cho người
bán nhưng thực chất là thay thế người mua trả tiền trước cho người bán thương

được áp dụng đối với các khách hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường
xuyên có lãi, có tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa,
hoặc các món vay chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ so với vốn của người vay.
Đối với tín dụng có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản, ngân hàng và
khách hàng phải ký hợp đồng đảm bảo, trong đó người nhận tín dụng cam kết về
việc dùng tài sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của
người thứ ba để trả nợ cho ngân hàng. Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình
trạng của tài sản đảm bảo (quyền sở hữu, giá trị, tính thị trường, khả năng bán, khả
năng tài chính của người thứ ba…) có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc có khả
năng bảo quản tài sản đảm bảo.
1.2.5.4.

Phân loại theo rủi ro tín dụng:

Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các
căn cứ để chia loại rủi ro. Một số ngân hàng lớn chia tới 10 thang bậc rủi ro theo các
dấu hiệu rủi ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản, bao gồm cả nội và ngoại
bảng, cho vay, bảo lãnh, chứng khoán. Cách phân loại này giúp ngân hàng thường
xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng ổn thất
kịp thời. Theo cách phân loại nợ hiện hành của nhnn trong quyết định số
493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005, các khoản nợ được chia làm 5 nhóm gồm:
 Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ
cả gốc và lãi đúng thời hạn.
 Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): bao gồm
- Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ
cấu lại.
 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày.

Quy trình tín dụng căn bản:

Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận
nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định cho vay, giải
ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng. Hầu hết các ngân hàng đều tự thiết kế cho mình
quy trình tín dụng riêng, bao gồm nhiều bước đi khác nhau với kết quả cụ thể của
từng bước đi, tuy nhiên bất cứ một quy trình tín dụng nào cũng bao gồm các bước
căn bản sau:

Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

14


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

Bảng 1.1: Quy trình tín dụng căn bản.
Bước Các
giai
đoạn của
quy trình
1.
Lập hồ sơ
đề
nghị
cấp
tín
dụng


5.

Nhiệm vụ của
ngân hàng ở mỗi
giai đoạn
Tiếp xúc, phổ
biến và hướng
dẫn khách hàng
lập hồ sơ vay vốn
Tổ chức thẩm
định về các mặt
tài chính và phi
tài chính do các
cá nhân hoặc bộ
phận thẩm định
thực hiện
Quyết định cho
vay hoặc từ chối
cho vay dựa vào
kết quả phân tích

Kết quả của mỗi
giai đoạn
Hoàn thành bộ hồ sơ
để chuyển sang giai
đoạn sau
Báo cáo kết quả
thẩm định để chuyển
sang bộ phận có

Giám sát - Các thông tin - Phân tích hoạt
và thanh lý từ nội bộ ngân động tài khoản, giám sát và đưa ra
Giải ngân

Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

15


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tín dụng

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

hàng
báo cáo tài chính, các giải pháp xử lý
- Các báo cáo tài kiểm tra mục
- Lập các thủ tục
chính theo định kỳ đích sử dụng vốn để thanh lý tín dụng
của khách hàng
vay
- Các thông tin - Tái xét và xếp
khác
hạng tín dụng
- Thanh lý hợp
đồng tín dụng

1.3.

Hoạt động phân tích tín dụng của ngân hàng thương mại


16


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.3.2.1.

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

Thu thập thông tin phục vụ phân tích tín dụng:

Đây là bước quan trọng nhất, quyết định chất lượng của hoạt động phân tích
tín dụng. Nội dung chủ yếu là thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến khách
hàng bao gồm năng lực sử dụng vốn vay và uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận và
nguồn ngân quỹ, quyền sở hữu các tài sản và các điều kiện kinh tế khác có liên quan
đến người vay vốn.
Phương pháp chủ yếu để thu thập và xử lý thông tin:
- Thu thập thông tin qua các loại báo cáo của người vay. Ngân hàng luôn yêu
cầu người vay vốn phải gửi cho ngân hàng các báo cáo tài chính như bảng cân đối
kế toán (bảng cân đối tài sản), báo cáo kết quả kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ, thuyết
minh báo cáo tài chính… Các báo cáo này cho thấy các số liệu trong nhiều năm đã
qua, vì vậy, giúp ngân hàng có cơ sở để dự đoán về tình hình của khách hàng trong
tương lai gần. Ngân hàng sử dụng các báo cáo này để ước tính nhu cầu vốn, trong đó
có nhu cầu tài trợ, đánh giá khả năng sinh lời và khả năng trả nợ, các thiệt hại có thể
xảy ra nếu khách hàng không trả được hoặc không trả đầy đủ, giá trị các tài sản có
thể phát mại khi cần thiết…
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp có ý nghĩa rất quan trọng, đó là việc gặp gỡ
trực tiếp giữa cán bộ ngân hàng và người vay vốn: thăm quan nhà xưởng, văn
phòng, nói chuyện với giám đốc và người lao động, xem xét tài sản đảm bảo…
Thông tin qua phỏng vấn có ưu điểm là thông tin mới nhất, đồng thời qua nghệ thuật

1.3.2.2.

Tiến hành phân tích tín dụng:

Hoạt động phân tích tín dụng đối với một khách hàng cụ thể luôn nằm trong
mối tương quan với việc ra quyết định cấp tín dụng đối với khách hàng đó. Để có
thể trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho quyết định cấp tín dụng, nội dung phân tích
phải hướng đến việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, tức đánh giá xem
khách hàng có trả được nợ vay cả gốc và lãi hay không? Nói một cách cụ thể, nội
dung phân tích tín dụng cần tập trung vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng trả nợ của khách hàng. Do đó, CBTD có thể tiến hành quá trình phân tích dựa
trên các nội dung sau:
- Năng lực pháp lý của khách hàng
- Tình hình tài chính của khách hàng
- Tính khả thi và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh
- Khả năng của khách hàng trong việc trả nợ vay
Ngoài ra, để củng cố thêm cho việc ra quyết định tín dụng, các ngân hàng còn sử
dụng công cụ chấm điểm, xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp.

Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

18


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.3.2.3.

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

Viết báo cáo tín dụng:

chuyên gia giỏi (như tài chính, tiếp thị, sản phẩm…), cơ cấu tổ chức.
- Các dòng tiền: phân tích các dòng tiền dự kiến (bao gồm cả rủi ro
đối với dòng tiền).
- Nguồn thông tin: Phân tích chung về nguồn thông tin, trong đó các
thông tin được lấy từ các báo cáo tài chính của người vay, từ phỏng vấn trực tiếp, từ
Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

19


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

các nguồn khác… Độ tin cậy và tính cập nhật của nguồn thông tin (qua kiểm toán
hay không, uy tín của các cơ quan cung cấp thông tin).
1.3.3.

Nội dung phân tích tín dụng của ngân hàng thương mại:
1.3.3.1.

Năng lực pháp lý của khách hàng:

Năng lực pháp lý là vấn đề các ngân hàng quan tâm đầu tiên khi nhận được
yêu cầu vay vốn của khách hàng. Các ngân hàng ít khi cho những người chưa đến
tuổi trưởng thành vay bởi vì họ chưa phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu có
bất cứ tranh chấp nào xảy ra do đó, họ có thể phủ nhận hoặc từ chối thanh toán
khoản vay, trừ khi tiền vay được dùng cho những mục đích quá cần thiết. Khi đó,
cha mẹ, người giám hộ hoặc người nào khác đủ tuổi trưởng thành được yêu cầu
cùng ký tên vào đơn xin vay.


Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

Các doanh nghiệp đều có bảng cân đối kế toán (bảng cân đối tài sản), trong
đó phần tài sản phản ánh số kết dư giá trị tài sản tại một thời điểm, hoặc kết dư trung
bình trong kỳ. Đối với hộ hoặc người tiêu dùng, ngân hàng yêu cầu các thông tin về
tình hình kinh doanh, tài sản cá nhân, lương và các khoản thu nhập khác. Các thông
tin về tài sản cho thấy qui mô, khả năng quản lý của khách hàng rất quan trọng đối
với quyết định cho vay. Quan trọng hơn, tài sản (tất cả hoặc một phần) của khách
hàng luôn được coi là vật đảm bảo cho khoản vay, tạo khả năng thu hồi nợ khi khách
hàng mất khả năng thanh toán.
 Ngân quỹ: bao gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt trong két, các khoản phải
thu. Tiền gửi và tiền mặt là tài sản có thể dùng để chi trả ngay, song thường chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng tài sản của khách hàng. Các khoản phải thu (chủ yếu là tiền bán
hàng hóa và dịch vụ chưa thu được tiền) luôn có khả năng chuyển thành tiền gửi
hoặc tiền mặt. Ngân hàng cần kiểm tra kỹ khoản này để loại trừ các khoản bán chịu
không thu được, khó thu được hoặc đã bán lại cho người khác. Các khoản cho vay
ngắn hạn liên quan chặt chẽ tới tình hình ngân quỹ của khách hàng, đặc biệt thời hạn
cho vay có thể tính toán dựa trên số ngày của kỳ thu tiền.
 Các chứng khoán có giá: là các tài sản tài chính của doanh nghiệp. Các tài
sản này làm tăng nguồn thu và có thể đem bán khi cần tiền để chi trả.
 Hàng hóa trong kho: rất nhiều các món vay ngắn hạn với mục tiêu tăng dự trữ
hàng hóa, có nghĩa là một phần hàng hóa trong kho được hình thành từ nguồn tiền
vay ngân hàng. Do đó, ngân hàng quan tâm tới số lượng, chất lượng, giá cả, mẫu
mã, bảo hiểm, rủi ro đối với hàng hóa trong kho. Ngoài việc xem xét sổ sách, ngân
hàng có thể yêu cầu người vay mở kho kiểm tra để loại trừ hàng hóa kém, mất phẩm
chất, chậm tiêu thụ, phát hiện hàng giả, hàng người khác gửi…
 Tài sản cố định: gồm nhà cửa; sân bãi; trang, thiết bị; phương tiện vận
chuyển, thiết bị văn phòng… thường là đối tượng tài trợ trung và dài hạn.


Sau khủng hoảng 1929 – 1932, rất nhiều các nhà ngân hàng phát hiện ra rằng
họ không thu được nợ (và như vậy là không có khả năng chi trả) ngay cả khi họ cho
vay các khoản vốn lưu động phù hợp. Cùng với các khoản cho vay ngắn hạn, đã
xuất hiện ngày càng nhiều các khoản cho vay trung và dài hạn mà mối tương quan
với vốn của chủ sở hữu và luồng tiền trả nợ trở nên rất quan trọng. Để quá trình
phân tích tín dụng được thực hiện với thời gian ngắn và phần nào được tiêu chuẩn
hóa, các ngân hàng đều cố gắng xây dựng các tỷ lệ phản ánh năng lực tài chính của
người vay có liên quan đến khả năng trả nợ. Điểm cần chú ý là các tỷ lệ này thường
được cấu thành từ hai số có bản chất khác nhau, do đó, tìm kiếm các số có mối
tương quan với nhau là rất cần thiết.
Các loại chỉ tiêu để phân tích tài chính doanh nghiệp gồm: chỉ tiêu về khả
năng thanh khoản, chỉ tiêu về khả năng hoàn trả nợ vay, chỉ tiêu đòn bẩy tài chính,
chỉ tiêu về khả năng hoạt động, chỉ tiêu về khả năng tăng trưởng và chỉ tiêu về khả
năng sinh lời.
Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

22


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

a. Nhóm chỉ tiêu thanh khoản:
Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:
 Hệ số thanh toán ngắn hạn:
Tài sản ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn = ────────────
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn cho biết khả năng của người vay trong việc thanh


b. Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoàn trả nợ vay:
 Chỉ tiêu khả năng hoàn trả nợ vay:
Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay
Chỉ tiêu khả năng hoàn trả nợ vay = ─────────────────────
Lãi vay
Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa chi phí tài chính và khả năng trang
trải chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu. Chỉ tiêu nay được dùng để đánh giá
khả năng sử dụng lợi nhuận của doanh nghiệp trong việc thanh toán lãi vay.
 Tỷ số tự tài trợ:
Vốn chủ sở hữu
Tỷ số tự tài trợ = ────────────
Tổng nguồn vốn
Tỷ số tự tài trợ đo lường khả năng doanh nghiệp sử dụng vốn tự có của mình
để tài trợ cho các khoản mục trong cơ cấu nguồn vốn. Chỉ tiêu này càng nhỏ có
nghĩa là doanh nghiệp ít sử dụng vốn chủ sở hữu mà chủ yếu dùng vốn vay để thực
hiện các hoạt động của mình.
c. Nhóm chỉ tiêu về đòn bẩy tài chính
 Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu:
Tổng giá trị nợ
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = ──────────────
Giá trị vốn chủ sở hữu
Tỷ số này đánh giá mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp và qua đó còn đo
lường được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Đứng trên góc độ ngân
hàng , tỷ số này chỉ nên nằm trong khoảng (0;1). Nếu tỷ số này bằng hoặc lớn hơn 1
có nghĩa là doanh nghiệp đang quá lệ thuộc vào vốn vay và rủi ro không thanh toán
được nợ khi ngân hàng cho doanh nghiệp vay là rất lớn.
 Tỷ số nợ trên tổng tài sản:
Tổng giá trị nợ
Tỷ số nợ trên tổng tài sản = ───────────

Tổng tài sản bình quân
Vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của tổng tài sản
của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả đầu tư hay hiệu quả sử dụng tài
sản của doanh nghiệp càng cao.
 Vòng quay hàng tồn kho:
Giá vốn hàng bán
Vòng quay hàng tồn kho = ─────────────────
Hàng tồn kho bình quân
Vòng quay hàng tồn kho cho biết số ngày tồn kho bình quân của nguyên vật
liệu. Trên thực tế, chỉ tiêu này càng lớn thì việc luân chuyển hàng tồn kho càng đạt
hiệu quả cao, trừ một số doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh theo mùa vụ.
 Kỳ thu tiền bình quân
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân = ───────────── x 360
Doanh thu thuần
Kỳ thu tiền bình quân cho chúng ta biết số ngày mà doanh nghiệp có khả
năng thu hồi các khoản phải thu. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì doanh nghiệp càng đạt
hiệu quả cao trong việc thu hồi và luân chuyển các khoản phải thu.
 Kỳ phải trả bình quân
Các khoản phải trả
Kỳ phải trả bình quân = ───────────── x 360
Giá vốn hàng bán
Kỳ phải trả bình quân cho biết số ngày mà doanh nghiệp được trì hoãn thanh
toán các khoản phải trả. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp được tài trợ
càng nhiều vốn tín dụng thương mại bởi người bán.
e. Nhóm chỉ tiêu về khả năng tăng trưởng
 Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu (đơn vị: %)
Đỗ Thùy Linh_Ngân hàng 48B

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status