Nâng cao chất lượng phân tích tín dụng tại Sở giao dịch, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, lĩnh vực tiền tệ, hoạt động Ngân hàng và thị
trường tài chính đã trở thành một trong những lĩnh vực kích thích nhất của
nền kinh tế. Thị trường tài chính đang thay đổi nhanh chóng với những
phương tiện tài chính hiện đại và hữu ích, hoạt động Ngân hàng ngày càng sôi
động và thường xuyên được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Có thể nói Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết
mọi nền kinh tế, đóng vai trò là thủ quỹ cho toàn xã hội và là một kênh quan
trọng trong chính sách kinh tế của chính phủ nhằm ổn định kinh tế. Trong các
hoạt động của Ngân hàng nói riêng và của các trung gian tài chính nói chung
thì tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng
tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao
nhất. Mức tăng trưởng tín dụng hiện nay tăng lên nhanh chóng, nhưng lại làm
nảy sinh nhiều e ngại do sự yếu kém trong hoạt động tín dụng ở Việt Nam.
Vậy làm sao để hoạt động tín dụng trong hệ thống Ngân hàng phát triển mạnh
nhưng vẫn hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế là một vấn đề nan giải. Bởi
đó không chỉ là khoa học mà còn bao hàm cả tính nghệ thuật. Có rất nhiều
biện pháp đã được đưa ra và một trong những biện pháp được xem là khá
quan trọng và hiệu quả là “Nâng cao chất lượng phân tích tín dụng”.
Trong suốt 7 kì học ngồi trên ghế giảng đường trường Đại học Kinh tế
quốc dân, em đã được học nhiều điều, tiếp thu nhiều kiến thức từ thầy cô và
các bạn, tuy nhiên phần lớn chỉ dừng lại ở tính lý thuyết. Trong kì cuối này,
có cơ hội được áp dụng lý thuyết vào thực tế khi thực tập ở phòng tín dụng,
Sở giao dịch, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, em càng hiểu
rõ hơn về tầm quan trọng của hoạt động tín dụng, đặc biệt là hoạt động phân
tích tín dụng. Nếu ngân hàng cân nhắc kĩ, ước lượng chính xác khả năng rủi
Nguyễn Thị Hiền Anh Tài chính doanh nghiệp 46 A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ro và sinh lời trước khi quyết định tài trợ, tức là có chất lượng phân tích tín
dụng tốt thì sẽ có được hiệu quả tín dụng cao và từ đó sẽ xây dựng một kết

ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư
vào bất động sản… các hình thức huy động cũng ngày càng phong phú.
Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa ra nhằm đáp ứng tối đa nhu
cầu của khách hàng. Công nghệ ngân hàng cũng đang góp phần làm thay đổi
các hoạt động cơ bản của Ngân hàng. Thanh toán điện tử đang thay thế dần
thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh
Nguyễn Thị Hiền Anh Tài chính doanh nghiệp 46 A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
toán. Các loại thẻ đang thay thế dần tiền giấy và dịch vụ Ngân hàng 24 giờ,
Ngân hàng tại nhà… đang tạo ra các tiện ích ngày càng lớn cho dân chúng.
1.1.1.2. Đặc điểm:
Quá trình phát triển của Ngân hàng diễn ra nhanh chóng như vậy nhưng
các Ngân hàng thương mại vẫn luôn giữ được những đặc điểm chung mang
tính đặc thù:
- Thực hiện chức năng trung gian tài chính:
+ Trung gian tín dụng: Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính
với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư giữa các cá nhân và tổ
chức tạm thời thâm hụt chi tiêu với các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi
tiêu.
+ Trung gian thanh toán: Ngân hàng đã trở thành trung gian thanh toán
lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt khách hàng, Ngân hàng
thực hiện thanh toán dưới nhiều hình thức như: Séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu,
các loại thẻ…Các Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông
qua Ngân hàng Trung ương hoặc các trung tâm thanh toán. Ngày nay, công
nghệ thanh toán hiện đại qua Ngân hàng, cũng như sự chuyển hoá nhiều hình
thức thanh toán đã được quan tâm để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện,
tiết kiệm chi phí và biến Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng
có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
+ Trung gian rủi ro: Hầu hết các lý thuyết hiện đại đều giải thích sự tồn
tại của Ngân hàng bằng cách chỉ ra sự không hoàn hảo trong hệ thống tài

chính phủ, bảo lãnh, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, dịch vụ ủy thác và tư
vấn, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, các dịch vụ đại lý…
Nếu một Ngân hàng tạo ra những dịch vụ hữu ích với chi phí thấp và có được
Nguyễn Thị Hiền Anh Tài chính doanh nghiệp 46 A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh thu cao nhờ vào tài sản có của mình, thì ngân hàng đó thu được lợi
nhuận, nếu không, Ngân hàng sẽ phải chịu tổn thất.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh
nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch
vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách hiệu
quả.
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
- Huy động vốn chủ sở hữu: Để bắt đầu hoạt động, các ngân hàng phải
có một lượng vốn nhất định để sử dụng lâu dài, hình thành nên các trang thiết
bị, nhà cửa cho Ngân hàng. Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng:
+ Nguồn hình thành ban đầu: Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng
mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau. Nó có thể do Ngân sách
Nhà nước cấp nếu là Ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, thông qua mua cổ
phần hay cổ phiếu nếu là Ngân hàng cổ phần, do các bên liên doanh góp nếu
là Ngân hàng liên doanh, hoặc là vốn thuộc sở hữu tư nhân đối với Ngân hàng
tư nhân.
+ Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Trong quá trình hoạt
động, Ngân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu theo nhiều phương thức khác nhau
tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không,
chủ ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu
nhập ròng thành vốn đầu tư (Nguồn từ lợi nhuận). Hoặc nguồn được bổ sung
từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm…
+ Các quỹ: Các quỹ này thuộc sở hữu của chủ Ngân hàng, nguồn hình
thành là từ thu nhập của ngân hàng và được trích lập hàng năm nhằm bù đắp

Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Vay Ngân hàng Nhà nước (Vay Ngân hàng trung ương): Khi cần
giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả, trong trường hợp thiếu hụt dự trữ
(thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), các ngân hàng thương mại có thể
vay Ngân hàng Nhà nước với hình thức cho vay chủ yếu là tái chiết khấu hoặc
tái cấp vốn
+ Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn vay mượn lẫn nhau
giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân
hàng. Nguồn này dùng để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách. Trong
nhiều trường hợp nó có thể bổ sung và thay thế cho nguồn vay mượn từ ngân
hàng Nhà nước.
+ Vay trên thị trường vốn: Đây là nguồn vay nợ bổ sung nhằm đáp ứng
nhu cầu cho vay và đầu tư trung dài hạn của ngân hàng với hình thức chủ yếu
là phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tin phiếu, trái phiếu).
- Các nguồn khác:
+ Nguồn ủy thác: Việc thực hiện các dịch vụ như cho vay, ủy thác đầu
tư, giải ngân và thu hộ…hình thành nguồn ủy thác, làm gia tăng vốn của ngân
hàng
+ Nguồn trong thanh toán: Các hoạt động trong thanh toán có thể hình
thành trong nguồn thanh toán (séc trong chi trả, tiền kí để quỹ mở L/C…)
+ Nguồn khác: Gồm các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa
trả…
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, hoạt động
chính là tìm kiếm các khoản vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận.
- Hoạt động Ngân quỹ: Ngân quỹ của ngân hàng thường bao gồm:
Nguyễn Thị Hiền Anh Tài chính doanh nghiệp 46 A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Tiền mặt trong két: Các ngân hàng thương mại luôn phải giư một
lượng tiền trong két để chi trả nhanh chóng khi cần, đặc biệt với thói quen sử

khác như thanh toán, ủy thác, hùn vốn (tham gia góp vốn với các tổ chức
khác), các hoạt động sử dụng khác như mua sắm nhà cửa, trang thiết bị phục
vụ cho quá trình kinh doanh của ngân hàng và cho thuê.
1.1.2.3. Các hoạt động khác:
Bên cạnh các hoạt động mang tính truyền thống và đặc trưng, ngân
hàng thương mại còn tiến hành các hoạt động khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận
như: cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, dịch
vụ đại lý, dịch vụ ủy thác, dịch vụ tư vấn...
1.2. Chất lượng phân tích tín dụng của Ngân hàng thương mại :
1.2.1. Khái quát về hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại:
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tín dụng
Khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng. Thuật ngữ này
được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy góc độ nghiên cứu, nhưng nhìn
chung thì: Tín dụng là quan hệ giao dịch giữa hai bên, họ cam kết với nhau
như sau:
- Một bên trao một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hoặc tiền tệ
- Còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại lượng giá trị đó sau một thời gian nhất
định và theo một số điều kiện nhất định nào đó (nhưng lượng giá trị hoàn lại
phải lớn hơn lượng giá trị ban đầu)
Như vậy, tín dụng là quan hệ vay mượn gồm cả đi vay và cho vay nhưng
hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tổng tài sản và cũng là hoạt động mạng lại lợi nhuận chủ yếu cho các Ngân
hàng . Vì lẽ đó nên khi nhắc đến tín dụng Ngân hàng người ta thường hiểu là
hoạt động cho vay.
Nguyễn Thị Hiền Anh Tài chính doanh nghiệp 46 A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quan hệ tín dụng của Ngân hàng có những đặc trưng sau:
- Tín dụng Ngân hàng là quan hệ giao dịch giữa một bên là Ngân hàng
và một bên là các thành phần còn lại của nền kinh tế, gồm Nhà nước, tổ chức
kinh tế, xã hội, cá nhân… Tài sản tín dụng trong quan hệ tín dụng bao gồm

hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian xác định. Cho vay là tài sản lớn nhất
trong khoản mục tín dụng.
+ Cho thuê: Hoạt động của Ngân hàng chủ yếu là cho khách hàng vay
bằng tiền để mua tài sản, nhưng trong trường hợp khách hàng không đủ điều
kiện để vay, Ngân hàng đứng ra mua tài sản rồi cho khách hàng thuê lại.
+ Bảo lãnh: Là hoạt động cam kết của Ngân hàng dưới hình thức thư
bảo lãnh về việc thực hiện nhiệm vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách
hàng không thực hiện đúng như đã cam kết.
- Phân loại theo mức tín nhiệm với khách hàng.
+ Cho vay không có đảm bảo: Là hình thức cho vay tín chấp, thường
áp dụng với những khách hàng có uy tín hay các khoản cho vay theo chỉ thị
của Nhà nước không cần tài sản đảm bảo
+ Cho vay có đảm bảo: Là các khoản vay đối với các khách hàng có tài
sản cầm cố hoặc thế chấp hay có bảo lãnh của người thứ ba.
- Căn cứ vào đối tượng khách hàng vay:
+ Cho vay chính phủ: Là hoạt động cho vay đối với Nhà nước để tài trợ
cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên thông qua việc mua trái phiếu do kho bạc
phát hành.
+ Cho vay các đơn vị kinh doanh: Đối tượng vay là các doanh nghiệp
quốc doanh và ngoài quốc doanh.
Nguyễn Thị Hiền Anh Tài chính doanh nghiệp 46 A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Cho vay các tổ chức tài chính khác (Ngân hàng, Công ty Tài chính,
quỹ tín dụng…) là hoạt động cho vay chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản hoặc thanh toán liên Ngân hàng.
+ Cho vay cá nhân: Là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá
nhân, người tiêu dùng để mua sắm tài sản, tiêu dùng hoặc kinh doanh
– Căn cứ theo phương thức cho vay
+ Cho vay thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay mà Ngân hàng cho phép
người vay được chi trội (vượt) trên số tiều gửi thanh toán của mình đến một

trước, trong và sau khi cho vay, chiết khấu, cho thuê, bảo lãnh. Và khi sự cân
nhắc, ước lượng khả năng sinh lời cũng như khả năng rủi ro được đo lường
chính xác, đầy đủ là Ngân hàng đã có một chất lượng phân tích tín dụng tốt.
Quan hệ tín dụng phần lớn được xác lập thông qua hợp đồng tín dụng với
trọng tâm là xác định khả năng và ý muốn của người nhận tín dụng trong việc
thực hiện hợp đồng. Do đó, mục tiêu của phân tích tín dụng là thu thập và
phân tích thông tin nhằm xác định nội dung của hợp đồng tín dụng bao gồm
xác định vị trí thị trường so sánh của người nhận tín dụng, sức cạnh tranh, rủi
ro, mức độ thay đổi kỹ thuật, sức mạnh tài chính và khả năng thanh toán của
người vay… trong quá khứ, hiện tại và tương lai, cho phép ngân hàng để điều
chỉnh các giá trị trong quan hệ tín dụng với khách hàng.
Phân tích tín dụng là công việc nghiêm túc, không thể làm chiếu lệ, quy
trình tín dụng phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Được xây dựng và thống nhất toàn ngân hàng, tránh tùy tiện, duy ý
chí. Quy trình này phải được ban lãnh đạo ngân hàng thông qua và phổ biến
đến các phòng có liên qua cũng như các cán bộ tín dụng
Nguyễn Thị Hiền Anh Tài chính doanh nghiệp 46 A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status