PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với chức năng kết nối, là sợi
dây liên kết các chủ thể trong nền kinh tế. Cùng với sự phát triển kinh tế và công
nghệ, hệ thống ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh: đa dạng về loại hình,
phong phú về các hình thức hoạt động, trong đó tín dụng là hoạt động quan trọng
nhất bởi nó mang lại phần lớn thu nhập cho tổ chức này đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều
yếu tố rủi ro nhất, có thể gây ra tổn thất cho bản thân ngân hàng, cho khách hàng và
uy tín của ngân hàng. Những rủi ro này là không thể tránh khỏi mà chỉ có thể giảm
thiểu bằng việc nâng cao chất lượng tín dụng tại các ngân hàng. Một trong những
biện pháp để nâng cao chất lượng tín dụng là nâng cao chất lượng công tác phân tích
tín dụng.
Ngân hàng Phương Nam ( Southern Bank- SB) là một tổ chức tài chính được
biết đến với việc phát triển tín dụng rộng rãi đặc biệt phục vụ các đối tượng là doanh
nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể và nhu cầu cá nhân. Trong điều kiện các tổ
chức tài chính phát triển như hiện nay, để đứng vững trên thị trường, ngân hàng
Phương Nam không những không ngừng nỗ lực tìm kiếm, mở rộng các hoạt động
chăm sóc khách hàng mà bản thân ngân hàng cũng không ngừng đẩy mạnh công tác
nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Đây luôn được coi là mục tiêu chiến lược của ngân hàng
Phương Nam.
Do vậy, vấn đề “Nâng cao chất lượng phân tích tín dụng tại ngân hàng
Phương Nam –chi nhánh Hà Nội” được người viết hết sức quan tâm và chọn làm đề
tài nghiên cứu cho mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu chất lượng phân tích tín dụng tại các NHTM nói chung
- Xem xét thực trạng phân tích tín dụng tại SB – Hà Nội, đưa ra ví dụ điển
hình từ đó đánh giá lại toàn bộ thực trạng này.
- Đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng phân tích tín
dụng.
1
Theo đó, tín dụng ngân hàng là mối quan hệ trong đó ngân hàng- chủ thể chuyển
quyền sử dụng cho cá nhân, hoặc doanh nghiệp- quyền sử dụng một lượng giá trị
(dưới hình thái tiền tệ) với những điều kiện mà hai bên thỏa thuận.
Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng chính là hoạt động cho vay của các ngân hàng
thương mại, là một trong những hoạt động truyền thống và đặc trưng của NHTM.
Không chỉ thể hiện vai trò quan trọng ở việc chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản
mà tín dụng còn là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho các NHTM.
Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam thì hoạt động tín dụng được hiểu là “ việc
tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng”
trong đó tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một
khoản tiền nhất định với nguyên tắc có hoàn trả.
Trên khía cạnh xã hội, hoạt động tín dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông
qua việc lưu thông nguồn tiền trong nền kinh tế, nhờ hoạt động tín dụng, nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân cư được đưa vào phát triển các công trình, các dự án, các hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp, và điều này tạo nên sự phát triển của nền
kinh tế. Ở những quốc gia có nền tài chính còn chưa phát triển, kênh huy động vốn
trực tiếp thông qua thị trường chứng khoán chưa hoàn thiện thì tín dụng ngân hàng
vẫn là hình thức hiệu quả, tối ưu và phổ biến nhất đối với các doanh nghiệp có nhu
cầu về vốn. Với tầm quan trọng như vậy, hoạt động tín dụng cần được hoàn thiện và
đạt được một chất lượng đủ tốt để duy trì cho sự phát triển của không chỉ riêng bản
3
thân tổ chức tín dụng mà của cả nền kinh tế đất nước. Trên thực tế, nếu chất lượng tín
dụng kém, các ngân hàng phản ứng lại bằng cách cắt giảm các khoản tín dụng mới
mà họ có kế hoạch cung cấp đồng thời từ chối các yêu cầu gia hạn tín dụng. Cung tín
dụng giảm trong trường hợp này sẽ kéo theo hiệu ứng giảm trong cầu các khoản chi
cho đầu tư phát triển và chi cho tiêu dùng. Nếu quy mô cho vay của ngân hàng tiếp
tục giảm như vậy nền kinh tế tất yếu sẽ bị suy thoái.
Phân loại:
Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tuỳ theo yêu cầu của khách hàng và mục
tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân loại
thấu chi. Khi khách hàng gửi thêm tiền vào tài khoản của mình, ngân hàng sẽ thực
hiện nghiệp vụ trừ tiền từ tài khoản của khách hàng và số tiền mà khách hàng phải
trả:
Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi
Hình thức thấu chi tạo điều kiện cho khách hàng có thể thực hiện các thủ tục
thanh toán nhanh chóng, chủ động, kịp thời, hình thức linh hoạt, thủ tục đơn giản và
phần lớn là không có tài sản đảm bảo nên thường được áp dụng cho các khách hàng
thường xuyên, đáng tin cậy của ngân hàng. Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn
có thể được áp dụng cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân trong vài ngày, vài tháng trong
một năm để đáp ứng kịp thời các nhu cầu của khách hàng.
- Cho vay trực tiếp từng lần:
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân
hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện
để được cấp hạn mức thấu chi.Đối với những khách hàng kinh doanh, sản xuất theo
mùa vụ, hoặc chu kỳ sản xuất có một vài giai đoạn cần được bổ sung vốn thì hình
thức này là phù hợp.
Cũng như bất kỳ mọi món vay, khách hàng buộc phải trình bày phương án sử
dụng vốn vay của mình. Nếu ngân hàng kiểm tra và đánh giá là phương án sử dụng
vốn hợp lý, ngân hàng sẽ tiến hành các bước ký hợp đồng và các điều khoản liên
quan đến việc giải ngân tiền vay, lãi suất, tài sản đảm bảo. Mỗi món vay được tách
biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau.
Việc trả nợ theo hợp đồng được thực hiện theo chuỗi niên kim với thời hạn đã
quy định trong hợp đồng. Đến hạn, ngân hàng sẽ tiến hành thu gốc và lãi. Tuy nhiên,
nếu khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã cam kết hay vi phạm các
điều khoản khác của hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá
hạn.
5
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm soát
từng món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo. Với những
ưu thế như vậy, hình thức tín dụng này phù hợp với những hộ kinh doanh nhỏ lẻ và
khăn trong quá trình bán hàng, ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ.
Khác với các hợp đồng tín dụng khác, trong hợp đồng cho vay luân chuyển, thời hạn
được nêu ra không phải là thời hạn trả nợ mà là thời hạn ngân hàng tiến hành xem xét
tình hình tài chính, mức độ tuân thủ hợp đồng, mối quan hệ của khách hàng và ngân
hàng để quyết định xem khách hàng có được vay nữa hay không.Việc cho vay dựa
trên luân chuyển của hàng hóa nên cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải nghiên
cứu kế hoạch luân chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân quỹ trong thời gian
tới.Các khoản phải thu và cả hàng hóa trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoản
cho vay. Cho vay luân chuyển thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thị ngắn ngày, có quan hệ vay trả
thường xuyên với ngân hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng. Thủ tục vay chỉ cần
thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì
vậy việc thanh toán cho người cung cấp cũng sẽ nhanh gọn.
- Cho vay trả góp:
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả
gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường
được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc
hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ
(thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc từ thu nhập hàng kỳ của
người tiêu dùng).
Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả
góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Nếu người vay
mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của ngân hàng cũng bị ảnh
hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhất
trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp:
Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. Bên cạnh đó ngân hàng
cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay thông qua
các tổ chức trung gian.
tín dụng đa dạng nhằm phù hợp với quá trình luân chuyển vốn và chu kỳ thu nhập
của khách hàng.
1.1.1.3. Rủi ro tín dụng
* Bản chất rủi ro tín dụng
8
Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không trả hoặc không trả đúng hạn,
hoặc không trả đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất
của ngân hàng thương mại- hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ
cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho khả năng xảy
ra rủi ro là thấp nhất. Tuy nhiên không thể có một nhà ngân hàng nào có thể dự đoán
được chính xác các rủi ro sẽ xảy ra. Nguyên nhân có thể từ phía khách hàng, khả
năng trả tiền vay của họ có thể thay đổi. Ngoài ra còn do cán bộ ngân hàng không có
khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Như vậy, rủi ro tín dụng là không
thể tránh khỏi, là khách quan, chỉ có thể hạn chế chứ không thể loại trừ.
* Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
- Nguyên nhân bất khả kháng.
Các nguyên nhân bất khả kháng ảnh hưởng đến người vay, làm họ mất khả
năng thanh toán cho ngân hàng: thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc những thay đổi
mang tầm vĩ mô… vượt quá khả năng kiểm soát của cả người vay và ngân hàng.
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra và có những tác động khác nhau đến
người vay. Đối với những người vay có bản lĩnh, họ có khả năng dự báo, hạn chế
hoặc thích ứng với những biến cố thì việc trả tiền vay không còn là vấn đề khó khăn.
Trong những trường hợp khác, họ vẫn có thể trả nợ đúng hạn và đủ. Tuy nhiên, đối
với những trường hợp tổn thất nặng nề thì khả năng trả nợ của khách hàng bị suy
giảm là không thể tránh khỏi.
- Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay.
Những nguyên nhân thuộc loại này chủ yếu là do các tình huống sau: trình độ
yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ỳ…. Nhiều trường
hợp người vay mạo hiểm với món vay nhằm thu được lợi nhuận lớn, họ cung cấp
ngân hàng là hậu quả của hoạt động này. Bên cạnh đó, tín dụng là hoạt động mang
tính khách quan. Do đó, ngân hàng cần phải chú trọng đến quản lý rủi ro để đảm bảo
cho các mục tiêu mà ngân hàng đã đặt ra trong quá trình kinh doanh của mình.
Quản lý rủi ro bao gồm:
- Hạn chế các khoản vay tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn, nợ khó đòi.
Nội dung này đòi hỏi khi cho vay và đặt giá ngân hàng phải cẩn thận, thực
hiện đa dạng hóa.
+ Thực hiện các quy định về an toàn tín dụng được ghi trong luật các tổ chức
tín dụng và trong các quy định của ngân hàng Nhà nước.
10
+ Xác định danh mục các khoản danh mục các khoản tài trợ với các mức rủi
ro khác nhau.
+ Xây dựng chính sách tín dụng và quy trình phân tích tín dụng.
+ Xác định dấu hiệu của các khoản vay có vấn đề, giới hạn các khoản tín dụng
và đa dạng hóa.
- Quản lý nợ quá hạn, nợ khó đòi, các khoản nợ có vấn đề: bao gồm các nội
dung:
+ Ngân hàng phân loại nợ quá hạn, nợ khó đòi hoặc nợ có vấn đề. Phân tích
nguyên nhân, thực trạng, khả năng giải quyết.
+ Trong trường hợp người vay có khó khăn tài chính tạm thời song vẫn có khả
năng và ý chí trả nợ, ngân hàng áp dụng chính sách hỗ trợ cho vay thêm, gia hạn nợ,
giảm lãi….
+ Trong trường hợp người vay lừa đảo, chây ỳ, không có khả năng trả, ngân
hàng áp dụng các chính sách thanh lý như bán tài sản thế chấp, phong tỏa tiền gửi
trên tài khoản.
+ Xây dựng quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất. Dựa trên tỷ lệ rủi ro chấp nhận
và danh mục các khoản cho vay rủi ro, ngân hàng xây dựng quỹ dự phòng. Quỹ này
không có tác dụng làm giảm rủi ro mà để chống đỡ cho vốn của chủ khi tổn thất xảy
ra.
1.1.2 Phân tích tín dụng của NHTM:
dụng đòi hỏi những yêu cầu sau:
- Được xây dựng và thống nhất trong toàn ngân hàng, tránh những hành vi
tuỳ tiện, duy ý chí. Quy trình này phải được Ban lãnh đạo ngân hàng thông
qua và phổ biến cho các phòng, ban, các cán bộ có liên quan đến hoạt động
tín dụng.
- Được xây dựng chi tiết trong nội dung phân tích, tránh chung chung, lý
thuyết. Mỗi phòng chức năng cũng như mỗi cán bộ có liên quan phải biết
được cụ thể công việc của mình là gì, đến mức nào, làm vào thời điểm nào
trong quy trình để đảm bảo một quy trình hiệu quả, nhanh chóng, và khoa
học nhất.
- Toàn bộ quy trình phải nhằm thực hiện các nguyên tắc tín dụng ngân hàng.
1.1.2.2.Các nguyên tắc tín dụng ngân hàng:
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn lẫn lãi trong thời gian đã xác
định. Tín dụng ngân hàng có nguồn gốc là các khoản tiền gửi của khách
hàng và các khoản này cũng được ngân hàng cam kết trả trong thời hạn
12
nhất định. Do vậy, chỉ khi khách hàng của ngân hàng hoàn trả các khoản
tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng thì ngân hàng mới có thể hoàn trả
cho người gửi tiền theo cam kết. Bất kỳ một sự vi phạm nào trong việc
người vay trả tiền không đúng thời hạn cũng có thể làm ngân hàng gặp khó
khăn trong khâu đối ứng với tài khoản tiền gửi của khách hàng. Đây là
điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển.
- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuận
với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quy định
khác của ngân hàng cấp trên. Pháp luật quy định những phạm vi mà ngân
hàng có thể hoạt động. Ngoài ra mỗi ngân hàng cũng có phạm vi và mục
đích hoạt động riêng. Theo những tiêu chí này, hoạt động tín dụng của
ngân hàng buộc phải tài trợ cho những mục đích mà pháp luật và tiêu chí
mà ngân hàng đã đưa ra.
- Ngân hàng tài trợ dựa trên những phương án hoặc dự án có hiệu quả. Việc
xác về họ. Thông qua việc mua hoặc tìm kiếm thông tin từ các nguồn trung gian,
ngân hàng có thể phân tích người vay qua các mối liên hệ của họ, cho thấy uy tín,
tình trạng rủi ro, phát triển hay suy thoái.
+ Nội dung phân tích:
- Đánh giá tài sản khách hàng: các thông tin về quy mô, chất lượng tài sản,
khả năng quản lý của khách hàng rất quan trọng với quyết định cho vay vì tài sản của
khách hàng được xem là vật đảm bảo cho các khoản vay, tạo khả năng thu hồi nợ cho
ngân hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán. Đối với các khách hàng là các
hộ, hoặc người tiêu dùng, thông tin về tài sản cần được phân tích là tình hình kinh
doanh, lương và các khoản thu nhập ngoài lương, tài sản cá nhân. Đối với các khách
hàng là các doanh nghiệp thì việc xem xét, đánh giá tài sản được thực hiện thông qua
việc xem số dư của các tài khoản tài sản tại một thời điểm hay số dư trung bình của
kỳ. Các số dư này này được xem tại: ngân quỹ, các chứng khoán có giá, hàng hoá
trong kho và tài sản cố định.
Trong đó:
+ Ngân quỹ: bao gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt trong két, các khoản phải
thu. Đây là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong các tài sản của doanh
nghiệp, cho phép ngân hàng có thể thu hồi một phần nợ một cách nhanh nhất. Do đó,
ngân hàng cần xem xét kỹ các khoản này để loại trừ rủi ro cho mình. Tiền mặt và tiền
gửi ngân hàng là tài sản có thể chi trả ngay, song chúng lại chiếm tỷ trọng nhỏ trong
14
tổng tài sản của khách hàng. Các khoản phải thu, chủ yếu là tiền bán hàng hoá, dịch
vụ chưa thu được tiền, luôn có khả năng chuyển thành tiền mặt hoặc tiền gửi. Tuy
nhiên, ngân hàng cần phải xem xét kỹ khoản này để phòng ngừa trường hợp các
khoản phải thu khó đòi. Các khoản cho vay ngắn hạn có liên quan chặt chẽ đến tình
hình ngân quỹ của khách hàng, đặc biệt thời hạn cho vay có thể tính toán dựa trên số
ngày của kỳ thu tiền.
+ Các chứng khoán có giá : là các tài sản tài chính của doanh nghiệp. Loại tài
sản này cho phép doanh nghiệp tăng thu nhập và có thể chuyển đổi thành tiền để chi
trả khi cần.
nhanh nhất và chính xác nhất có thể, ngân hàng đã áp dụng các tỷ lệ phản ánh năng
lực tài chính của khách hàng có liên quan đến khả năng trả nợ. Các tỷ lệ này được
xây dựng là tích số của các con số của các chỉ tiêu mang bản chất khác nhau do đó
đòi hỏi chúng phải có mối liên hệ với nhau để giúp đưa ra một nhận xét chính xác.
Tuy nhiên, các con số được sử dụng lại là các số dư trên các bảng báo cáo tài chính
của quá khứ và hiện tại trong khi cái mà ngân hàng tìm kiếm lại là khả năng trả nợ
trong tương lai. Như vậy, kết luận dựa vào các tỷ lệ này không phải là những quyết
định đúng đắn nhất mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác mà ngân hàng phải đánh
giá thông qua các phương pháp khác.
+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán:
Tình hình tài chính của doanh nghiệp được phản ánh rõ nét qua các chỉ tiêu về
khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Khả năng này phản ánh mối quan hệ tài chính
giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong
kỳ. Các chỉ tiêu chủ yếu:
Hệ số thanh Tài sản lưu động
toán ngắn hạn Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh Tiền + các khoản phải thu
toán nhanh Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh Tiền
toán tức thời Nợ đến hạn
Tuỳ thuộc vào tình hình, đặc điểm loại hình kinh doanh của khách hàng mà
ngân hàng đưa ra một ngưỡng tối ưu cho các hệ số trên. Với hệ số thanh toán ngắn
hạn, chỉ tiêu lớn hơn 2 là tốt. Còn đối với hệ số thanh toán nhanh là 1, hệ số thanh
toán tức thời là 0.5. Tuy nhiên, còn tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của khách
hàng mà điều chỉnh những chỉ tiêu này cho hợp lý hơn, chẳng hạn đối với những
16
khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ thì khác đối với những
khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp nặng.
+ Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính:
Hệ số nợ
của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp vay vốn trung và dài hạn thì khấu hao và thu
nhập sau thuế là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay của ngân hàng.
Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động:
Vòng quay Giá vốn hàng bán
hàng tồn kho Hàng tồn kho bình quân
Vòng quay Doanh thu thuần
vốn lưu động TS lưu động bình quân
Hiệu suất sử Doanh thu thuần
dụng TSCĐ TSCĐ bình quân
Hiệu suất sử Doanh thu thuần
dụng tổng tài sản
∑
Tài sản bình quân
17
Kỳ thu tiền Các khoản phải thu
bình quân Doanh thu bình quân 1 ngày
+ Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận:
Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi:
Hệ số sinh Lợi nhuận sau thuế
lợi doanh thu Doanh thu thuần
Hệ số sinh lợi Lợi nhuận sau thuế
tài sản (ROA)
∑
Tài sản
Hệ số sinh lợi Lợi nhuận sau thuế
vốn CSH (ROE) Vốn chủ sở hữu
Nhóm chỉ tiêu về phân phối lợi nhuận:
Thu nhập Lợi nhuận sau thuế
cổ phiếu Số lượng cổ phiếu thường
Lợi nhuận đem chia
Chính sách của Chính phủ: Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có thể
tác động tới khách hàng như thế nào? Chính sách kinh tế? bảo vệ nhập khẩu?
Trợ cấp xuất khẩu? Hợp đồng với Nhà nước? Giấy phép đối với sản phẩm
mới?
- Các điều kiện kinh tế:
Các điều kiện kinh tế: thiên tai, các thay đổi bất thường trong đời sống chính
trị, khủng hoảng kinh tế vùng, quốc gia, sự sa sút đột ngột của ngành... làm thay đổi
các tính toán của ngân hàng từ đó làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng, giảm
khả năng thu hồi nợ của ngân hàng. Nguyên nhân là do các tính toán theo các chỉ tiêu
trên chỉ dựa vào những thông tin trong quá khứ và hiện tại của khách hàng, trong khi
điều ngân hàng quan tâm là khả năng trả nợ trong tương lai của khách hàng. Như
vậy, thời hạn vay càng dài, càng khó dự đoán chính xác tình hình của khách hàng.
- Bước 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa người nhận tài trợ
và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một
khoản tín dụng hoặc một hạn mức tín dụng trong một khoảng thời gian và lãi suất
nhất định. Hợp đồng tín dụng là văn bản mang tính pháp luật xác định quyền và
nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải tuân thủ các điều khoản
của các Luật, quy định. Do vậy, cả ngân hàng lẫn khách hàng đều cần cân nhắc kỹ
19
lưỡng trước khi ký kết hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng bao gồm những nội
dung chính sau:
+ Khách hàng: họ, tên, địa chỉ, tư cách pháp nhân (nếu có)
+ Mục đích sử dụng: khách hàng phải ghi rõ vay để làm gì
+ Số lượng tín dụng: là số tiền ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng. Số
lượng tín dụng có thể được chia nhỏ trong các khoảng thời gian khác nhau và dưới
hình thức tiền tệ khác nhau.
+ Lãi suất: hợp đồng tín dụng phải ghi rõ lãi suất mà khách hàng trả đồng thời
xác định tính chất của lãi suất (là lãi suất cố định hay biến đổi trong suốt kỳ hạn tín
dụng). Nếu lãi suất có thay đổi thì phải xác định rõ các điều kiện thay đổi đó.
về ưu tiên thanh toán, kiểm soát vật thế chấp và các hoạt động khác của người vay,
phong toả tài sản, điều kiện về phương thức phát mại tài sản, nộp các báo cáo định
kỳ, phạt vi phạm hợp đồng...
- Bước 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng.
Giải ngân là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng như đã thoả thuận sau
khi ngân hàng và khách hàng đã ký hợp đồng tín dụng. Đồng thời ngân hàng cũng
tiến hành kiểm soát khách hàng trong việc sử dụng tiền vay đúng mục đích, đúng tiến
độ, quá trình sản xuất... Quá trình này cho phép ngân hàng thu thập thêm thông tin về
khách hàng. Nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt, cho thấy khách hàng đang
tuân thủ hợp đồng. Ngược lại, khi chất lượng khoản cho vay bị đe doạ, ngân hàng cần
có biện pháp xử lý kịp thời như thu hồi nợ trước thời hạn, ngừng giải ngân.... Ngân
hàng có thể yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản thế chấp, giảm số tiền vay... khi cần
thiết để đảm bảo an toàn tín dụng.
- Bước 4: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới.
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi vay. Các khoản
tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn. Một số
trường hợp các khoản tín dụng đã không được hoàn trả hoặc không hoàn trả theo
đúng hợp đồng tín dụng đã ký về thời hạn và mức tín dụng do đó buộc ngân hàng
phải xem xét và tìm hiểu nguyên nhân để đưa ra các quyết định mới liên quan đến
tính an toàn của tín dụng.
Trường hợp khách hàng cố ý lừa đảo ngân hàng, cố tình nợ nần dây dưa, hoặc
làm ăn yếu kém không còn phương thức cứu vãn, ngân hàng áp dụng phương án
thanh lý, tức là sử dụng các biện pháp có thể được để thu hồi khoản nợ: phong toả,
bán các tài sản thế chấp, tước đoạt các khoản tiền gửi...
21
Trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính song vẫn kiên quyết tìm
cách khắc phục để trả nợ, ngân hàng thường áp dụng phương án khai thác, bao gồm
gia hạn nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm.
1.1.2.4. Viết báo cáo tín dụng:
Sự cần thiết của báo cáo tín dụng:
+ Hoạt động tín dụng đóng vai trò là một trong những hoạt động cơ bản của
ngân hàng, nó mang lại nguồn thu nhập lớn nhưng cũng hàm ẩn nhiều rủi ro. Do đó,
việc thẩm định và phân tích trước khi tiến hành giải ngân là rất quan trọng. Mặc dù
hiện nay nhiều ngân hàng đã xây dựng cho mình một hệ thống phân tích tín dụng
trước khi cho vay nhưng trên thực tế, các ngân hàng đều tồn tại nợ quá hạn, tiềm ẩn
rủi ro đối với hoạt động của ngân hàng. Có rất nhiều nguyên nhân để lý giải cho điều
đó và một trong các nguyên nhân là chất lượng phân tích tín dụng. Phạm trù này
được các nhà ngân hàng nhắc đến như một giải pháp để đảm bảo chất lượng tín dụng
và sự an toàn cho chính ngân hàng.
1.2.CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG CỦA NHTM:
1.2.1. Khái niệm về chất lượng phân tích tín dụng:
Chất lượng phân tích tín dụng được đánh giá thông qua việc thoả mãn được
yêu cầu của Ngân hàng và khách hàng đặt ra khi phân tích tín dụng .
Về phía Ngân hàng, phân tích tín dụng đối với một khoản vay phải đạt được
các yêu cầu sau :
- Ngân hàng cho vay được: việc xem xét, đánh giá khách hàng không phải
nhằm mục đích tìm ra điểm yếu của khách hàng để từ chối cho vay mà nhằm xác
định mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và để đưa ra quyết định có chấp nhận cho
vay hay không.
- Ngân hàng thu hồi được cả gốc và lãi theo đúng hợp đồng tín dụng: việc cho
vay là một trong những hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhưng cho vay được
chưa phải là mục tiêu cuối cùng mà quan trọng hơn là có khả năng thu hồi được cả
gốc và lãi khi đến hạn hay không. Thông qua phân tích tín dụng, ngân hàng xác định
được khách hàng có nguồn tiền trả nợ, nguồn thu vào thời điểm nào để phân kỳ trả
nợ và lãi vay cho hợp lý.
Về phía khách hàng, yêu cầu của họ khi đặt vấn đề vay vốn đối với ngân hang
đó là vay được vốn với lãi suất và thời hạn hợp lý, phương thức trả nợ phù hợp với
nguồn thu nhập.
23
Khi các ngân hàng tiến hành phân tích tín dụng đáp ứng được các yêu cầu trên
dụng có thể lường trước được những rủi ro có thể xảy ra đối với khách hàng, đối với
24
các khoản vay từ đó đưa ra sự tính toán và cân nhắc về tính hiệu quả của việc cho
vay.
Tính toàn diện đòi hỏi sự thể hiện rất cao đặc biệt trong phân tích dự án. Bản
thân dự án hàm chứa nhiều yếu tố rủi ro do quy mô và tính độc lập của nó. Quá trình
thẩm định phải đi từ tính hợp pháp của dự án, tức là từ khi dự án được đưa ra, được
triển khai và đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, các yếu tố khác như môi trường đầu tư,
các điều kiện kinh tế kỹ thuật của dự án, tính khả thi của dự án, nguồn trả nợ, những
rủi ro có hệ thống và không có hệ thống... cũng được xem xét và phân tích cặn kẽ
trong quy trình phân tích tín dụng cho dự án.
Tính toàn diện là yêu cầu cần phải thể hiện trong nội dung phân tích, nó chính
là biểu hiện đảm bảo cho phân tích tín dụng đạt ở mức độ nào.
1.2.2.3.Tính khách quan
Một kết luận phân tích tín dụng có chất lượng cao đòi hỏi tính khách quan cao
trong quá trình phân tích. Sự khách quan thể hiện trong việc thu thập số liệu, phân
tích các số liệu và quá trình đưa ra quyết định tín dụng.
Mặc dù quá trình phân tích mang yếu tố chủ quan của người phân tích nhưng
hoạt động cho vay và sự hoạt động của khách hàng lại chịu ảnh hưởng bởi các quy
luật khách quan của nền kinh tế. Do đó, các quyết định tín dụng phải gắn liền với
những quy luật đó; hành vi tự phán xét và đưa ra các quyết định hoàn toàn mang tính
chủ quan, đi trái quy luật thị trường là nguy cơ tiềm ẩn những rủi ro cho chính bản
thân ngân hàng.
Hơn nữa, nhà phân tích cũng cần phải có thái độ và hành động khách quan
ngay cả trong sự phân biệt lợi ích của ngân hàng và của bản thân mình, phải đặt vấn
đề xem xét rủi ro ảnh hưởng đến ngân hàng lên trên để từ đó có những đánh giá
khách quan về khách hàng. Tất cả những yếu tố này góp phần làm nên một quyết
định tài trợ đúng đắn
1.2.2.4. Thời gian phân tích tín dụng:
Với nhu cầu vốn khẩn thiết của người vay, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các