30 Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần VIMECO - Pdf 20

Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta ngày nay đang từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Bên cạnh
đó, cùng với những yêu cầu phát triển nhanh đã khiến cho vấn đề về nâng cao cơ sở
hạ tầng được đặt lên hàng đầu, kéo theo đó là sự ra đời ồ ạt của các công trình xây
dựng, cải tạo cầu đường…Xây dựng cơ bản nhanh chóng trở thành một ngành sản
xuất vật chất có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Chi phí cho đầu tư phát triển
chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng ngân sách nhà nước cũng như của công ty. Chính
vì vậy, việc xác định giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa vô cùng to lớn trong
công tác quản lý hiệu quả và chất lượng hoạt động kinh doanh của các công ty xây
lắp. Muốn vậy đòi hỏi công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp tại các công ty xây lắp ngày càng phải được hoàn thiện.
Thấy được tầm quan trọng đó, trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần
VIMECO em đã chủ động đi sâu tìm hiểu về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm xây lắp của công ty. Em đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần VIMECO”
làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
Nội dung của chuyên đề được chia làm 3 phần:
Phần I: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp
Phần II: Thực tế kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại
công ty cổ phần VIMECO
Phần III: Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần VIMECO
Em xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Thị Thủy và các cán bộ trong phòng kế toán
cũng như các phòng ban chức năng khác của công ty đã tận tình giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận của mình.
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP

thực hiện cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt, hoạt động xây lắp được thực hiện
theo đơn đặt hàng của khách hàng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông
- Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, khối lượng công trình lớn, thời gian thi công
kéo dài, có công trình phải xây dựng hàng chục năm mới xong. Trong thời gian thi
công chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực của
xã hội. Do đó, khi lập kế hoạch cần cân nhắc, thận trọng, nêu rõ các yêu cầu về vật
tư, tiền, nhân công. Việc quản lý theo dõi quá trình thi công phải chặt chẽ, đảm bảo
sử dụng vốn hợp lý cũng như chất lượng công trình.
Do thời gian thi công kéo dài nên kỳ tính giá thành thường không xác định hàng
tháng mà được xác định theo thời điểm khi công trình, hạng mục công trình hoàn
thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn tùy thuộc đặc điểm kỹ thuật,
khả năng về vốn của đơn vị xây lắp. Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành
có ý nghĩa lớn trong việc quản lý thi công và sử dụng vốn hiệu quả nhất.
- Thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp khá dài
Các sản phẩm xây lắp thường có thời gian sử dụng dài nên những sai lầm trong
quá trình thi công thường khó sửa chữa phải phá đi làm lại. Sai lầm trong hoạt động
xây lắp vừa gây lãng phí, vừa để lại hậu quả đôi khi rất nghiêm trọng, khó khắc phục.
Do đặc điểm này mà trong quá trình thi công cần thường xuyên kiểm tra giám sát
chất lượng công trình.
- Sản phẩm xây lắp được sử dụng tại chỗ, địa điểm xây dựng luôn luôn thay đổi
theo địa bàn thi công. Khi chọn địa điểm xây dựng phải điều tra nghiên cứu khảo sát
kỹ lưỡng về điều kiện kinh tế, đất đai..kết hợp với các yêu cầu về phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội. Sau khi đi vào sử dụng, công trình không thể di dời nhất là các nhà
máy, xí nghiệp, cho nên trước khi tiến hành xây dựng phải nghiên cứu nguồn cung
cấp nguyên vật liệu, nguồn nhân công lao động, đầu ra tiêu thụ sản phẩm bảo đảm
điều kiện thuận lợi khi công trình đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Khi một công trình xây dựng hoàn thành, công nhân không còn việc gì làm,
phải di chuyển đến một công trình khác do đó phát sinh chi phí: điều động công nhân

Một đặc điểm quan trọng của ngành xây dựng là phải có sự kết hợp chặt chẽ
giữa các phòng ban nhằm quản lý tốt các hoạt động liên quan và đảm bảo cho hoạt
động xây lắp diễn ra như kế hoạch, đảm bảo chất lượng công trình.
1.1.3. Đặc điểm tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
Đặc điểm của sản xuất xây lắp và hoạt động kinh doanh xây lắp ảnh hưởng đến
tổ chức công tác kế toán trong đơn vị xây lắp thể hiện chủ yếu ở nội dung, phương
pháp trình tự kế toán chi phí sản xuất, phân loại chi phí, cơ cấu giá thành xây lắp, cụ
thể là:
- Đối tượng kế toán chi phí có thể là hạng mục công trình, các giai đoạn công
việc của hạng mục công trình… từ đó xác định phương pháp kế toán chi phí thích
hợp.
- Đối tượng tính giá thành là các công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành,
các giai đoạn công việc đã hoàn thành…từ đó xác định phương pháp tính giá thành
thích hợp.
- Xuất phát từ đặc điểm của phương pháp lập dự toán trong hoạt động xây lắp,
dự toán được lập theo từng hạng mục chi phí. Để có thể dễ so sánh kiểm tra chi phí
sản xuất thực tế phát sinh và dự toán, chi phí sản xuất xây lắp được phân loại theo chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi
công, chi phí sản xuất chung.
1.2. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
1.2.1. Khái niệm chi phí sản xuất
Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của 3 yếu tố: sức lao
động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Sự tham gia của các yếu tố này vào quá trình sản xuất phát sinh các khoản mục
chi phí tương ứng để tạo ra giá trị sản phẩm.
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Do đó, hoạt đông kinh doanh xây lắp là sự kết hợp và biến đổi 3 yếu tố đầu vào
là tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động sống của con người để tạo nên giá

Bao gồm toàn bộ tiền lương, phụ cấp lương phải trả người lao động và số tiền
trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương
và phụ cấp lương phải trả người lao động
 Chi phí khấu hao TSCĐ:
Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích cho toàn bộ TSCĐ sử dụng trong
kỳ sản xuất kinh doanh
 Chi phí về dịch vụ mua ngoài:
Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài sử dụng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh
 Chi phí khác bằng tiền:
Bao gồm tất cả các chi phí khác bằng tiền không phải là các chi phí trên dùng
cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Cách phân loại chi phí này cho thấy được tỷ trọng, cơ cấu của từng yếu tố chi
phí, là cơ sở để lập và kiểm tra, đối chiếu việc thực hiện dự toán chi phí sản xuất theo
yếu tố.
- Phân loại theo các khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất
sản phẩm, thi công công trình.
 Chi phí nhân công trực tiếp:
Bao gồm toàn bộ tiền lương, các khoản phụ cấp mang tính chất lương phải trả
cho công nhân trực tiếp tham gia xây lắp công trình
 Chi phí sử dụng máy thi công:
Đối với doanh nghiệp thi công theo phương thức hỗn hợp vừa thủ công vừa sử
dụng máy thi công, trong giá thành sản phẩm xây lắp có khoản mục chi phí sử dụng
máy thi công. Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm các chi phí liên quan trực tiếp
đến việc sử dụng máy thi công: tiền lương, phụ cấp lương của công nhân điều khiển
máy thi công, chi phí sửa chữa bảo dưỡng máy thi công…
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp

lượng sản phẩm hoàn thành. Giá thành sản phẩm là sự dịch chuyển giá trị củ các yếu
tố bên trong nó, còn chi phí là cơ sở để hình thành nên giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động
sản xuất kinh doanh, hoạt động quản lý, kết quả của việc sử dụng các vật tư, tài sản
trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp
thực hiện nhằm sản xuất ra khối lượng sản phâm nhiều nhất với chi phí thấp nhất. Giá
thành sản phẩm còn là căn cứ để xác định kết quả kinh doanh của các hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp.
Giá thành sản phẩm là phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hóa. Nó là
chỉ tiêu vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Việc tính
đúng giá thành sản phẩm, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm hạ
giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng tiêu thụ từ đó nâng cao lợi nhuận cho doanh
nghiệp là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý. Các cách tính giá thành sản
phẩm mang tính chủ quan, không phản ánh đúng toàn bộ chi phí phát sinh trong quá
trình sản xuất đều có thể dẫn đến sự phá vỡ các quan hệ hàng hóa tiền tệ, không đánh
giá được hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và không thực hiện được tái sản
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Trong hoạt động xây lắp, giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí bằng
tiền để hoàn thành khối lượng xây lắp theo quy định. Giá thành sản phẩm của mỗi
công trình thường khác nhau.
1.3.2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Trong các doanh nghiệp xây lắp cần phân biệt các loại giá thành sau:
 Giá thành dự toán
Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình .Giá thành
dự toán được xác định trên cơ sở thiết kế kỹ thuật thi công, định mức và đơn giá do
Nhà nước quy định cho từng khu vực thi công.
Giá thành dự toán của công trình, hạng mục công trình = giá trị dự toán công
trình, hạng mục công trình + lãi định mức
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C

SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
 Giá thành thực tế: là toàn bộ các chi phí thực tế phát sinh mà đơn vị đã bỏ
ra để hoàn thành khối lượng xây lắp theo số liệu kế toán. Nó không chỉ bao gồm chi
phí trong định mức mà còn có thể bao gồm những chi phí thực tế phát sinh không cần
thiết như: thiệt hại do phá đi làm lại, thiệt hại do ngừng sản xuất…do những nguyên
nhân chủ quan của doanh nghiệp.
Muốn đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất thi công của
đơn vị xây lắp ta có thể so sánh các loại giá thành trên với nhau. Giá thành dự toán
mang tính chất xã hội nên việc so sánh giá thành thực tế với giá thành dự toán cho
phép ta đánh giá được sự tiến bộ hay yếu kém của doanh nghiệp xây lắp trong điều
kiện cụ thể về biện pháp thi công, cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ tổ chức quản lý
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc so sánh này cần đảm bảo tính thống nhất và có thể
so sánh được. Về nguyên tắc thì mối quan hệ giữa các loại giá thành phải đảm bảo
như sau:
Giá thành dự toán ≥ giá thành kế hoạch ≥ giá thành thực tế
Đây cũng là nguyên tắc khi xây dựng giá thành và tổ chức thực hiện kế hoạch
giá thành, có như vậy doanh nghiệp mới đảm bảo có lãi, có tích lũy sau khi đã thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước.
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp là có giá trị lớn, thời gian thi công
kéo dài, do đó để đáp ứng yêu cầu quản lý về chi phí sản xuất và giá thành, doanh
nghiệp xây lắp còn theo dõi giá thành sản phẩm xây lắp theo hai chỉ tiêu là giá thành
khối lượng hoàn chỉnh và giá thành khối lượng hoàn thành quy ước
Giá thành khối lượng hoàn chỉnh là giá thành của những công trình, hạng mục
công trình đã hoàn thành, đảm bảo kỹ thuật, chất lượng, đúng thiết kế, bàn giao cho
chủ đầu tư nghiệm thu, chấp nhận thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá một
cách tổng quát hiệu quả kinh tế của việc thi công công trình nhưng không đáp ứng
kịp thời các số liệu cần thiết cho việc đánh giá, phân tích, tính giá thành trong suốt
quá trình thi công. Do đó, để đáp ứng nhu cầu quản lý, đảm bảo sản xuất kịp thời đòi
hỏi phải xác định giá thành khối lượng hoàn thành quy ước

Khoá luận tốt nghiệp
Như vậy, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối liên hệ mật thiết
với nhau. Chi phí sản xuất trong kỳ là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành của sản phẩm
hoàn thành. Quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
1.5. Đối tượng và phương pháp kế toán chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà các chi phí sản xuất
cần được tổ chức kế toán theo đó.
Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần thiết của công
tác kế toán chi phí sản xuất. Để xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất cần căn
cứ vào đặc điểm phát sinh chi phí và công dụng của chi phí trong sản xuất. Tùy theo
cơ cấu tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý kinh tế, yêu cầu kế toán kinh tế
nội bộ của doanh nghiệp mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là toàn bộ quy
trình công nghệ hay từng giai đoạn, từng quy trình công nghệ riêng biệt, Tùy theo
công nghệ sản xuất của sản phẩm, đặc điểm của sản phẩm, yêu cầu của công tác tính
giá thành sản phẩm mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng nhóm sản
phẩm, từng mặt hàng sản phẩm…
Trong sản xuất xây lắp, do đặc điểm sản phẩm xây lắp có tính đơn chiếc nên đối
tượng kế toán chi phí sản xuất thường là theo từng đơn đặt hàng hoặc một công trình,
hạng mục công trình.
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất: là một phương pháp hay hệ thống các
phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm
vi giới hạn của đối tượng kế toán chi phí. Về cơ bản, phương pháp kế toán chi phí sản
xuất trong xây dựng gồm:
 Phương pháp kế toán chi phí sản xuất theo sản phẩm hay đơn đặt hàng.
Sản phẩm hoàn chỉnh trong xây dựng cơ bản để tính giá thành có thể là một ngôi nhà,
vật kiến trúc hoàn thành. Do đặc điểm của tính chất quy trình công nghệ, đặc điểm
của loại hình sản xuất, cũng như yêu cầu tính toán chi phí theo đơn đặt hàng nên hàng
tháng, các chi phí sản xuất phát sinh có liên quan đến sản phẩm hoặc đơn đặt hàng
nào sẽ được tập hợp và phân loại chi phí vào sản phẩm hoặc đơn đặt hàng đó, Khi
sản phẩm hoàn thành, toàn bộ chi phí phát sinh từ khi khởi công đến khi hoàn thành

thực thể sản phẩm xây lắp như:
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
- Vật liệu xây dựng: là giá thành thực tế của cát, sỏi, sắt, thép, xi măng…
- Vật liệu khác: Bột màu, đinh, dây…
- Nhiên liệu: Than củi dùng để nấu nhựa rải đường…
- Vật kết cấu: Bê tông đúc sắt….
- Thiết bị gắn liền với vật kiến trúc: thiết bị vệ sinh, thông, gió…
Để theo dõi chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621 “Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp”, được mở chi tiết theo từng công trinh, hạng mục công
trình với nội dung và kết cấu như sau:
Bên nợ: - Tập hợp chi phí nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho xây dựng
công trình
Bên có: - Giá trị vật liệu xuất dùng không hết
- Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Tài khoản 621 cuối kỳ không có số dư
- Chỉ kế toán vào tài khoản 621 những chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp
để sản xuất sản phẩm xây lắp. Chi phí nguyên vật liệu phải tính theo giá thực tế khi
xuất dùng. Giá thực tế của nguyên vật liệu có thể được xác định theo một trong các
phương pháp sau:
- Giá thực tế đích danh
- Giá bình quân liên hoàn
- Giá nhập trước, xuất trước
- Giá nhập sau, xuất trước
- Giá hạch toán
Trong kỳ kế toán, thực hiện ghi chép, tập hợp chi phí nguyên vật liệu thực tế
phát sinh vào bên nợ TK 621 hoặc theo từng đối tượng sử dụng trực tiếp các nguyên
vật liệu này
Cuối kỳ kế toán, thực hiện kết chuyển, hoặc tiến hành tính phân bổ và kết
chuyển chi phí nguyên vật liệu vào các tài khoản liên quan phục vụ cho việc tính giá

(3) Tạm ứng chi phí xây lắp giao khoán nội bộ
(4) Quyết toán giá trị khối lượng đã tạm ứng
(5) Giá trị nguyên vật liệu không sử dụng hết cuối kỳ nhập lại kho
1.6.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
1.6.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
1.6.4. Kế toán chi phí sản xuất chung
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN II: THỰC TẾ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIMECO
2.1. Đặc điểm sản phẩm xây lắp ảnh hưởng đến công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần VIMECO
2.1.1. Đặc điểm sản phẩm xây lắp
Từ trước đến nay, công ty VIMECO đã tham gia rất nhiều công trình xây dựng
trên khắp cả nước, các công trình chủ yếu là thi công san đắp mặt bằng, xử lý nền đất
yếu, xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và khu công nghiệp…, tuy nhiên
những năm gần đây công ty đã mở rộng thi công các công trình thủy điện, đầu tư và
kinh doanh bất động sản…
Sản phẩm xây lắp của công ty có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn
chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài do đó để kế toán sản phẩm xây lắp
phải tiến hành lập dự toán kỹ lưỡng cho từng công trình, trong quá trình thi công phải
so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo để điều chỉnh cho phù hợp.
Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành
nhiều công việc khác nhau, các công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất
lớn các nhân tố môi trường như nắng, mưa, lũ lụt,...
Mỗi công trình đòi hỏi các loại nguyên vật liệu khác nhau, số lượng lao động
khác nhau và các chi phí phát sinh khác do đó việc quản lý các khoản mục chi phí
trên tương đối phức tạp. Đối với nguyên vật liệu phục vụ thi công, giá cả chịu sự tác
động lớn của yếu tố thị trường ảnh hưởng đến giá thành cũng như tiến độ thi công
của công trình. Lực lượng lao động tham gia thi công rất lớn gồm nhiều đối tượng

công trình
Ví dụ: Công trình “Trụ sở Bộ công an” là một đối tượng tập hợp chi phí, công
ty đã đặt mã số cho công trình này là 0717. Dưới đây là danh mục các công trình:
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Mã công trình Tên công trình
0105 Dự án thoát nước Hà Nội – CP7A
0113 Dự án Chung cư Trung Hòa – Nhân Chính
0213 San nền khu công nghiệp Cái Lân
0217 Dự án khu đô thị Cao Xanh Hà Khánh
0302 Dự án trụ sở + Chung cư Trung Hòa 1
0304 Dự án quốc lộ 6 – Sơn La
0305 Khách sạn Suối Mơ
0308 Thủy điện Ngòi Phát
…………..
0801 Bảo tàng Hà Nội
0802 Thủy điện Đăk Tit
….
Tại công ty, khi tập hợp chi phí thì những chi phí liên quan trực tiếp đến công
trình, hạng mục công trình thì tập hợp trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công
trình đó (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp). Trường hợp
không hạch toán trực tiếp được thì tiến hành tổng hợp rồi phân bổ cho các đối tượng
liên quan theo sản lượng.
Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của công ty VIMECO là xây dựng các
công trình kỹ thuật hạ tầng
Do phạm vi hoạt động của công ty trên khắp cả nước, nhiều công trình được
thực hiện đồng thời cùng một lúc. Tại thời điểm tháng 4/2009, công ty đang thi công
30 công trình nhưng do khuôn khổ chuyên đề có hạn nên trong chuyên đề này em xin
trình bày kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp của công trình
Trụ sở Bộ công an.

công ty. Sau khi nhận được quyết định này, chỉ huy trưởng công trình thay mặt công
ty, chủ động tìm nguồn cung cấp nguyên vật liệu. Quá trình thu mua nguyên vật liệu
đòi hỏi một số tiền lớn nên chỉ huy trưởng công trình viết giấy đề nghị tạm ứng.
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Phòng tài chính kế toán sau khi kiểm tra tính hợp lệ của giấy đề nghị tạm ứng sẽ giải
quyết việc tạm ứng tiền cho chỉ huy trưởng công trình. Sau khi nhận được tiền tạm
ứng, chỉ huy trưởng công trình sẽ tiến hành đi mua nguyên vật liệu dựa trên định mức
mà công ty quy định. Nguyên vật liệu được chuyển tới chân công trình theo hợp đồng
kinh tế cung cấp nguyên vật liệu ký giữa công ty VIMECO và nhà cung cấp. Trên cơ
sở nguyên vật liệu mua về, kế toán công trình lập “Phiếu nhập kho”. Do nguyên vật
liệu mua về xuất dùng ngay cho thi công công trình nên kế toán công trình cũng lập
luôn “Phiếu xuất kho”.
Quá trình này làm phát sinh các chứng từ sau:
 Quyết định giao nhiệm vụ của giám đốc công ty
 Giấy đề nghị tạm ứng của chỉ huy trưởng công trình
 Hợp đồng kinh tế cung cấp nguyên vật liệu, phụ lục hợp đồng mua bán (ký kết
bổ sung do ảnh hưởng biến động giá của nguyên vật liệu)
 Hóa đơn giá trị gia tăng
 Phiếu nhập kho
 Phiếu xuất kho
Ngoài ra kế toán vật tư còn lưu trữ một số chứng từ kèm theo hóa đơn giá trị gia
tăng và phiếu nhập, xuất kho:
 Báo cáo sản lượng thực hiện và vật tư tiêu hao
 Biên bản đối chiếu công nợ
 Biên bản đối chiếu khối lượng
 Bản đối chiếu bán hàng
 Bảng kê khối lượng vận chuyển nguyên vật liệu
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp

- Căn cứ vào bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Căn cứ vào luật xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội khóa
XI, kỳ họp thứ 4
- Căn cứ Nghị định só 99/2004/NĐ-CP ngày 113/06/2004 về quản lý chi phí đầu tư
xây dựng cơ bản
- Căn cứ thông tư 06/2007/TT-BXD ngày 25/07/2007 của bộ xây dựng hướng dẫn
hợp đồng trong hoạt động xây dựng
- Căn cứ vào nhu cầu và năng lực các bên
Chúng tôi gồm:
ĐẠI DIỆN BÊN A: CÔNG TY CỔ PHẦN VIMECO
Đại diện : Ông Trần Tuấn Anh Chức vụ: Tổng giám đốc
Địa chỉ : E9 Đường Phạm Hùng – Trung Hòa – Cầu Giấy – HN
ĐẠI DIỆN BÊN B: CÔNG TY TNHH HẢI ANH – đại lý phân phối xi măng Nghi
Sơn
Đại diện : Ông Trần Viết Cảnh Chức vụ : Giám đốc
Địa chỉ : Nhà A2 – Lô số 7 – KĐT Nghĩa Đô – P. Dịch Vọng – Q. Cầu
Giấy – Hà Nội
SV: Nguyễn Thị Liên - Kế toán 47C
Khoá luận tốt nghiệp
Hai bên cùng nhau thống nhất ký hợp đồng kinh tế với các điều khoản sau:
Điều I:
Bên A nhất trí giao cho bên B đảm nhân việc cung cấp xi măng cho bên A thực hiện
thi công công trình Trụ sở Bộ công an
- Thời gian cung cấp: Theo yêu cầu của bên A
- Giá bán chưa có thuế: 670.200 đồng/tấn
- Thuế giá trị gia tăng: 10%
- Khối lượng: 20 tấn
- Tổng giá trị: 14.744.400 đồng
Tổng số tiền (viết bằng chữ): Mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status