Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
Báo cáo thực tập đề tài
"Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món
bánh phu thê"
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 1
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhắc đến văn hóa Việt chúng ta không thể không nhắc đến văn hóa
ẩm thực bởi văn hóa bao gồm nhiều thành tố, ẩm thực cũng là một trong
những thành tố của văn hóa. Trong muôn ngàn hương vị phong phú của món
ăn Việt Nam, món ăn từng vùng miền tạo nên một sắc thái riêng. Mỗi vùng
ngoài những đặc điểm chung, lại có lối ẩm thực riêng mang sắc thái và đặc
trưng của vùng đất đó. Đó là phong tục, thói quen và văn hóa của từng vùng.
Cái chung, cái riêng hòa trộn khiến phong cách ẩm thực Việt Nam rất phong
phú. Mỗi vùng, miền đều có cách chế biến món ăn khác nhau, cách thưởng
thức khác nhau.
Cũng như nhiều địa phương khác, trên mảnh đất Việt Nam mỗi nơi
đều có những món bánh tuy dân dã nhưng mang đậm bản sắc vùng miền.
Nhắc tới vùng quê Kinh Bắc với những điệu quan họ làm say đắm lòng
người, ta không thể không nhắc đến một loại bánh ngon nổi tiếng và được
coi là đặc sản của Bắc Ninh: bánh phu thê. Bánh phu thê có ở rất nhiều nơi,
nhưng nổi bật nhất là ở làng Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh -
nơi giữ được truyền thống lâu đời làm bánh phu thê. Từ khi ra đời cho đến
nay, bánh phu thê vẫn giữ nguyên vẹn giá trị và gắn bó gần gũi với đời
sống của mọi người dân Bắc Ninh.
Đây là món bánh đặc sản của vùng luôn gây sự chú ý cho mọi
người khi đặt chân đến Bắc Ninh. Ai chưa được ăn thì bị hấp dẫn bởi cái
tên, còn ai đã từng một lần thưởng thức thì không thể quên hương vị độc đáo
của nó. Qua món bánh phu thê ta có thể hiểu hơn về văn hóa ẩm thực của
người miền Bắc nói chung, người Bắc Ninh nói riêng trên cả phương diện
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 3
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
:Trong cuốn sách “Văn hóa ẩm thực Việt Nam – Các món ăn miền Bắc” do
Băng Sơn, Mai Khôi biên khảo và sáng tác đã nêu những kiến thức cơ bản
nhất về món bánh này. Cuốn sách không chỉ đề cập đến xuất xứ và nghệ
thuật chế biến bánh phu thê mà còn giới thiệu bản sắc của văn hóa ẩm thực
Bắc Ninh qua cách chế biến. Nhưng với sự nghiên cứu dàn trải các món ăn
miền Bắc nên phần viết về bánh phu thê chỉ là một mảng nhỏ.Bàn về món ăn
Việt Nam chúng ta không thể không nhắc đến công trình nghiên cứu “Văn
hóa ẩm thực Kinh Bắc” của Trần Quốc Thịnh. Tác giả đã viết về một kho
tàng văn hóa ẩm thực Kinh Bắc. Chúng ta rất ngạc nhiên khi được tác giả
cho biết vùng đất được gọi là "Xứ Bắc - Kinh Bắc - Hà Bắc - Bắc Ninh", quê
hương của các vua triều Lý (thế kỷ XI - XII) đã sáng tạo thành công một kho
tàng văn hóa ẩm thực đồ sộ đếm được trên một ngàn món ăn: món ăn theo
phong tục, theo tập quán: món xôi chè, món cơm cháo, món bánh kẹo, món
đường mứt, các món rượu, các món bánh… kèm theo là gần một trăm giai
thoại và truyện cười liên quan tới việc ăn uống quá dồi dào và độc đáo ở
vùng đất kỳ lạ này trên bản đồ văn hóa ẩm thực Việt Nam. Trong cuốn sách
tác giả có viết về bánh phu thê ở vùng Kinh Bắc. Tuy vậy tác giả chỉ nghiên
cứu một cách tổng quát về nguồn gốc, xuất xứ, cách thức làm bánh mà chưa
đi vào tìm hiểu sâu ý nghĩa của bánh phu thê.Trong cuốn “Giáo trình văn
hóa ẩm thực Việt Nam” của Nguyễn Thị Diệu Thảo có viết về các đặc sản
tiêu biểu ở các vùng miền khắp đất nước trong đó có tìm hiểu về xuất xứ
cũng như đặc điểm bánh phu thê ở Bắc Ninh. Tuy vậy cuốn sách chỉ tìm
hiểu về ý nghĩa tên bánh mà không nghiên cứu sâu về món bánh nên không
thấy được bản sắc văn hóa của Bắc Ninh thể hiện qua món bánh.Cuốn sách
“Bản sắc ẩm thực Việt Nam” do Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã chủ biên viết về
văn hóa ẩm thực theo vùng miền trong đó có nêu lên bản sắc của văn hóa ẩm
thực Bắc Ninh nói chung.Cuốn "Các món ăn dân tộc cổ truyền" của tác giả
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 4
Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau :
Phương pháp lịch sử - logic
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp thực chứng - khảo sát
Phương pháp tổng quan tư liệu
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, đề tài còn có phần mục lục và
thư mục tài liệu tham khảo.
Phần nội dung gồm hai chương chính:
Chương I: Tổng quan về Bắc Ninh và ẩm thực Bắc Ninh
Chương II: Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 6
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
NỘI DUNG
Chương I. Tổng quan về Bắc Ninh và ẩm thực Bắc Ninh
1.1. Tổng quan về Bắc Ninh
1.1.1. Vị trí địa lý
Bắc Ninh là tỉnh nằm ở khu trung tâm của vùng đồng bằng Bắc Bộ,
giáp ranh giữa vùng đồng bằng sông Hồng và vùng trung du Bắc Bộ, có tọa
độ là 21
0
00' - 21
0
05' Bắc, 105
0
45' - 106
0
15' Đông. Phía Tây và Tây Nam giáp
Phần lớn diện tích là đồng bằng, đồi núi chỉ chiếm khoảng 0,53%, chủ
yếu tập trung ở hai huyện Quế Võ và Tiên Du. Nhìn chung, bề mặt địa hình
của tỉnh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và
từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống
và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng
thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7 m, địa hình trung du (hai huyện Quế
Võ và Tiên Du) có độ cao phổ biến 300 - 400m. Diện tích đồi núi chiếm tỷ
lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Ngoài ra còn một
số khu vực thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lung Tài, Quế Võ,
Yên Phong.
Đặc điểm nổi bật của địa hình là đồng bằng chiếm diện tích lớn trong
tổng số diện tích đất tự nhiên của tỉnh nên có điều kiện sản xuất lương thực,
thực phẩm… tạo điều kiện thuận lợi để Bắc Ninh trở thành một vùng nông
nghiệp trù phú.
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 8
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
1.1.2.2. Khí hậu
Bắc Ninh thuộc đới khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và
mùa khô rõ rệt, phân làm bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông). Lượng mưa trung
bình trong năm 1.800mm, số giờ nắng khoảng 1.700 giờ/năm, thích hợp cho
trồng lúa và các cây công nghiệp, cây thực phẩm khác. Hàng năm có 2 mùa
gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam. Gió mùa Đông Bắc
thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông Nam
thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm gây mưa rào. Mưa tập
trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa
trong năm.
Với kiểu khí hậu 4 mùa có mùa đông lạnh đã làm cho khí khí hậu Bắc
Ninh dịu hoà, thích hợp với nhiều loại cây trồng và gia súc và cũng thích
hợp với điều kiện sinh lí của con người, thuận lợi cho sự pháp triển kinh tế
chiếm 23,5%, đất chưa sử dụng còn 11,1%. Đất đai được phù sa các sông
Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình bồi đắp quanh năm nên khá màu mỡ.
Cả tỉnh còn 12.750 ha đất trũng ngập ở các huyện: Gia Bình, Quế Võ,
Lương Tài, Yên Phong. Đất mặt nước chưa sử dụng là 3.114,5 ha, diện tích
một vụ còn 7.462,5 ha. Tiềm năng đất đai của tỉnh còn lớn, có thể khai thác
sử dụng để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế.
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 10
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
1.1.4. Dân số
Theo số liệu thống kê năm 2007, Bắc Ninh có 1.028.844 người. Trong
đó dân số nông thôn chiếm trên 76,5%, dân số thành thị chiếm 23,5%.
Thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch theo cơ cấu tăng dân số
thành thị và giảm dân số nông thôn.
Dân số Bắc Ninh là dân số trẻ, trên 60% trong độ tuổi lao động. Với
chất lượng ngày càng được nâng cao, đội ngũ dân số trẻ này là lực lượng lao
động hùng hậu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế, văn
hóa - xã hội của tỉnh.
1.1.5. Kinh tế
Cùng với sự phát triển của cả nước, trong những năm qua kinh tế Bắc
Ninh có những bước phát triển đáng kể. Sản xuất hàng hoá phát triển, cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là
sản xuất lương thực tăng trưởng cao. Công nghiệp, dịch vụ, nhất là công
nghiệp nông thôn được phát triển thích ứng dần với cơ chế thị trường. Sản
xuất kinh doanh phát triển đều cả về quy mô và chất lượng. Đặc biệt hệ
thống 61 làng nghề truyền thống như: đúc đồng (Đại Bái - Gia Bình), sắt
thép (Gia Hội - Từ Sơn), gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ - Kim Sơn) đã và đang
phát triển thành thế mạnh và tiềm năng lớn góp phần không nhỏ cho sự phát
triển kinh tế của tỉnh. Đồng thời với hàng loạt địa danh gắn liền với các di
tích – lịch sử, nhiều lễ hội truyền thống đã thu hút đông đảo khách du lịch
góp phần phát triển du lịch Bắc Ninh để phát triển kinh tế nói chung.
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 12
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
1.1.6. Văn hóa – xã hội, di tích lịch sử
Bắc Ninh được coi là “Vùng đất Văn hiến”, nằm ở trung tâm của châu
thổ sông Hồng, là nơi gặp gỡ, giao hội của các mạch giao thông thuỷ, bộ nên
tỉnh sớm trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa với một vị trí đặc biệt trong
lịch sử dân tộc và văn hoá Việt Nam.
Đây là địa bàn cư trú của người Việt cổ, đồng thời là bộ phận cốt lõi
của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc. Từ mấy nghìn năm trước, người Việt cổ đã
cư trú và lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện
Khê, sông Tiêu Vương sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp kết hợp
làm thủ công mỹ nghệ.
Khu di tích Luy Lâu rộng hàng trăm ha với hệ thống các công trình
thành luỹ, đền chùa, phố xá, chợ, bến, kho tàng, dinh thự, các khu sản xuất
gạch ngói, các làng nông nghiệp, làng thợ, làng buôn, khu môn địa Đây
còn là khu di tích thời Bắc thuộc lớn nhất Việt Nam hiện nay.
Cùng với quá trình giao lưu, hội nhập và trao đổi kinh tế là quá trình
tiếp xúc, hội nhập văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo giữa Việt Nam và các nước
trong khu vực mà trung tâm cũng vẫn là Luy Lâu. Nơi đây còn nổi tiếng với
trung tâm Phật giáo và những ngôi chùa có quy mô to lớn, cổ kính, kiến trúc
rất công phu, tài nghệ như: chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm, chùa Bút
Tháp, chùa Tiêu Sơn, Cổ Pháp
1.1.6.1. Lễ hội
Bắc Ninh được mệnh danh là vương quốc của lễ hội với sinh hoạt văn
hoá dân gian nổi tiếng chủ yếu là hội chùa, hội đền. Hàng năm, trên địa bàn
tỉnh diễn ra hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau. Trong đó có nhiều lễ hội lớn
nổi tiếng cả vùng và cả nước như: hội Gióng (9-4), hội Dâu (8-4), hội đền
Đô, hội Lim, hội Chùa Phật Tích
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 13
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
về món ăn và cách thức chế biến bởi ẩm thực Hà Nội là đại diện tiêu biểu
nhất của tinh hoa văn hóa miền Bắc Việt Nam. Đó là bản sắc văn hóa ẩm
thực của Bắc Ninh.
Chương II: Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê
2.1. Giới thuyết thuật ngữ
2.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của
xã hội loài người.
Theo tài liệu năm 1995 của UNESCO thì “văn hóa” có thể được hiểu
theo hai nghĩa: Thứ nhất, văn hóa của một nước là những sinh hoạt trong
“lĩnh vực văn hóa”, hay là “khu vực công nghiệp văn hóa” của nước ấy. Đó
là viết văn, làm thơ, tạc tượng, vẽ tranh… nói chung là những hoạt động có
tính văn chương nghệ thuật. Thứ hai, nhìn theo quan điểm nhân chủng và xã
hội học, văn hóa là tập hợp những phong thái, tập quán, tín ngưỡng, là nền
tảng, là chất keo không thể thiếu cho sự vận hành nhuần nhuyễn của xã hội.
Nó là hiện thân những giá trị được cộng đồng chấp nhận, dù có thể biến đổi
từ thế hệ này sang thế hệ khác.Văn hóa gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi
vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và khía cạnh vật chất như
nhà cửa, quần áo, các phương tiện… Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản
phẩm và đó là một phần của văn hóa.Văn hóa là sản phẩm của loài người,
văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã
hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự
bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong
quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 15
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình
thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật
chất và tinh thần mà do con người tạo ra.Như vậy, có thể xem văn hóa là cái
uống rượu”.
2.1.4. Khái niệm văn hoá ẩm thựcTrong cuốn “Từ điển Việt Nam thông
dụng”, định nghĩa văn hóa ẩm thực được hiểu theo 2 nghĩa:
Theo nghĩa rộng, “Văn hóa ẩm thực” là một phần văn hóa nằm trong
tổng thể, phức thể các đặc trưng diện mạo về vật chất, tinh thần, tri thức, tình
cảm… Khắc họa một số nét cơ bản, đặc sắc của một cộng đồng, gia đình,
làng xóm, vùng miền, quốc gia… Nó chi phối một phần không nhỏ trong
cách thức ứng xử và giao tiếp của một cộng đồng, tạo nên đặc thù của cộng
đồng ấy.Theo nghĩa hẹp, “Văn hóa ẩm thực” là những tập quán và khẩu vị
của con người, những ứng xử của con người trong ăn uống, những tập tục
kiêng kỵ trong ăn uống, những phương thức chế biến bày biện trong ăn uống
và cách thưởng thức món ăn.
Hay có định nghĩa nêu “Văn hoá ẩm thực” là những gì liên quan đến
ăn, uống nhưng mang nét đặc trưng của mỗi cộng đồng cư dân khác nhau,
thể hiện cách chế biến và thưởng thức các món ăn, uống khác nhau, phản
ảnh đời sống kinh tế, văn hoá - xã hội của tộc người đó.
Theo Jean Anthelme Brillat Savarin “Văn hóa ẩm thực” là một biểu
hiện quan trọng trong đời sống con người, nó cũng hàm chứa những ý nghĩa
triết lý, là những gì chính tạo hóa giúp con người kiếm thức ăn, nuôi sống họ
lại còn cho họ nếm mùi khoái lạc với các món ăn ngon.
Như vậy, “Văn hóa ẩm thực” là một phần của văn hóa ứng xử, thể
hiện những thói quen ăn uống và cách thức chế biến món ăn của mỗi dân
tộc, mỗi khu vực khác nhau.
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 17
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
2.2. Giới thiệu món bánh phu thê ở Bắc Ninh
2.2.1. Nguồn gốcCó rất nhiều truyền thuyết, tục truyền liên quan đến nguồn
gốc ra đời món bánh phu thê.
Theo truyền thuyết, Lý Thánh Tông cùng vợ là Nguyên Phi Ỷ Lan về
quê lễ Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông ở Đền Đô. Tại đây, dân làng đã dâng
phu thê thường hay có mặt trong các tiệc cưới nhằm nhắn nhủ lời thuỷ
chung đến các đôi vợ chồng trẻ.
Tuy có nhiều truyền thuyết về món bánh phu thê nhưng dù thế nào đi
nữa thì món bánh này đều bắt nguồn từ tình cảm vợ chồng. Mỗi một vùng,
mỗi một thời kì đều có sự khác nhau về nguồn gốc bánh phu thê nhưng tựu
trung lại vẫn xoay quanh câu chuyện tình nghĩa vợ chồng đầy cảm động.
2.2.2. Xuất xứ
Bánh phu thê xuất xứ từ làng Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh – nơi gắn bó
với phát tích của triều Lý. Làng Đình Bảng là nơi đầu tiên làm ra loại bánh
này và kể từ đó làng có thêm nghề làm bánh.
2.2.3. Ý nghĩa của tên gọi
Bánh trước đây có tên là bánh su suê, sau gọi chệch thành bánh phu
thê. Bánh thường đi thành từng cặp và là một trong những lễ vật không thể
thiếu trong đám cưới hỏi của người dân Kinh Bắc. Bánh phu thê hàm chứa
một câu chuyện cảm động về tình vợ chồng đằm thắm, gắn bó keo sơn. Điều
này cũng dễ lý giải bởi hai chữ "phu thê" trong tiếng Hán vốn có nghĩa "vợ
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 19
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
chồng" và trong thực tế loại bánh này cũng thường được dân gian dùng
nhiều vào những dịp cưới hỏi.
Sở dĩ gọi là bánh phu thê vì đó là biểu tượng của đôi vợ chồng phận
đẹp duyên ưa: vuông tròn, trong trắng mềm dẻo, ngọt ngào, thơm tho, xanh
thắm, đồng thời cũng là biểu tượng của đất trời (trời tròn, đất vuông) có âm
dương ngũ hành: ruột trắng, nhân vàng, hai vỏ xanh úp lại buộc bằng sợi dây
hồng. Bánh phu thê tức là bánh vợ chồng, bánh âm dương, bánh giao hòa
gắn bó.
Và tên gọi ấy như ý nghĩa hơn khi người vợ đã khéo léo đưa triết lí
âm dương vào chiếc bánh với vỏ bánh vuông, nhân bánh tròn như là biểu
tượng cho sự hòa hợp của đất trời, của tình phu thê. Từ đó tới nay, bánh phu
thê thường xuất hiện trong tráp lễ ăn hỏi để nhắn nhủ các tân lang, tân nương
Nhân bánh muốn ngon thì tất cả các nguyên liệu làm nhân bánh cũng
phải là những loại hảo hạng. Nhân bánh là sự kết hợp giữa đậu xanh, đường
trắng, dừa tươi và hạt sen. Đậu xanh phải là loại đỗ hạt nhỏ, ruột có màu
vàng óng. Đậu xanh sau khi ngâm thì đãi sạch vỏ, đem đồ chín giã nhuyễn,
nắn thành nắm to, dùng dao sắc thái cho thật tơi. Tương tự, hạt sen cũng
được luộc chín, để ráo nước, giã nhuyễn. Đậu xanh trộn với đường trắng, cùi
dừa, hạt sen và các hương ngũ vị để tạo vị thơm ngon, hấp dẫn. Đặt lên bếp
xào kỹ, khi thấy đậu ráo dẻo và mịn mới cho mỡ nước và nước hoa bưởi
đánh đều. Bắc ra viên thành từng viên to, nhỏ tùy ý (mỗi viên là một nhân
bánh). Để nhân bánh có mùi thơm có thể cho thêm một chút dầu chuối.
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 21
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
∗ Nặn bánh
Công đoạn tiếp theo là nặn bánh. Để tạo ra hình dạng chiếc bánh phu
thê, người thợ làm bánh dàn mỏng bột lên khuôn, đặt nhân vào giữa rồi đắp
phần bột còn lại lên nhân như thể hiện sự ôm ấp, che chở của tình nghĩa phu
thê.
∗ Gói bánh
Bánh được gói thành hai lớp. Bên trong là lớp lót lá chuối tiêu có mùi
thơm dịu, bên ngoài được bọc bằng lá dong và buộc một sợi lạt đỏ buộc
thành từng cặp.
Lá gói bánh cũng là lá dong gói bánh chưng, nhưng phải làm kỹ hơn,
sau khi rửa sạch lá để ráo nước người ta phải tước bớt cọng để khi gói bánh
được mềm mại. Lá lót trong phải là lá chuối tây dẻo luộc chín hong khô chứ
không được dùng lá chuối tiêu. Người ta còn quét lên lá một lớp mỡ để khi
bóc bánh không bị dính, lại làm cho bánh có độ ngậy đặc trưng.
Khi gói bánh thì lấy ít bột đặt vào lá (đã xoa mỡ) dàn mỏng, cho nhân
vào giữa bao kín nhân gói lại, gói thêm một lượt lá ngoài, nắn cho bánh
thành hình vuông.
∗ Luộc bánh
được toả ra từ lúa nếp cái
hoa vàng, cộng với vị bùi
béo của đậu xanh, dừa,
SVTH: Đinh Thị Vượng – Lớp 08CVHH Trang 23
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh qua món bánh phu thê GVHD: TH.S ĐẶNG THỊ LAN
mứt sen, hương bưởi, nước quả dành dành. Khi ăn bánh ta sẽ thấy độ dẻo
của nếp, độ giòn của đu đủ, độ ngậy của đỗ xanh, vị béo của cùi dừa, vị bùi
của hạt sen, vị ngọt của đường, mùi thơm của vừng Tất cả hòa quyện vào
nhau làm thành hương vị rất riêng của bánh. Vì vậy ăn một miếng bánh
người ta nghĩ đến sự thưởng thức của một thú vui tao nhã mà cầu kỳ lịch sự.
Khi cầm cặp bánh trên tay, cẩn thận tháo từng sợi lạt, lớp lá dong và lá
chuối, vị béo, ngọt, mịn màng và thơm lừng trong từng miếng bánh ngấm
dần trên đầu lưỡi khiến cho bất kỳ ai khi có dịp thưởng thức cũng sẽ có cảm
giác ngon miệng, độc đáo và nồng nàn đến khó quên. Tất cả đều thể hiện sự
đằm thắm, ngọt ngào trong nghĩa tình vợ chồng.
2.3. Đặc trưng văn hóa ẩm thực qua món bánh phu thê
2.3.1. Tính hài hòa trong món bánh phu thê
2.3.1.1. Hài hòa trong nguyên liệu làm bánh
Bánh phu thê là một loại bánh được tạo nên bởi sự pha trộn tổng hợp
giữa những nguyên liệu truyền thống được làm từ những sản vật đồng quê
hết sức quen thuộc đối với mỗi người dân đất Việt như: gạo nếp, quả dành
dành, hạt vừng, hạt sen, đu đủ Những thứ tưởng chừng như dung dị, nhưng
khi qua bàn tay khéo léo của người làm bánh, chúng lại trở thành sản vật
mang hương vị rất riêng và
chứa đựng nhiều giá trị
nhân văn sâu sắc.
2.3.1.2. Hài hòa trong
màu sắc của bánh
Bánh phu thê không
lẫn với bất cứ một thứ