Phần I: Các vấn đề chung về quỹ đầu tư
I. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quỹ đầu tư
1. Khái niệm
Quỹ đầu tư là một định chế tài chính phi ngân hàng huy động vốn bằng hình thức chung vốn đầu
tư hay là một tập hợp vốn đa sở hữu từ đóng góp của những cá nhân hay tổ chức có tiền muốn
cùng nhau đầu tư nhằm tăng cường tính chuyên nghiệp của việc đầu tư. Quỹ sẽ do các chuyên
gia đầu tư, đại diện cho các nhà đầu tư, thực hiện đầu tư vào một danh mục tài sản (danh mục
đầu tư) được thiết kế theo chính sách của quỹ.
Theo Luật Chứng khoán 2006, quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà
đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư
khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc
ra quyết định đầu tư của quỹ.
2. Đặc điểm
Quỹ đầu tư chứng khoán luôn dành đa số vốn đầu tư của quỹ để đầu tư vào chứng khoán.
Quỹ có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng và hợp lý theo quyết định của các nhà đầu tư
nhằm tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. Ngoài việc chủ yếu đầu tư vào chứng khoán, quỹ
đầu tư chứng khoán có thể tiến hành đầu tư vào những lĩnh vực khác như góp vốn, kinh doanh
bất động sản
Quỹ đầu tư chứng khoán được quản lý và đầu tư một cách chuyên nghiệp bởi công ty quản
lý quỹ đầu tư chứng khoán. Các nhà đầu tư đã uỷ thác cho công ty quản lý quỹ đầu tư chứng
khoán việc quản lý quỹ và tiến hành hoạt động đầu tư chứng khoán từ số vốn của quỹ. Quỹ cũng
cần phải có một ngân hàng giám sát. Ngân hàng này sẽ giám sát, giúp đỡ quỹ hoạt động đúng
mục tiêu mà các nhà đầu tư đã đề ra, tránh tình trạng công ty quản lý quỹ tiến hành các hoạt động
đi ngược lại lợi ích của nhà đầu tư.
Quỹ đầu tư chứng khoán có tài sản độc lập với tài sản của công ty quản lý quỹ và các quỹ
khác do công ty này quản lý. Đặc điểm này đảm bảo việc đầu tư của quỹ tuân thủ đúng mục đích
đầu tư, không bị chi phối bởi lợi ích khác của công ty quản lý quỹ.
3. Vai trò của quỹ đầu tư
Vai trò của quỹ đầu tư thường thể hiện ở những khía cạnh sau:
• Góp phần huy động vốn cho phát triển nền kinh tế nói chung và vào sự phát triển của thị
trường sơ cấp, chuyển số vốn này từ tiết kiệm vào đầu tư.
mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư. Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi
kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị
trường chứng khoán. Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc
chứng chỉ đầu tư của mình thông qua thị trường thứ cấp. Tổng vốn huy động của quỹ cố
định và không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động.
• Quỹ mở: là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua
lại theo yêu cầu của nhà đầu tư. Loại quỹ này có số vốn và số thành viên luôn biến động.
Với hình thức này, các giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với
công ty quản lý quỹ và các chứng chỉ quỹ không được niêm yết trên thị trường chứng
khoán. Do việc đòi hỏi tính thanh khoản cao, hình thức quỹ mở thường chỉ xuất hiện ở
những quốc gia có nền kinh tế và thị trường chứng khoán phát triển như Mỹ, Canada,
Anh, Đức, Nhật Bản
Huy động vốn để thành lập quỹ đại chúng:
Việc huy động vốn của quỹ đại chúng được công ty quản lý quỹ thực hiện trong thời hạn 90
ngày, kể từ ngày Giấy chứng nhận chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng có hiệu lực. Quỹ đại
chúng được thành lập nếu có ít nhất 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên
nghiệp mua chứng chỉ quỹ và tổng giá trị chứng chỉ quỹ đã bán đạt ít nhất là 50 tỷ đồng Việt
Nam. Toàn bộ vốn góp của nhà đầu tư phải được phong toả tại một tài khoản riêng đặt dưới sự
kiểm soát của ngân hàng giám sát và không được sử dụng cho đến khi hoàn tất đợt huy động
vốn. Công ty quản lý quỹ phải báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước kết quả huy động vốn có
xác nhận của ngân hàng giám sát trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc việc huy động vốn.
Công ty quản lý quỹ phải chịu mọi phí tổn và nghĩa vụ tài chính phát sinh từ việc huy động vốn.
Ưu điểm của quỹ đại chúng:
• Quỹ đại chúng có khả năng huy động vốn rộng rãi thông qua việc chào bán chứng khoán
ra công chúng. Điều này cho phép quỹ có thể được niêm yết trên thị trường giao dịch tập
trung và làm tăng khả năng thu hút các nhà đầu tư cũng như làm tăng giá trị cho chứng
chỉ quỹ. Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng ưa thích quỹ này vì khả năng thanh khoản cao của
chứng chỉ quỹ.
• Quỹ đại chúng có khả năng thu hút được những nhà đầu tư nhỏ và không chuyên nghiệp.
Lượng vốn do các nhà đầu tư nhỏ và không chuyên nghiệp nắm giữ trong nền kinh tế là
Quỹ được uỷ thác cho một Công ty quản lý quỹ được cấp phép quản lý quỹ thực hiện
việc quản lý.
Tài sản của Quỹ thành viên được lưu ký tại một Ngân hàng lưu ký không phải là người
có liên quan tới Công ty quản lý quỹ.
Trong quá trình thành lập quỹ, các tổ chức, cá nhân tham gia thành lập quỹ không được sử dụng
các phương tiện thông tin đại chúng để quảng cáo, kêu gọi góp vốn, thăm dò thị trường. Vốn của
quỹ chỉ được giải ngân sau khi có thông báo xác nhận việc lập quỹ của Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước.
Ưu điểm của quỹ thành viên:
• Quỹ thành viên thường đưa ra những quyết định quan trọng một cách nhanh chóng do số
lượng thành viên ít nên dễ nhóm họp hơn. Ngoài ra, các thành viên của quỹ cũng có tính
chuyên nghiệp và kiến thức chuyên môn.
• Thành viên của quỹ có quyền năng cao hơn trong điều hành quỹ so với quỹ đại chúng.
Nhược điểm của quỹ đại chúng:
• Quỹ thành viên thường không có cơ hội cho những nhà đầu tư nhỏ tham gia.
• Những nhà đầu tư nhỏ không có đủ khả năng góp vốn lớn để đảm bảo nguồn vốn của
quỹ.
• Quỹ thành viên không bắt buộc phải có ngân hàng giám sát, do đó, nếu cơ chế quản lý
lỏng lẻo, có thể sẽ không kiểm soát được một cách tốt nhất những rủi ro trong đầu tư hay
ngăn chặn những hành vi gian lận từ công ty quản lý quỹ hoặc của nhân viên.
2. Theo mục đích đầu tư
- Quỹ đầu tư theo danh mục (quỹ quốc gia)
- Quỹ đầu tư cổ phần tư nhân (Quỹ đầu tư trực tiếp)
- Quỹ đầu tư mạo hiểm (VC)
- Quỹ tương hỗ trong nước (quỹ tín thác)
3. Theo đối tượng đầu tư
- Quỹ đầu tư cổ phiếu: Quỹ đầu tư cổ phiếu là quỹ đầu tư sử dụng hầu hết tiền vốn của quỹ để
đầu tư vào các loại cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi hay trái phiếu.
• Quỹ phát triển
• Quỹ thu nhập phát triển
Chi phí liên quan tới hoạt động
- Chi phí tư vấn đầu tư.
- Phí lưu giữ và bảo quản tài sản của quỹ
- Lãi suất trong trường hợp quỹ phải vay ngắn hạn, thuế (nếu có)
- Chi phí phải trả cho các tổ chức định giá các koản đầu tư của quỹ
- Phí quản lý quỹ
Các chi phí quản lý hành chính khác:
- Phí lập các báo cáo cho các cổ đông, người hưởng lợi
- Phí duy trì quản lý tài khoản của người đầu tư
- Phí kiểm toán
- Phí trả cho những người điều hành quỹ
- Phí cho các dịch vụ pháp lý.
- Phí liên quan đến các khoản vay của quỹ
- Phí và lệ phí mà quỹ phải thanh toán theo quy định của pháp luật
- Phí thay đổi các quy định của hợp đồng tín thác theo yêu cầu của cổ đông (nếu có)
- Phí tổ chức đại hội cổ đông hoặc đại hội các nhà đầu tư của quỹ.
- Các chi phí khác theo quy định củ điều lệ quỹ.
2. Các thành tố về thu nhập của quỹ đầu tư
Thu nhập của quỹ đầu tư có được từ nhiều nguồn vốn như:
Thu nhập từ lãi suất, thu nhập cổ tức, lãi trái phiếu, các khoản lãi hoặc lỗ khi bán các khoản
đầu tư, giá trị thu được từ cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư được phát hành, lãi tiền gửi,các
khoản thu nhập khác.
Việc phân phối thu nhập của quỹ phải tuân thủ các quy định sau :
- Phần còn lại của thu nhập của quỹ sau khi trừ các chi phí của quỹ được phân phối cho
người đầu tư theo nguyên tắc: chỉ người đầu tư được ghi tên trong danh sách của người
đầu tư lập vào ngày đăng ký cuối cùng được quyền nhận thu nhập phân phối.
- Quy trình và thủ tục phân phối thu nhập của quỹ cho người đầu tư được thực hiện theo
quy định của pháp luật về đăng ký, lưu ký, thanh toán bù trừ và thanh toán chứng khoán.
3. Chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh của quỹ đầu tư.
Tổng thu nhập của quỹ:
hình thành nên quỹ được chia thành các đơn vị và quỹ phát hành chứng chỉ quỹ để xác nhận số
vốn mà người đầu tư góp vốn vào quỹ.
2, Hoạt động đầu tư
-Nghiên cứu: các công ty quản ly quỹ luôn có các bộ phận và chuyên gia nghiên cứu và phân tích
tình hình, từ đó đưa ra dự đoán
-Phân tích rủi ro lợi nhuận liên quan đến phân tích lập phương án quỹ, dự đoán thu nhập và đánh
giá rủi ro
-Lựa chọn mục tiêu quỹ: Mục tiêu này phải cụ thể hóa được tỷ lệ sinh lời kỳ vọng và rủi ro chấp
nhận đối với sản phẩm đầu tư. Có thể đó là một trong các mục tiêu ban đầu như: thu nhập, lãi
vốn, thu nhập và lãi vốn.
-Phân bổ tài sản và lựa chọn chứng khoán
Phân bổ tài sản là sự phân chia tiền của quỹ vào các rổ đầu tư theo các mục tiêu cụ thể phù hợp
với quan điểm và phán đoán đầu tư của người quản lý quỹ. Đây là việc quan trọng của quỹ. Việc
lựa chọn chứng khoán cho danh mục đầu tư là việc quyết định đầu tư vào từng loại chứng khoán
đã được phân bổ đối với tỷ trọng vốn của quỹ
3, Bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ
tài sản của quỹ do người lưu giữ do người lưu giữ (hoặc ngân hàng giám sát) kiểm soát nhằm
bảo vệ những quyền lợi
4, Định giá, phát hành và mua lại chứng chỉ
đối với quỹ mở, do thường đầu tư vào chứng khoán niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán nên
giá trị của quỹ được xác định theo giá thị trường và tuân thủ theo quy định của cơ quan quản lý
thị trường chứng khoán. Sau đó, giá trị tài sản của quỹ sẽ được chia cho số cổ phiếu hay chứng
chỉ quỹ đầu tư hiện đang lưu hành để xác định giá trị hiện tại của cổ phiếu hay chứng chỉ. Giá
bán cổ phiếu hoặc chứng chỉ sẽ bằng gía trị hiện tại cộng với một số chi phí, còn giá mua lại thì
bằng giá trị hiện tại trừ đi một số chi phí nhất định
5, Cung cấp thông tin cho nhà đầu tư
Mục đích là nhằm giúp họ đánh giá đúng thực trạng của khoản đầu tư, khả năng chuyên môn của
những người quản lý quỹ, từ đó đánh giá rủi ro, lợi nhuận
Nội dung công bố thông tin: về các BCTC, tình hình tài chính, báo cáo của công ty quản lý quỹ
Hình thức công bố thông tin thường là sử dụng các báo cáo của công ty quản lý quỹ hoặc hội
MekongEnterprise Fund Mekong Capital 2002 Vốn cổ phẩn
riêng lẻ
IDG Vietnam Ventures
Fund
IDG Venture 2004 Đầu tư công
nghệ và mạo
hiểm
IndochinaLand Holdings Indochina Capital 2005 Bất động sản
PXP Vietnam Fund PXP Vietnam Asset
Management
2003 Cổ phiếu niêm
yết, doanh
nghiệp cổ
phần hóa…
VietnamOpportunity Fund Vina Capital 2003
Vietnam Securities
Investment Fund(VF1)
Viet Fund Management 2004
Vietnam Emerging Equity
Fund
PXP Vietnam Asset
Management
2005
Vietnam Equity Fund Finansa 2005
Thống kê của www.saga.vn
2.3. Các công ty quản lý quỹ thành lập trong giai đoạn 2002-2005 :
Đơn vị tỷ đồng
Công ty quản lý quỹ Cấp phép Quỹ Vốn điều lệ
Cty liên doanh quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Việt Nam 15/07/2003 100 tỷ
• Quỹ chỉ đầu tư vào những công ty thuộc khu vực kinh tế tư nhân do các nhà doanh
nghiệp địa phương thành lập thay vì các công ty có vốn đầu tư của nước ngoài hoặc các
công ty tư nhân hóa/cổ phần hóa
• Qui mô đầu tư trung bình mà Quỹ nhắm đến nhỏ hơn các quỹ khác, điều này có nghĩa là
Quỹ đầu tư vào những công ty nhỏ hơn;
• Quỹ trợ giúp tăng giá trị cho những công ty mà Quỹ đầu tư ở những khâu quan trọng, kể
cả việc giúp những công ty này thực hiện những thay đổi cần thiết cho việc niêm yết
thành công;
• Chiến lược của Quỹ là chiến lược đầu tư tập trung chủ yếu nhắm vào các ngành kinh
doanh theo hướng xuất khẩu và sản xuất;
• Quỹ chỉ tập trung đầu tư vào những công ty có đội ngũ quản lý mạnh và cam kết tiếp tục
đẩy mạnh đội ngũ quản lý của họ;
• Quỹ rất chọn lựa trong việc thực hiện đầu tư, Quỹ thích thực hiện đầu tư không nhiều để
chỉ đầu tư vào những công ty xuất sắc mà khi đầu tư vào đó khả năng thành công cao.
Kết quả là không có công ty nào trong 10 công ty Quỹ đã đầu tư thất bại và tất cả đều
phát triển từ khoản đầu tư đầu tiên của Quỹ.
Danh mục đầu tư của quỹ :
Quỹ Mekong Enterprise Fund hiện đầu tư vào 10 công ty sau:
• Công ty Cổ phần Xây dựng Kiến trúc AA;
• Công Ty Cổ phần Tin học Lạc Việt;
• Công ty Cổ phần Dây Điện từ Ngô Han;
• Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Nam Hoa;
• Công Ty Cổ Phần Sản Xuất & Thương Mại Minh Phúc;
• Công ty Cổ Phần may Minh Hoàng;
• Công ty Cổ phần Mặt trời Vàng.
b.VOF( Vietnam opportunity fund) do VinaCapital quản lý :
VinaCapital Vietnam Opportunity Fund Ltd ("Vietnam Opportunity Fund" or VOF) là quỹ đóng
và được giao dịch trên thị trường London Stock Exchange’s Alternative Investment Market
(AIM) (VOF.L). Được thành lập năm 2003, là một trong những quỹ đầu tư thành công nhất tại
việt nam. Quỹ tập trung đầu tư vào những ngành, lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao trong nền
Những tiêu chuẩn chính bao gồm :
• Đầu tư vào các lĩnh vực đang tăng trưởng, các công ty đang được niêm yết trên thị trường
chứng khoán, sử dụng các kỹ năng phân tích chuyên nghiệp của các nhà quản lý quỹ và
công ty tư vấn, kết hợp với kinh nghiệm đầu tư của ban lãnh đạo để lựa chọn danh mục
đầu tư phù hợp với mục đích, điều lệ của quỹ, đầu tư vào những chứng khoán của các
công ty hoạt động bền vững và có tốc độ tăng trưởng hứa hẹn
• Công ty quản lý quỹ sẽ tập trung nghiên cứu tình hình của công ty có triển vọng đầu tư ở
Việt Nam và các nước khác trong khu vực thông qua tốc độ tăng trưởng về lợi nhuận , tốc
độ tăng trưởng của doanh số hàng bán, dịch vụ của họ bằng đội ngũ phân tích chuyên
nghiệp, được thừa nhận về năng lực trên thị trường tài chính hiện đại.
• Công ty quản lý quỹ sẽ sử dụng nguồn vốn của quỹ cho những khoản đầu tư thực sự và
có thể đem lại sự tăng trưởng về vốn cho quỹ, đầu tư vào các dự án dựa trên điều lệ của
quỹ với mức lợi nhuận tối thiểu yêu cầu cho mỗi danh mục đầu tư chủ chốt.
• Ban lãnh đạo của quỹ sẽ kết hợp với công ty quản lý quỹ trong việc điều hành, quản lý
danh mục đầu tư, phân phối cân bằng về nguồn vốn trong các dự án thuộc danh mục, và
trên hết là kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ đầu tư vào mỗi dự án ( không đầu tư vượt quá 20 %
NAV trên mỗi dự án )
• Mục đích của Công ty là tăng trưởng lợi nhuận và giá trị của Quỹ thông qua quá trình đầu
tư năng động và cẩn trọng dựa trên những danh mục đầu tư của Quỹ. Ban lãnh đạo của
Quỹ sẽ lựa chọn các dự án vào danh mục đầu tư có tốc độ tăng trưởng về lợi nhuận và có
tính khả thi đồng thời phù hợp với điều lệ của Quỹ.
c. Quỹ đầu tư chứng khoán Việt nam – VFMVF1 do VFM quản lý :
- Quỹ đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VF1) là quỹ công chúng dạng đóng đầu tiên của Việt Nam,
được huy động nguồn vốn từ cá nhân, pháp nhân trong và ngoài nước với quy mô vốn ban đầu
300 tỷ đồng trong vòng 10 ngày vào tháng 4/2004.
- Quỹ được cấp giấy phép thành lập và phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng vào ngày
24 tháng 3 năm 2004 bới UBCKNN căn cứ theo Nghị định 144-2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11
năm 2003 về chứng khoán và TTCK và các văn bản pháp lý có liên quan. Quỹ đầu tư VF1 là một
quỹ đống và hoạt động với tư cách pháp lý trên cơ sở của Nghị định về chứng khoán và TTCK
và các hệ thống pháp luất Việt Nam hiện hành.
Giấy phép số 01/GP-QĐT ngày 24/03/2004 do UBCKNN cấp.
Giấy phép hoạt động của quỹ
Giấy phép số 01/UBCK-ĐKQĐT ngày 20/05/2004 do
UBCKNN cấp.
Giấy phép niêm yết chứng chỉ
quỹ
Giấy phép số 01/UBCK - NYQĐT ngày 22/09/2004 do
UBCKNN cấp.
Nguồn :
Ngành nghề kinh doanh:
- Ngành nghề chế biến nông lâm thuỷ sản
- Ngành tài chính ngân hàng
- Ngành du lịch và khách sạn
- Ngành giáo dục và y tế
- Ngành hàng tiêu dùng
- Ngành vận tải hàng hoá
- Ngành tiện ích công cộng
- Bất động sản
- Các công cụ thị trường tiền tệ.
3. Giai đoạn 2006 - 2007 :
3.1. Đánh giá chung :
- Cùng với những biến đổi tích cực và mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, từ giữa năm
2006, hệ thống tài chính Việt Nam ghi nhận giai đoạn bùng nổ các quỹ đầu tư và công ty quản lý
quỹ. Trong hai năm 2006-2007, khoảng 20 quỹ đầu tư được mở mới. UBCKNN cũng cấp giấy
phép hoạt động cho 17 công ty quản lý quỹ. Trong số này, nổi bật có :
• Công ty liên doanh Quản lý quỹ đầu tư BIDV-Vietnam Partners với quỹ VIF có qui mô
vốn tối đa 1.600 tỷ
• Công ty cổ phần Quản lý quỹ đầu tư FPT (vốn điều lệ lớn nhất thị trường- 110 tỷ đồng)
• Công ty TNHH Quản lý quỹ SSI (vốn điều lệ 30 tỷ đồng)
• Công ty TNHH Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Đông Á (vốn điều lệ- 30 tỷ đồng)
Cty cổ phần quản lý quỹ Lộc Việt 06/11/2007 25 tỷ
Cty cổ phần quản lý quỹ Sabeco 16/11/2007 25 tỷ
Thống kê của www.saga.vn
3.3. Điển hình hoạt động của một số Công ty quản lý Quỹ và Quỹ đầu tư nổi bật :
a. Hoạt động của VinaCapital :
- Tháng 3 năm 2006, VinaCapital khai trương quỹ đầu tư bất động sản Vinaland với số vốn huy
động được là 65 triệu USD từ các nhà đầu tư ngay từ khi mới thành lập.
- Quỹ tập trung đầu tư vào thị trường bất động sản của Việt Nam, bao gồm các dự án về chung
cư, văn phòng, cửa hàng bán lẻ,các trung tâm dịch vụ y tế hay là các khu đô thị cao cấp .
Quy chế điều hành vốn
Bỏ phiếu sau mỗi 7 năm để quyết định thoái vốn
Mức đầu tư tối đa
20% NAV cho mỗi dự án đầu tư
Thị trường tập trung đầu tư
Đầu tư vào Việt NamVietnam (ít nhất70% số
vốn) và 30% vào ở thị trường các quốc gia khác
trong khu vực
Cơ chế niêm yết
Thông qua Cayman company được niêm yết
trên London Stock Exchange (AIM)
Công ty kiểm toán Grant Thornton
Ngân hàng giám sát
HSBC
Công ty luật bảo hộ
Lawrence Graham ( UK)
Công ty môi giới
LCF Rothschild
Công ty quản lý quỹ
VinaCapital Investment Management Ltd
(VCIM)
Quỹ dự kiến hoạt động trong khoảng 10 năm từ tháng 6 năm 2006. Khi thực hiện một khoản đầu
tư, Quỹ dự kiến giữ khoản đầu tư đó trong vòng từ 5 đến 7 năm, nhưng có thể ngắn hơn hoặc dài
hơn tùy từng trường hợp.
Đặc điểm của Quỹ :
• Quỹ chỉ đầu tư vào những công ty thuộc khu vực kinh tế tư nhân do các doanh nhân trong
nước thành lập;
• Qui mô đầu tư trung bình mà Quỹ nhắm đến nhỏ hơn các quỹ đầu tư private equity khác
trong vùng;
• Quỹ trợ giúp tăng giá trị cho những công ty mà Quỹ đầu tư, bao gồm việc giúp những
công ty này thực hiện những thay đổi cần thiết để chuẩn bị cho việc niêm yết thành công;
• Quỹ có chiến lược đầu tư tập trung chủ yếu vào các ngành sản xuất, hàng tiêu dùng, phân
phối và bán lẻ;
• Quỹ chỉ tập trung đầu tư vào những công ty có đội ngũ quản lý mạnh và cam kết liên tục
củng cố đội ngũ quản lý của họ; Quỹ chọn lọc các khoản đầu tư rất kỹ lưỡng.
• Quỹ mong muốn thực hiện ít khoản đầu tư hơn để chỉ đầu tư vào những công ty xuất sắc
có khả năng trở thành những khoản đầu tư thành công.
Hình thức pháp lý của Quỹ
Quỹ được đăng ký tại Mauritius. Quỹ chưa được niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Danh mục đầu tư
Quỹ Mekong Enterprise Fund II hiện đầu tư vào công ty sau:
• ICP;
• Ngô Han;
• Thế Giới Di Động;
• Công ty cổ phần Venture International (Việt nam);
• Công ty cổ phần Thông minh MK;
• Công ty Cổ phần Cổng Vàng;
• Công ty Cổ phần Thế Giới Số;
• Hệ thống trường Quốc Tế Việt Úc;
* Một quỹ khác của Mekong Capital cũng được thành lập trong giai đoạn này là Quỹ Vietnam
Azalea Fund
c.Hoạt động của VFM :
* Sau VF1, VFM đã thành lập một quỹ mới là VF2 :
Nguồn :
d. Hoạt động của Dragon Capital :
- Sau VEIL (Vietnam Enterprise Investments Ltd., thành lập 1995, qui mô 190 triệu USD) và
VGF (Vietnam Growth Fund Limited, thành lập 2004, qui mô 75 triệu USD) cũng giới thiệu
thêm VDF (Vietnam Dragon Fund, thành lập 2005, qui mô 35 triệu USD). Mekong Capital mở
rộng qui mô với 50 triệu USD cho MEFII (Mekong Enterprise Fund II).
- Quỹ đầu tư Tăng trưởng Việt Nam (VF2) là quỹ đầu tư dạng đóng, được thành lập vào tháng 12
năm 2006 theo giấy phép số 08/UBCK-TLQTV ngày 13/12/2006 do UBCKNN cấp, là quỹ thành
viên được huy động vốn từ 15 tổ chức lớn trong và ngoài nước với vốn điều lệ ban đầu là 400 tỷ
đồng được công ty VFM quản lý, và ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải (HSBC) – CN
Tp.HCM thực hiện lưu ký, giám sát tài sản của quỹ.
- Mục tiêu của quỹ là tối ưu hóa các cơ hội đầu tư tăng trưởng cao từ quá trình cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân, các ngành có tiềm năng tăng trưởng, các công
cụ tài chính mới, và hỗ trợ các đơn vị tái cơ cấu về mặt tài chính, phát triển hệ thống quản trị, nâng
cao năng lực cạnh tranh nhằm gia tăng giá trị của các dự án đầu tư.
Tháng 12/2006: Khởi đầu với số vốn điều lệ 400 tỷ đồng.
Tháng 8/2007: Tăng vốn điều lệ lên xấp xỉ 963 tỷ đồng.
Thông tin chi tiết
Tên quỹ Quỹ đầu tư Tăng trưởng Việt Nam
Tên viết tắt Quỹ VF2
Vốn điều lệ 963,9 tỷ đồng
Mệnh giá 10.000 đồng/đơn vị quỹ
Thời hạn hoạt động 5 năm
Ngày thành lập Ngày 13 tháng 12 năm 2006
Ngân hàng giám sát Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải (HSBC) - CN TP. HCM
Công ty kiểm toán Ernst & Young Vietnam Ltd
Chính sách cổ tức
Hàng năm, dựa trên cơ sở cổ tức từ các khoản đầu tư và
Bảng 2: Danh sách các Công ty quản lý quỹ ở Việt Nam
tính đến hết năm 2007.
nguồn : ssc.gov.vn
Năm 2008: số Công ty quản lý quỹ tăng gần gấp đôi so với năm 2007, tương ứng với
tăng 72%, tỉ trọng các Công ty này trong tổng số các Công ty chứng khoán tăng lên 42%, tăng
10% so với năm 2007. Điều này có thể được giải thích đơn giản rằng, hoạt động trên thị trường
chứng khoán sôi động trong những năm trước đó đã thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia, đi
cùng với đó là sự tăng trưởng và phát triển của thị trường, mà các Quỹ đầu tư cũng như Công ty
quản lý quỹ cũng không nằm ngoài quy luật. Tuy nhiên, trong năm 2008, chịu sự ảnh hưởng của
lạm phát toàn cầu và những diễn biến nóng của thị trường nói chung, thị trường chứng khoán trở
thành cái lò thiêu chật chội các nhà đầu tư.
Năm 2009: do tình hình thị trường lạm phát kéo dài và đang dần đi vào quy mô bình ổn,
hoạt động của các Quỹ đầu tư có sự tăng trưởng chậm. Điều đó có thể thấy qua sự gia tăng của
các Công ty quản lý quỹ so với năm 2008 là 7%, so với sự tăng trưởng của năm 2008 so với năm
2007 là 72% thì sự gia tăng của các Công ty quản lý quỹ trong năm 2009 là con số khá khiêm
tốn. Có thể do cầu thị trường về Quỹ đầu tư trong thời điểm này đã khá ổn định. Số Công ty
chứng khoán trong năm 2009 tăng lên tương ứng chính là các Công ty quản lý quỹ được thành
lập mới, nâng tỉ trọng của các Công ty quản lý quỹ trong tổng số các Công ty chứng khoán tăng
nhẹ từ 42% của năm 2008 lên 44% trong năm 2009. Số Công ty niêm yết tính đến hết năm là 457
Công ty, tăng 34% so với năm 2008.
Tính đến cuối tháng 10/2009, thị trường đã có 46 công ty quản lý quỹ được cấp phép hoạt
động (do 1 công ty đã giải thể tháng 7/2009) với tổng số vốn điều lệ là gần 1.835 tỷ đồng. Trong
khoảng 20 quỹ đang tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán VN, có các quỹ lớn thuộc các
công ty quản lý VinaCapital và Dragon Capital như Vietnam Opportunity Fund (VOF), Vietnam
Infrastructure Ltd (VNI), Vietnam Growth Fund (VGF), Vietnam Enterprise Investment Ltd
(VEIL) và Vietnam Dragon Fund (VDF).
Năm 2010: Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, tính đến thời điểm 6T/2010,
cả nước có 22 quỹ đầu tư được thành lập, trong đó có 5 quỹ đại chúng và 17 quỹ đầu tư thành
viên. Số Công ty quản lý quỹ được cấp phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam duy trì ở mức
46 tổ chức so với năm 2009, tương ứng với số Công ty chứng khoán trên thị trường là 105 tổ
NAV) của các quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam. Có thời điểm NAV của các quỹ lớn tại
Việt Nam giảm sâu tới 50-70%.
Không chỉ mất giá NAV, những quỹ này đã giải ngân phần lớn số tiền mà họ huy động
được trong năm 2006-2007. Đại diện một quỹ đầu tư cho biết, chỉ trong 3-6 tháng nữa là các quỹ
sẽ cạn tiền. Trong khi đó, huy động vốn hay gây quỹ mới vào thời điểm này là rất khó khăn.
Điều này sẽ gây ra tâm lý dè chừng của các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư qua các quỹ.
Điều này có thể được giải thích bởi các nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất: TTCK Việt Nam là thị trường mới nổi, biến động thị trường lớn, NĐT với tâm
lý tự kinh doanh nên chưa quan tâm đến sản phẩm quỹ.
Thứ hai: TTCK Việt Nam và thế giới hiện đang trong giai đoạn khó khăn, bởi ảnh hưởng
xấu của nền kinh tế toàn cầu sau những di chứng của đợt khủng hoảng, nên tác động rất lớn đến
tâm lý hứng khởi của NĐT.
Thứ ba: là sự nghèo nàn của các sản phẩm, công cụ đầu tư. Bán khống, giao dịch T+2,
giao dịch ký quỹ… vẫn chưa được chấp thuận, hạn chế dòng tiền bổ sung cho thị trường. Ngoài
ra, về mặt chính sách, các công ty quản lý quỹ cũng chưa nhận được nhiều hỗ trợ cho các sản
phẩm của quỹ hoạt động hiệu quả và đa dạng.
Năm 2009: Hoạt động của các công ty chứng khoán đã có những dấu hiệu khả quan hơn
do sự phục hồi của thị trường và giá trị giao dịch trên thị trường ngày càng tăng. Các quỹ đầu tư
vào thị trường chứng khoán Việt Nam có mức tăng trưởng NAV xấp xỉ 40%, thấp hơn mức tăng
48,4% của VN-Index.
Tăng trưởng của các quỹ năm 2009 không theo kịp đà tăng của chỉ số VN-Index do các
nhà quản lý quỹ đã quá thận trọng, ít đầu tư vào cổ phiếu rủi ro cao, thay vào đó là mua trái
phiếu hoặc giữ tiền mặt. Ngoài ra, theo ông, các quỹ có quy mô lớn cũng tăng trưởng chậm hơn
quỹ nhỏ, vì thiếu linh động hơn trong điều hành và thích ứng với thị trường.