PH ÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN DÂN LÝ - Pdf 20

Bộ Công Thương
Trường Đại Học Kinh Tế Kỹ Thuật Công Nghiệp
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Thực Tập Cuối Khóa
Ngành Quản Trị Kinh Doanh
Đề Tài: PH ÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI
QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN DÂN LÝ
Giáo Viên Hướng Dẫn: Nguyễn Thị Hoài
Sinh Viên Thực Hiện: Trần Thị Xuân
Lớp: ĐHQT4A2
Nam Định - 2014
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 1
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
1.1 Cơ sở hình thành đề tài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Phạm vi nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Khái niệm về QTDN
1.2 Những vấn đề cơ bản trong hoạt động
1.2.1 Khái niệm về tín dụng
1.2.2 Bản chất, chức năng và vai trò của QTD
1.2.2.1. Bản chất
1.2.2.2. Chức năng
1.2.2.3. Vai trò
1.3 Phân loại tín dụng
1.4 Đối tượng cho vay, điều kiện và nguyên tắc vay vốn
1.5 Thời hạn,lãi suất và mức cho vay

4.2.1 Hệ số thu nợ
4.2.2 Nợ quá hạn trên tổng dư nợ
4.2.3 Vòng quay vốn tín dụng .
3.3 Một số giải pháp nhằm hạn chế nợ quá hạn tại QTD DÂN LÝ
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 3
LỜI MỞ ĐẦU
o0o
Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới từ những năm 1986, chuyển nền
kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đó cũng chính là sự chuyển đổi từ một nền kinh tế
còn nghèo nàn, lạc hậu, mang nhiều tính tự cung tự cấp sang một nền kinh
tế hàng hoá, kinh tế thị trường.Nhu cầu cần vốn để đầu tư cho phát triển sản
xuất kinh doanh của nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi theo đó gia tăng
đáng kể và liên tục. Trong hoàn cảnh đó, người dân đã nhận thấy nhu cầu
cấp bách cần phải hợp tác, liên kiết lại để tồn tại.Đảng và Nhà nước đã sớm
nhận ra được điều này và đã có chủ trương giúp cho người dân xây dựng
các tổ chức tín dụng hợp tác từ năm 1993. Bằng quyết định 390/Ttg ban
hành ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ, các tổ chức tín dụng hợp
tác cần được thí điểm thành lập và tổ chức lại với tên gọi Quỹ tín dụng nhân
dân (QTDND). Theo đó, Nhà nước có thái độ và chính sách khuyến khích
phát triển các QTDND.Với nhu cầu của người dân xuất phát từ điều kiện
thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với thái độ ủng hộ và khuyến khích
của Đảng và Nhà nước cũng như với những cơ sở pháp lý nền tảng đã được
ban hành thì việc phát triển các QTDND đã thực sự trở thành một tất yếu ở
Việt Nam.
Nhu cầu về vốn là nhu cầu không thể thiếu đối với mọi người, mọi thành

tích hoạt động cho vay ngắn hạn tại QTD.
- Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn.
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 5
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
o0o
1.1. Khái niệm về Quỹ tín dụng nhân dân
QTDND là một tên gọi riêng của các tổ chức tín dụng hợp tác được thành
lập và hoạt động ở Việt Nam từ năm 1993. QTDND chịu sự điều chỉnh cơ bản
bởi Luật Hợp tác xã về tổ chức bộ máy và Luật các tổ chức tín dụng của Việt
Nam về nội dung hoạt động. Theo Luật Hợp tác xã, QTDND là một hợp tác xã,
được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng nhằm mục tiêu hỗ
trợ vì quyền lợi của mỗi thành viên. Theo Luật các tổ chức tín dụng, QTDND là
một loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, nên nó cũng là tổ chức kinh doanh tiền tệ
và dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành
lập để hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu là hỗ trợ nhau phát triển sản
xuất, kinh doanh và đời sống.
Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động
theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động,
thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức
mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của
Quỹ tín dụng nhân dân phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển.
Mục tiêu hoạt động của QTDND
QTDND là một hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng
nên mục tiêu của nó là hỗ trợ thành viên về các dịch vụ tín dụng, ngân hàng.
Điều đó có nghĩa, các QTDND không phải là tổ chức hoạt động vì mục đích tự
thân, cũng không phải là tổ chức hoạt động vì mục đích công ích mà chỉ là
phương tiện, công cụ của các thành viên để hỗ trợ trong các lĩnh vực như huy

SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 7
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
có thu nhập thấp hoặc thu nhập không đáp ứng đủ cho nhu cầu tối thiểu của cuộc
sống, đặc biệt khi gặp những biến cố rủi ro bất thường xảy ra. Trong điều kiện
như vậy đòi hỏi sự ra đời của tín dụng để giải quyết mâu thuẫn nội tại của xã
hội, thực hiện việc điều hoà nhu cầu vốn tạm thời của cuộc sống.
Nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của tín dụng
Trong nền kinh tế hàng hoá, các doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất
kinh doanh phải có một số vốn nhất định, và do tính chất thời vụ trong hoạt
động sản xuất kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp có lúc thì thiếu vốn có lúc thì
thừa vốn. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp có tính thời vụ thấp thì việc thừa vốn
tiền tệ với thời gian ngắn hơn và qui mô nhỏ hơn so với xí nghiệp có tính thời vụ
cao. Đứng trên góc độ toàn bộ nền kinh tế thì tại một thời điểm nhất định sẽ có
hiện tượng một nhóm các doanh nghiệp cũng như cá nhân có vốn tạm thời chưa
sử dụng trong khi những doanh nghiệp, cá nhân khác lại có nhu cầu bổ sung vốn
tạm thời, nguyên nhân là do chu kỳ sản xuất và tính thời vụ ở mỗi thành phần
cũng như ngành nghề kinh tế không giống nhau. Quá trình tái sản xuất là một
quá trình liên tục trên cơ sở phân công và hợp tác trong toàn bộ hệ thống kinh tế,
vì vậy khi mà doanh nghiệp này thừa vốn thì tất cả các doanh nghiệp khác thiếu
vốn. Đây là hiện tượng khách quan, đòi hỏi phải có tín dụng làm cầu nối giữa
nơi thừa và nơi thiếu.
Trong cơ chế thị trường, tồn tại và phát triển luôn gắn bó với nhau, vì vậy
nhu cầu cho sản xuất không chỉ để duy trì mức sản xuất như cũ mà còn có nhu
cầu đầu tư phát triển. Nhu cầu vốn trong trường hợp này dùng để sắm tài sản cố
định, tăng dự trữ vật tư hàng hoá cho tái sản xuất mở rộng. Đối với các doanh
nghiệp, lợi nhuận tích luỹ để đầu tư có giới hạn, vì vậy muốn thực hiện được
nhu cầu mở rộng sản xuất cần phải nhờ đến nguồn vốn trong xã hội. Nguồn vốn
đáp ứng cho nhu cầu này là vốn tiết kiệm xã hội, bao gồm vốn tiết kiệm của các
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2

Trang 9
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
Thứ nhất : Nhân dân hưởng ứng mô hình QTDND
Xuất phát từ nhu cầu về vốn chưa được đáp ứng một cách thoả đáng của
người dân cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ trong thời kỳ chuyển đổi
nền kinh tế theo cơ chế thị trường mà mô hình QTDND đã được đông đảo dân
chúng ủng hộ. Các QTDND hoạt động ngay trên địa bàn, với dịch vụ cung cấp
thuận tiện, nhanh gọn và kịp thời đã đáp ứng được nhu cầu bức bách về vốn cho
các thành viên. Chính vì thế mà người dân rất cần và hưởng ứng mô hình
QTDND - một mô hình thiết thực giúp họ giải quyết trước mắt những khó khăn
về vốn và sau đó là những dịch vụ khác kèm theo. Đây là một yếu tố rất thuận
lợi cho việc xây dựng và phát triển của QTDND.
Thứ hai: Việt Nam sẵn có truyền thống đoàn kết lâu đời và những con người
HTX nhiệt tình
Việt Nam là dân tộc sẵn có truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái,
sống trong tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong tình làng nghĩa xóm nên rất
phù hợp với mô hình QTDND. QTDND chẳng qua chỉ là một sản phẩm của sự
đoàn kết, hợp tác giữa những người cùng chung cảnh ngộ để giải quyết những
khó khăn cho chính họ. QTDND hoạt động hoàn toàn trên cơ sở sự hợp tác
tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên nên những tố chất sẵn có truyền thống
của dân tộc Việt Nam là một yếu tố rất thuận lợi.
Thứ ba: Đảng và Nhà nước ủng hộ, khuyến khích mô hình QTDND
Thuận lợi hơn nhiều so với các nước khác, Đảng và Nhà nước Việt Nam
rất quan tâm tới mô hình QTDND và có thái độ ủng hộ rõ ràng việc phát triển
mô hình này. Đảng đã có những chủ trương, đường lối phát triển QTDND. Nhà
nước thì có các chính sách hỗ trợ khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho
QTDND phát triển.
Thứ tư: Hỗ trợ của bè bạn quốc tế
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 10

động sản còn nhiều bất cập, vấn đề cưỡng chế thi hành án nan giải, điều kiện và
môi trường cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động…Nếu môi trường kinh
doanh chung được cải thiện thì hoạt động của các QTDND cũng sẽ được hỗ trợ
và thuận lợi hơn nhiều.
Thứ tư: Khung khổ pháp lý cho hoạt động của QTDND vẫn còn những bất cập
Tuy hệ thống QTDND đã có một khung khổ pháp lý để hoạt động, song
khung khổ pháp lý này vẫn còn những bất cập nên nhiều khi đã gây khó khăn
cho hoạt động, việc xây dựng và phát triển QTDND. Đó là các quy định ban
hành nhiều khi chưa phù hợp với các nguyên tắc, cơ chế của kinh tế thị trường
của mô hình tín dụng hợp tác.
Thứ năm: Các biện pháp và cách thức quản lý, giám sát của Nhà nước chưa
theo kịp yêu cầu đặt ra của sự phát triển.
Các biện pháp và cách thức quản lý, giám sát của Nhà nước chưa theo kịp
yêu cầu đặt ra của sự phát triển do chưa được cải tiến và thích nghi một cách
thường xuyên cho phù hợp sự phát triển chung. Đối với hệ thống QTDND, nó
thể hiện bởi việc chưa có một cơ chế, phương thức quản lý, giám sát các
QTDND một cách phù hợp và hiệu quả. Do đó dẫn tới việc Nhà nước ban hành
các quy định hành chính can thiệp trực tiếp không cho các QTDND được tự do
hoạt động, phát triển, tự do thành lập theo nhu cầu của thành viên, của thị trường
cũng như Nhà nước phải trực tiếp kiểm tra toàn diện từng QTDND.
1.2.2 Bản chất, chức năng và vai trò của tín dụng
1.2.2.1. Bản chất
Tín dụng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau, nhưng ở bất
cứ phương thức nào tín dụng cũng thể hiện ra là sự vay mượn tạm thời một vật,
hàng hoá hay một số vốn nhất định, nhờ vậy mà người ta có thể sử dụng được
giá trị của hàng hoá hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trao đổi.
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 12
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay là người đi vay, giữa

Tín dụng không chỉ là chức năng cơ bản của Ngân hàng thương mại mà
còn là chức năng của hầu hết các định chế tài chính, là khoản mục sử dụng vốn
lớn nhất và cũng là hoạt động chiếm tỷ trọng lợi nhuận cao nhất ở các Ngân
hàng. Vì vậy, tín dụng có các chức năng sau:
Tập trung và phân phối lại vốn cho nền kinh tế
Đây là chức năng cơ bản của tín dụng, nhờ chức năng này mà các nguồn
vốn tiền tệ trong xã hội được điều tiết từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” để sử dụng
nhằm phát triển kinh tế.
Tập trung và phân phối lại vốn tín dụng là hai quá trình thống nhất trong
sự vận động của hệ thống tín dụng.
Thông qua hoạt động tín dụng ở khâu tập trung thì nguồn vốn nhàn rỗi
trong xã hội được tập hợp lại thành nguồn vốn lớn có thể đáp ứng các nhu cầu
vốn lớn cho nền kinh tế.
Thông qua hoạt động tín dụng ở khâu phân phối thì nguồn vốn được phân
bổ đến mọi nhu cầu cần vốn của các tổ chức kinh tế, xã hội, cá nhân.
Phân phối trực tiếp là sự chuyển giao vốn của chủ thể tạm thời nhàn rỗi
vốn sang chủ thể thiếu vốn tạm thời mà không phải thông qua các tổ chức tài
chính trung gian.
Phân phối gián tiếp: là sự chuyển giao vốn giữa các chủ thể thừa vốn tạm
thời sang chủ thể thiếu vốn tạm thời thông qua các tổ chức tài chính trung gian.
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 14
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
Như vậy thông qua chức năng tập trung và phân phối lại vốn thực hiện
theo nguyên tắc hoàn trả trong nền kinh tế, tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích
thích mặt tập trung vốn, được xem là sợi dây kết nối giữa cung – cầu vốn tiền tệ,
tạo dễ dàng cho chủ thể thừa tiền, chủ thể thiếu tiền trong nền kinh tế gặp gỡ
nhau, đạt được mục đích của mỗi bên, nhờ đó mà tín dụng đã trực tiếp tham gia
điều tiết vốn giúp cho tiền tệ luôn lưu thông đạt hiệu quả kinh tế cao, tránh tình
trạng thiếu hụt cũng như thừa tiền trong nền kinh tế và thúc đẩy việc sử dụng

động của vật tư, hàng hóa, chi phí trong các xí nghiệp, các tổ chức kinh tế.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường tín dụng càng mở rộng cho tất cả
các thành phần kinh tế, tham gia vào sản xuất hàng hóa, góp phần hoàn thiện thị
trường tài chính. Đảm bảo lợi ích thiết thực cho các chủ thể kinh tế tham gia.
Thông qua quá trình tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng phản ánh
được nguồn vốn huy động với tốc độ huy động, khối lượng huy động, đồng thời
biết được khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế cũng như nhu cầu vốn của nền
kinh tế, từ đó, có thể mang lại hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội.
Ngoài ra thông qua đó thấy được như đầu tư, tích lũy tiêu dùng… trong
nền kinh tế và cũng từ đó nhà nước sẽ có chính sách hợp lý.
Trong hoạt động cho vay, để bảo đảm an toàn nguồn vốn, các tổ chức tín
dụng phải luôn theo dõi, kiểm tra phân tích đánh giá hoạt động kinh doanh của
khách hàng mình để từ đó có những đối sách thích hợp về cho vay cũng như thu
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 16
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
hồi vốn đã vay. Do vậy, tín dụng cũng phản ánh được tình hình quản lý và sử
dụng vốn của doanh nghiệp.
Khi mà hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, được sử dụng
rộng rãi thì Ngân hàng sẽ kiểm soát bằng tài khoản vì mọi hoạt động cũng như
quá trình hình thành và sử dụng vốn liên quan đến tài khoản tiền gửi để từ đó
nhà nước đề ra những giải pháp điều tiết kịp thời nhằm khắc phục những khuyết
điểm, mất cân đối, cũng như phát huy hơn nữa tính hợp lý và tiềm năng.
Với chức năng này thì Ngân hàng trở thành người giữ tiền của nền kinh
tế, giao dịch với hầu hết các thành phần kinh tế, vốn của tín dụng ngân hàng
tham gia vào mọi ngành nghề, nên Ngân hàng có thể nắm bắt phản ánh mọi hoạt
động trong nền kinh tế một cách tương đối chính xác.
Cùng với chức năng tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông, chức năng phản
ánh quá trình hoạt động của nền kinh tế thì tín dụng có thể phản ánh quá trình
phân phối sản phẩm cho nền kinh tế.

tiền lưu thông trong nền kinh tế, nhất là tiền mặt trong tầng lớp dân cư qua đó
làm giảm áp lực của lạm phát, ổn định của tiền tệ. Mặt khác, do cung ứng vốn
tín dụng cho nền kinh tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch
sản xuất kinh doanh làm cho sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm, hàng
hóa dịch vụ ngày càng nhiều, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật
tự xã hội: tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa
và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao
động. Mặt khác, vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác
các tiềm năng có sẵn trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, lao động, đất,
rừng, Do đó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động để tạo ra lực lượng sản
xuất mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khi một xã hội phát triễn lành mạnh đời
sống được ổn định, ai cũng có công ăn việc làm đó là tiền đề quan trọng để ổn
định trật tự xã hội.
Tín dụng góp phần phát triển các mối quan hệ quốc tế: tín dụng còn có vai
trò quan trọng để mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở
rộng giao lưu quốc tế. Sự phát triển của tín dụng không những trong phạm vi
quốc nội mà còn thúc đẩy mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế đối
ngoại, nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu lẫn nhau trong quá trính phát
triển của mỗi nước làm cho các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng
nhau phát triển.
1.3. Phân loại tín dụng
 Theo thời hạn tín dụng
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 18
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
Tín dụng ngắn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. Mục
đích: đầu tư vốn lưu động;
Tín dụng trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng. Mục đích: đầu tư bổ sung vốn cố định như sửa chữa, xây dựng

Trang 19
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của chính
phủ
 Nguyên tắc vay vốn
Cho vay ngắn hạn được thực hiện theo 2 nguyên tắc:
Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng
tín dụng và có hiệu quả kinh tế.
Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi vay theo đúng thời hạn
đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
1.5. Thời hạn, lãi suất và mức cho vay
 Thời hạn: giữa ngân hàng và khách hàng thỏa thuận:
Chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn trên dự án đầu tư, khả
năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của ngân hàng.
Đối với pháp nhân Việt Nam là người nước ngoài, thời hạn cho vay
không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép
hoạt động tại Việt Nam.
 Lãi suất cho vay
Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi vào hợp đồng tín dụng mức
lãi suất cho vay trong hạn và mức lãi suất áp dụng đối với nợ quá hạn:
Mức lãi suất cho vay trong hạn được thỏa thuận phù hợp với quy định
của ngân hàng cho vay về lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng.
Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ quá hạn do giám đốc ngân hàng
cho vay quyết định theo nguyên tắc cao hơn lãi suất trong hạn nhưng không
vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong
hợp đồng tín dụng.
 Mức cho vay
Mức cho vay được xác định căn cứ vào nhu cầu vốn của khách hàng, tỷ lệ
cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định về đảm bảo
tiền vay của chính phủ và hướng dẫn của ngân hàng nhà nước, khả năng hoàn trả

chức tín dụng" (sau đây gọi tắt là "rủi ro") là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt
động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Rủi ro tín dụng là các biến cố không bình thường do chủ quan hoặc khách
quan làm cho người đi vay không trả được nợ vay và lãi vay cho ngân hàng theo
đúng những điều kiện ghi trên hợp đồng tín dụng.
1.7.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng và người
đi vay. Nhưng khi người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 21
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi
là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín
dụng. Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do
nguyên nhân khách quan. Rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay
gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan.
 Chủ quan
- Xuất phát từ ngân hàng:
 Bộ máy điều hành lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm, bộ máy điều
hành không hợp lý.
 Năng lực, trình độ cán bộ tín dụng hoặc ban lãnh đạo còn hạn
chế.
 Chính sách cho vay không hợp lý.
 Các thông tin về khách hàng chưa đầy đủ, không chính xác.
 Thực hiện không tốt quá trình cấp tín dụng.
 Buông lỏng việc kiểm tra khách hàng vay.
- Xuất phát từ khách hàng:
 Sử dụng vốn không đúng mục đích.
 Năng lực công tác quản lý yếu kém của đơn vị đi vay vốn

Rủi ro mất vốn là rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ theo
hợp đồng bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do không thanh
toán. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng, khi khách
hàng cố tình không thanh toán hay mất khả năng thanh toán đều mang đến khó
khăn cho ngân hàng, việc khách hàng không thanh toán cho các khoản đã vay
làm tăng thêm các chi phí phát sinh như chi phí giám sát nhằm mục đích giám
sát chặt chẽ khoản vay, giám sát khách hàng nhằm thu hồi vốn vay khi khách
hàng có điều kiện. Nếu khách hàng sử dụng tài sản để đảm bảo cho khoản vay
thì việc ngân hàng bỏ thêm chi phí pháp lý nhằm tăng cường việc thu hồi nợ một
cách nhanh chóng từ việc phát mãi tài sản đảm bảo.
Việc khách hàng không trả nợ vay cho ngân hàng việc này làm giảm sút
lợi nhuận mong muốn của ngân hàng. Việc huy động nguồn vốn ngắn, trung và
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 23
Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết
dài hạn làm ảnh hưởng đến việc tính toán vòng quay tín dụng nhằm sử dụng tối
đa lợi nhuận từ nguồn vốn huy động, tuy nhiên khách hàng không trả nợ làm
vòng vốn quay của tín dụng bị giảm hoặc không sinh lợi nữa điều này làm giảm
sút doanh thu và có nguy cơ không thu được doanh thu. Điều này làm gia tăng
nợ quá hạn và nợ khó đòi.
Ngoài ra khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ theo đúng hợp đồng
tín dụng đối với ngân hàng thì việc ngân hàng phải gia tăng nguồn dự trữ nhằm
phòng ngừa với nguy cơ mất vốn là rất cao làm giảm khả năng sinh lời của ngân
hàng.
Tóm lại nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng
phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng
mực nào đấy, ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì
ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ
gặp rủi ro thanh khoản. Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực
tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội

nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay,
nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn
đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục
được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nến kinh tế nói
chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị
ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm
thiểu rủi ro trong cho vay.
1.7.3. Nhận biết rủi ro tín dụng
SVTH: Trần Thị Xuân – QT4A2
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status