Thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ quảng cáo của Công ty TNHH quảng cáo và hội chợ Tây Hồ (WELAKE). - Pdf 20

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Quảng cáo là một trong những ngành dịch vụ mới có mặt ở Việt Nam trong
trong thời gian không lâu. Đây là lĩnh vực gắn bó chặt chẽ với nền kinh tế thị trường tự
do cạnh tranh, nơi mà hàng hóa trở nên phong phú về chất lượng và số lượng, các nhu
cầu thị trường ngày càng được đáp ứng bởi nhiều nhà cung cấp. Việt Nam với đặc
điểm là nước đang trong công cuộc đổi mới, kinh tế thị trường mới chỉ xuất hiện và tồn
tại trong hơn mười năm trở lại đây, nên dịch vụ quảng cáo cũng xuất hiện khá muộn.
Tuy vậy, tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế khá nhanh của đất nước, mức độ tăng
trưởng của ngành cũng đạt những thành tích đáng mừng. Điều này thu hút ngày càng
nhiều các nhà đầu tư rót vốn mở công ty để tìm kiếm lợi nhuận trong lĩnh vực mới mẻ
này. Hiện nước ta có tới 8.000 doanh nghiệp có chức năng kinh doanh dịch vụ quảng
cáo, 80 Đài Phát thanh - Truyền hình, 500 cơ quan báo chí thực hiện dịch vụ quảng
cáo; 20 công ty quảng cáo nổi tiếng ở nước ngoài đặt văn phòng đại diện ở Việt Nam
(Theo ông Hà Văn Tăng, phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư Ký Hiệp Hội Quảng
cáo Việt Nam, bài viết “Cơ hội vàng cho ngành quảng cáo Việt Nam”, Báo An Ninh
Thủ Đô, ngày 20/4/2008, trang 4), đây là một con số không hề nhỏ và hơn nữa còn có
dấu hiệu của sự tăng trưởng khá cao trong thời gian tới, khi mà Việt Nam mở cửa đón
đợi những làn sóng đầu tư thời kỳ hậu WTO.
Công ty TNHH quảng cáo và hội chợ Tây Hồ (có tên viết tắt là WELAKE) là
một trong hàng ngàn công ty quảng cáo hiện đang hoạt động tại Việt Nam. Dịch vụ
quảng cáo là một trong các mảng kinh doanh chính của doanh nghiệp. Sau một thời
gian thực tập tại WELAKE, qua quá trình làm việc và tiếp xúc với những người trong
bộ máy tổ chức của công ty, tác giả đã định hình một cách rõ ràng hơn về hoạt động
kinh doanh dịch vụ quảng cáo tại đây. Mặc dù là một trong những mảng dịch vụ quan
trọng, nhưng WELAKE vẫn còn tỏ ra lúng túng trong việc đưa ra một chiến lược phát
1
Chuyên đề tốt nghiệp
triển dài hạn cho quảng cáo, các hoạt động kinh doanh trong mảng này còn rất manh
mún, mang nặng tính chất gia công do đó lợi nhuận đem lại cũng không thực sự cao so
với thị trường. Thực trạng này bắt nguồn từ một số những nguyên nhân mà cơ bản là

3
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THIẾT KẾ,
TRUYỀN TẢI THÔNG ĐIỆP VÀ TƯ VẤN QUẢNG CÁO
1.1 Tổng quan về Quảng Cáo
Quảng cáo là một trong những công cụ truyền thông marketing hiện đang được
dùng phổ biến nhất trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Với đặc điểm hướng
thông tin vào đông đảo người tiêu dùng và công chúng mục tiêu, quảng cáo là một cách
phân phát thông điệp có hiệu quả về chi phí. Khi nền kinh tế hàng hóa được tạo điều
kiện phát triển, nhu cầu của con người ngày càng được đáp ứng phong phú về số lượng
cũng như chất lượng bởi các loại sản phẩm và các nhà cung cấp khác nhau. Khi ấy,
quảng cáo vừa đóng vai trò kích thích tiêu thụ, giúp các nhà sản xuất mở rộng thị phần
tăng cao lợi nhuận, lại vừa có vai trò định hướng tiêu dùng, giúp khách hàng phân biệt
được các hàng hóa khác nhau để đưa ra lựa chọn phù hợp, nói cách khác là nâng cao
kiến thức tiêu dùng cho xã hội. Vô hình chung, nó không còn đơn thuần có ý nghĩa với
một phía người cung cấp hàng hóa dịch vụ, mà nó còn có ý nghĩa đối với những người
sử dụng hàng hóa dịch vụ đó. Do đó, ta nói quảng cáo có hai vai trò lớn là kinh tế và xã
hội.
1.1.1 Quảng cáo – công cụ truyền thông được cả thế giới ưa chuộng
Trên thế giới, quảng cáo xuất hiện được một thời gian tương đối dài, trên dưới
một thế kỷ. Mặc dù những sự manh nha của loại hình dịch vụ này đã xuất hiện từ vài
trăm năm trước, tuy nhiên nó thực sự trở thành một ngành nghề, một thứ hàng hóa dịch
vụ có sức phát triển mạnh mẽ từ đầu thế kỷ thứ 20. Trải qua một quá trình phát triển từ
đó tới nay, quảng cáo giờ đây vẫn giữ vai trò quan trọng và là một trong các công cụ
truyền thông Marketing hiệu quả, nhiều doanh nghiệp vẫn phải dùng tới nó nếu muốn
tên tuổi của mình được biết tới trong thời gian ngắn với phạm vi rộng. Sự thay đổi của
thị trường bắt nguồn từ những thay đổi của thói quen và những xu hướng mới xuất
4
Chuyên đề tốt nghiệp
hiện, cũng khiến quảng cáo mở rộng ra nhiều hình thức ngày càng phong phú sao cho

Nguồn : TNS Media Intelligence
Phương tiện Thay đổi so với 2007
Internet 14.4%
Spot TV 9.9%
Spanish Language Media 7.8%
Outdoor 5.5%
Truyền hình cáp 5.0%
Tạp chí tiêu dùng và chủ nhật 3.6%
Network Television 2.7%
Syndication TV 1.3%
Radio 0.7%
Tạp chí chuyên ngành -0.1%
Báo -0.9%
Hình 1.3 Bảng đánh giá mức đóng góp của các phương tiện vào sự gia tăng doanh
thu quảng cáo tại Mỹ năm 2008
Nguồn : TNS Media Intelligence Đơn vị : %
Loại phương tiện 2007-08 (24 Tháng) 2006-07 (24 Tháng)
Truyền hình 44.1% 44.0%
Tạp chí 21.1% 20.9%
Báo 17.2% 18.2%
Internet 8.0% 7.1%
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Radio 7.0% 7.3%
Ngoài trời 2.6% 2.6%
Tổng 100.0% 100.0%
Hầu hết các phương tiện quảng cáo tại Mỹ - thị trường quảng cáo lớn nhất thế giới đều
tăng trưởng. Đóng góp nhiều nhất trong đó là quảng cáo truyền hình, báo chí và
internet. Theo nhận định của GroupM – một cơ quan điều tra Marketing toàn cầu khác
cũng đưa ra nhận định không khác gì nhiều so với khẳng định của TNS về mức tăng

cáo cao nhất thế giới với lợi thế của nền kinh tế đứng số một toàn cầu. Thực tế
này chứng tỏ các quốc gia và vùng lãnh thổ khác đang dần nâng cao được vị thế
của mình trong lĩnh vực kinh tế, họ đang ngày càng đầu tư mạnh hơn vào các
biện pháp xúc tiến thương mại trong đó quảng cáo là một công cụ hữu hiệu. Mức
đầu tư vào quảng cáo của các doanh nghiệp tăng lên cũng phản ảnh những dấu
hiệu đáng mừng của nền kinh tế hàng hóa tự do cạnh tranh. Khi nền kinh tế ấy
càng phát triển, nó sẽ kéo theo sự tăng lên của nhu cầu quảng cáo, và điều đó
đồng nghĩa với việc doanh thu của ngành quảng cáo thế giới cũng có những tiến
triển vượt bậc. Các nhà dự đoán luôn có một cái nhìn lạc quan về sự tăng trưởng
của ngành, điều đó khẳng định dịch vụ quảng cáo nói chung luôn có chỗ đứng là
một trong những ngành mang lại lợi nhuận cho nền kinh tế. Điều này đã được
chứng minh là đúng bởi thực tế diễn ra trên toàn thế giới. Nước ta không phải là
ngoại lệ.
1.1.2 Quảng cáo tại Việt Nam
Quảng Cáo Việt Nam đi sau thế giới cả thế kỷ, chúng ta bước vào đổi mới được
hơn 20 năm, tuổi đời của ngành quảng cáo còn ngắn hơn thế, tuy nhiên, nói như vậy
không có nghĩa là dịch vụ quảng cáo của Việt Nam không phát triển. Trái lại, với sự
mở cửa và hội nhập, các thành phần kinh tế bung ra hòa nhập vào nhịp phát triển chung
của thế giới khiến cho thị trường hàng hóa trong nước ngày càng lớn mạnh. Đó là điều
kiện giúp cho dịch vụ quảng cáo phát triển cả về chất và lượng. Tốc độ phát triển kinh
8
Chuyên đề tốt nghiệp
tế của Việt Nam thuộc vào hàng cao nhất thế giới, điều này cũng đúng với ngành kinh
doanh dịch vụ quảng cáo nói riêng. Năm 2006, ngành quảng cáo mang lại nguồn thu
gần 6.000 tỉ đồng. Dự kiến sau năm 2008, khi Việt Nam thực sự mở cửa và thực hiện
các điều ước thương mại WTO, doanh thu này có thể đạt trên 15.000 tỉ đồng. Hiện có
tới 8.000 doanh nghiệp có chức năng kinh doanh dịch vụ quảng cáo, 80 Đài Phát thanh
- Truyền hình, 500 cơ quan báo chí thực hiện dịch vụ quảng cáo; 20 công ty quảng cáo
nổi tiếng ở nước ngoài đặt văn phòng đại diện ở Việt Nam (Theo ông Hà Văn Tăng,
phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư Ký Hiệp Hội Quảng cáo Việt Nam, bài viết

phản ứng đáp lại của khách hàng mục tiêu. Đó là những điều nhà sản xuất muốn gửi
gắm, là điều họ muốn công chúng mục tiêu của họ phải hiểu được. Con người phải tiếp
nhận và xử lý vô vàn luồng thông tin, do đó để những thông tin đó đọng lại trong tâm
trí họ là cả một vấn đề lớn cần được nghiên cứu trong thời gian dài. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, một trong những yếu tố quan trọng nhất khiến công chúng nghe hay thấy
quảng cáo có thể nhớ được thông tin đó là thông điệp. Một thông điệp quảng cáo hiệu
quả là phức hợp của hàng loạt các tiêu chí mà nhiều người đã liệt kê như cô đọng, thú
vị, khác biệt hay gây được hứng thú v.v…Không có một tiêu chí cố định nào cho một
thông điệp gọi là hay, điều đó đòi hỏi những người thực hiện phải tìm tòi và suy nghĩ,
đây luôn là giai đoạn cần nhiều sự sáng tạo nhất. Đôi khi, sự sáng tạo được đặt lên trên
vấn đề chi phí nếu khách hàng có thể thấy được những gì nó mang đến trong tương lai.
Thiết kế thông điệp quảng cáo là một quá trình mà nhà sáng tạo tìm ra con đường đi tới
tâm trí của công chúng mục tiêu. Để khai phá con đường đó cần có phương pháp và kỹ
thuật riêng dựa trên những nguyên lý chung của tư suy và sáng tạo. Quá trình ấy bao
gồm những bước, những khâu thực hiện đòi hỏi người làm thông điệp phải đáp ứng
thực hiện ở mức độ này hay mức độ khác miễn là đạt được mục đích yêu cầu của khâu
10
Chuyên đề tốt nghiệp
đó. Chúng ta có thể khái quát quy trình nói tới ở trên bằng một cụm từ “ cấu trúc dịch
vụ thiết kế thông điệp quảng cáo” mà sẽ được trình bày ngay sau đây.
1.2.1 Cấu trúc dịch vụ thiết kế thông điệp
Cấu trúc dịch vụ thiết kế thông điệp có thể được mô hình hóa bởi sơ đồ sau:
Hình 1.5 – Sơ đồ mô hình hóa quy trình thiết kế thông điệp quảng cáo
Theo sơ đồ trên, quá trình cho ra đời một thông điệp trải qua ba giai đoạn: Đầu
tiên là phải hình thành thông điệp. Về nguyên tắc, thông điệp của một sản phẩm cần
được coi là một bộ phận không tách rời của quá trình phát triển sản phẩm. Nó phải
biểu hiện được lợi ích chủ yếu mà sản phẩm đó mang lại. Do đó, thông điệp dù bay
bổng đến đâu cũng phải có cái gốc bắt nguồn từ sản phẩm dịch vụ hay thương hiệu mà
nó đại diện. Do đó, để bắt đầu hình thành nên các phương án thông điệp, ta cần thực
hiện các cuộc nghiên cứu để đánh giá về sản phẩm, thương hiệu, khách hàng mục tiêu

hàng, nhấn mạnh được các yếu tố kích thích hành động mua như giảm giá, tặng quà,
trúng thưởng…v v Thông điệp được chọn sẽ phải rõ ràng và trực tiếp tác động tới
khách hàng mục tiêu. Do vậy, căn cứ vào mục đích để lựa chọn phương án thông điệp
là khâu hết sức quan trọng và không nên bị xem nhẹ. Ngoài ra, việc đánh giá các thông
điệp quảng cáo của đối thủ cạnh tranh cũng có ý nghĩa rất lớn, thông điệp phải khác
biệt với đối thủ, do đó nên quảng cáo mới có nghĩa là luôn tìm tòi cái mới, làm những
gì người khác chưa từng làm và nghĩ điều chưa ai nghĩ tới. Thông điệp được chọn phải
phù hợp với đặc tính, tư duy, thói quen của khách hàng mục tiêu, để đánh giá được
điều này cần phải có những cuộc nghiên cứu hành vi và tâm lý khách hàng một cách kỹ
lưỡng. Những vấn đề về văn hóa là vấn đề khá nhạy cảm, thông điệp không được đi
ngược lại thuần phong mỹ tục, đi ngược lại những quan niệm đạo đức xã hội và luật
pháp của nước sở tại. Mặt khác, đôi khi thông điệp có được chọn hay không còn phụ
thuộc nhiều vào ý kiến đánh giá của chính doanh nghiệp là chủ thể quảng cáo. Người
đưa ra quyết định thường là người đứng đầu chuyên trách bộ phận quảng cáo, nhiều
khi là người đứng đầu doanh nghiệp khách hàng, do vậy không tránh khỏi những ý
kiến cá nhân hướng vào việc lựa chọn thông điệp khác so với những gợi ý ban đầu của
người làm quảng cáo. Nên trước khi đưa ra phương án thông điệp, việc nghiên cứu bản
thân khách hàng là chủ thể quảng cáo cũng cần được xem xét thực hiện. Thông điệp
nào thỏa mãn mức độ cao nhất hàng loạt các tiêu chí đặt ra, đó sẽ là phương án được
lựa chọn.
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Giai đoạn cuối cùng là thực hiện thông điệp đã chọn ở trên. Ta đã biết, tác dụng
của thông điệp quảng cáo không chỉ phụ thuộc vào nội dung truyền đạt mà nó còn phụ
thuộc vào cả cách thức truyền đạt nữa. Cách lựa chọn hình ảnh, màu sắc, âm thanh
cũng ảnh hưởng tới mức độ thông điệp được tiếp nhận ở mức độ nào. Các yếu tố trên
phải đảm bảo hỗ trợ cho thông tin tới đúng đích và duy trỳ tác động ở mức độ yêu cầu.
Đây cũng là việc khiến nhà quảng cáo sẽ phải trở thành một nghệ sỹ, sự sáng tạo luôn
được đề cao đối với những người mã hóa nội dung thông điệp bằng ngôn ngữ hay bằng
các chất liệu của cuộc sống.

dành cho những người có chuyên môn. Trong một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
quảng cáo, mảng dịch vụ thiết kế thông điệp luôn là mảng hoạt động được chú trọng
bởi điều này góp phần tạo nên sự khác biệt của bản thân doanh nghiệp quảng cáo bằng
cách tạo nên sự khác biệt trong thông điệp của doanh nghiệp khách hàng.
1.3 Truyền tải thông điệp quảng cáo
1.3.1 Nguyên lý truyền thông trong Quảng cáo
Truyền tải thông điệp cũng là một khâu quan trọng trong việc thực hiện một
chương trình quảng cáo. Nếu như thông điệp sẽ quyết định tới việc công chúng mục
tiêu sẽ bị tác động như thế nào thì những quyết định về truyền tải thông điệp sẽ quyết
định tới cường đó tác động đó được bao nhiêu phần trăm của cường độ mong muốn.
Nếu như người làm quảng cáo đưa ra những quyết định sai về lựa chọn phương tiện
hay tần suất, phạm vi v.v… sẽ gây lãng phí và hiệu quả quảng cáo thấp. Người làm
quảng cáo nên dựa vào nguyên lý của mô hình truyền thông gồm 9 phần tử. Hai phần
tử thể hiện các bên tham gia truyền thông là người gửi và người nhận. Hai phần tử là
những công cụ truyền thông chủ yếu tức là thông điệp và phương tiện. Bốn phần tử
tiếp theo là những chức năng truyền thông như mã hóa, giải mã, phản ứng đáp lại và
14
Chuyên đề tốt nghiệp
liên hệ ngược. Phần tử cuối cùng là nhiễu trong hệ thống. Sau đây là sơ đồ mô hình
truyền thông 9 phần tử nói trên:
Hình 1.6 Mô hình truyền thông gồm 9 phần tử
Nhìn vào sơ đồ trên, ta nhận thấy rằng, để thông tin tới với đối tượng của nó
hiệu quả nhất thì quá trình mã hóa thông tin phải đảm bảo quá trình giải mã sau đó của
đối tượng diễn ra thuận lợi và khắc phục tối đa các nhiễu từ môi trường. Quá trình ra
quyết định truyền tải thông điệp quảng cáo như thế nào cho hiệu quả cần cân nhắc tới 9
yếu tố trên bởi đây là nguyên lý truyền thông cơ bản áp dụng cho chiến lược truyền
thông marketing nói chung và quảng cáo nói riêng.
1.3.2 Các quyết định về truyền tải thông điệp quảng cáo
Trong quảng cáo, công việc truyền tải thông điệp có thể nói là những quyết
định về phương tiện truyền thông, và khi nói tới phương tiện truyền thông, người ta

Không những phải nắm rõ những chỉ tiêu trên mà người làm quảng cáo còn phải
nắm được khả năng đảm bảo các chỉ tiêu phạm vi, tần suất và cường độ tác động của
các loại hình phương tiện truyền thông cơ bản cùng với giá cả, ưu điểm và hạn chế của
chúng. Người lập kế hoạch truyền thông phải xem xét lựa chọn phương tiện dựa trên
một số biến như thói quen sử dụng phương tiện truyền thông của công chúng mục tiêu,
16
Xác định
phạm vi tần
suất, cường
độ
Lựa chọn
phương
tiện truyền
thông chủ
yếu
Lựa chọn
phương
tiện truyền
thông cụ
thể
Quyết định
lịch sử
dụng
phương
tiện
Phân bổ
phương
tiện theo
địa lý
Chuyên đề tốt nghiệp

phải phân bố chi phí quảng cáo trong thời gian ngắn để đạt được cường độ tác động tối
đa. Tuy nhiên, bất kỳ loại thời gian biểu nào cũng đều phải phù hợp với mục tiêu
truyền thông trong mối quan hệ không tách rời về bản chất với sản phẩm, khách hàng
mục tiêu, kênh phân phối và những yếu tố khác trong marketing. Thời gian biểu ấy có
thể được lập ra cho thời gian ngắn như tháng, quý hoặc thậm chí cho cả năm. Với thời
gian ngắn hạn như tháng, quý kế hoạch quảng cáo có thể được lập chi tiết tới ngày, giờ
thông điệp được phát, tất cả những thông tin cần thiết đều đã được cụ thể hóa ở mức
cao nhất . Tuy nhiên đối với lịch quảng cáo của một năm, thông tin có thể chỉ được chi
tiết tới số tần suất của thông điệp mà một phương tiện truyền thông cụ thể có thể đảm
nhận. Ví dụ, trong kế hoạch truyền thông cụ thể, ta có thể nắm bắt được thông tin về
mẩu quảng cáo sẽ được đăng trên báo A vào các số ra ngày thứ 2-4-6 của tuần thứ 4
tháng 10 dưới dạng trang màu bìa 4, còn trong lịch truyền thông chung thì thông tin có
thể ở mức độ khái quát hơn : tháng 10 sẽ có 3 quảng cáo trên báo A dưới dạng trang
màu.v.v…Do vậy, lịch quảng cáo chung bao giờ cũng được thực hiện trước lịch quảng
cáo chi tiết, cả hai được gọi chung dưới một cái tên là thời gian biểu quảng cáo hay lịch
quảng cáo.
Việc phân bố địa lý có nghĩa là lựa chọn khu vực mà quảng cáo sẽ tiếp cận được
với công chúng mục tiêu. Đó có thể là phạm vi toàn quốc hay chỉ trong một địa phương
nào đó. Điều này phụ thuộc vào khu vực sinh sống của đối tượng công chúng mục tiêu
là rộng hay hẹp và phương tiện nào có thể bao phủ được.
Có thể thấy những quyết định về phương tiện truyền thông có ý nghĩa rất lớn tới
mức độ phản ứng đáp lại của từ phía khách hàng mục tiêu. Quá trình truyền tải thông
điệp phải đảm bảo đối tượng công chúng mục tiêu tiếp nhận thông tin ở mức chính xác
nhất có thể so với ý đồ của chủ thể quảng cáo. Đây chưa bao giờ là công đoạn dễ dàng
trong tất cả các công đoạn xây dựng một chương trình quảng cáo.Vấn đề doanh nghiệp
18
Chuyên đề tốt nghiệp
gặp phải nhiều nhất đó là việc lập kế hoạch phương tiện truyền thông. Như vậy, khi
các doanh nghiệp gặp khó văn trong vấn đề truyền tải thông điệp quảng cáo của mình,
họ tìm tới các công ty quảng cáo, như vậy đây đã thực sự trở thành một dịch vụ độc

Tư vấn quảng cáo có thể được hiểu là một dịch vụ phát sinh từ nhu cầu của các
doanh nghiệp muốn quảng cáo nhưng đang bế tắc chưa thể đưa ra một hay một vài
quyết định ở một khâu nào đó và cần sự trợ giúp của những người chuyên nghiệp. Kết
quả của dịch vụ tư vấn này là đưa ra câu trả lời cho câu hỏi “ làm gì”, “làm như thế
nào”, “ở đâu” , “ai có thể giải quyết được vấn đề ”…Tư vấn quảng cáo nhằm giải quyết
những vấn đề mang tính kế hoạch, chiến lược và giúp vạch ra một vài phương án để
người quyết định có thể dựa trên cơ sở đó để đưa ra lựa chọn cuối cùng. Nó có thể
không chỉ liên quan tới một khâu hay một bước nhất định mà là tất cả các vấn đề của
hoạt động quảng cáo và thực hiện quảng cáo tại doanh nghiệp. Điều này có thể được
giải thích là, các doanh nghiệp vẫn còn đang gặp khúc mắc với những vấn đề vĩ mô
như các văn bản luật quảng cáo do nhà nước ban hành, cách thức quản trị hoạt động
quảng cáo trong doanh nghiệp mình hay các vấn đề nhỏ hơn như lựa chọn phương tiện
gì với tuần suất bao nhiêu, phạm vi tác động như thế nào v.v Do đó đòi hỏi người làm
nhiệm vụ tư vấn phải nắm vững nghiệp vụ một cách cặn kẽ, thông hiểu tất cả các vấn
đề liên quan tới quảng cáo và có nhiều kinh nghiệm nhằm mục đích đưa ra cho khách
hàng lời khuyên đúng đắn. Thông thường, đó là những lời khuyên về chiến lược truyền
thông dài hạn, kế hoạch truyền thông ngắn hạn, tư vấn về luật và các vấn đề liên quan
tới luật. Đây là công việc đúng nghĩa của các Agency quảng cáo, sau đó, khi những
quyết định về chiến lược hay kế hoạch tổng thể được đưa ra thì phần thực hiện chi tiết
từng hạng mục trong bảng kế hoạch đó có thể được chuyển cho các nhà quảng cáo gia
công mà người ta gọi là Advertising Supplier. Hiện tại trên thị trường đang tồn tại
20
Chuyên đề tốt nghiệp
nhiều mô hình khác nhau của các doanh nghiệp quảng cáo, vừa là các hãng Agency,
vừa có các nhà cùng cấp Supplier và một dạng hoạt động kết hợp của hai loại trên. Với
tốc độ tăng trưởng của ngành nhanh như hiện nay, chắc rằng sẽ còn nhiều loại hình
dịch vụ quảng cáo ra đời cùng với nó là các mô hình hoạt động mới của các doanh
nghiệp kinh doanh chúng.
1.4.2 Quy trình của dịch vụ tư vấn quảng cáo
Dịch vụ tư vấn quảng cáo cũng cần được thực hiện theo những quy trình nhất

Quyết
định
phương
án tư
vấn
Thực
hiện tư
vấn
Khách
hàng
đánh
giá và
trả phí
Chuyên đề tốt nghiệp
cần người khắc phục hay cải thiện hiện trạng đó. Khi ấy, công ty quảng cáo phải tiến
hành nghiên cứu, khảo sát, đánh giá, phân tích tìm ra nguyên nhân của hiện trạng và đề
ra những giải pháp. Một số trường hợp khác, khách hàng có thể nhận định sai lầm về
tình trạng thực tế của doanh nghiệp mình, họ nhận định nguyên nhân không đúng nên
đưa ra yêu cầu với người tư vấn. Do đó, người làm công tác tư vấn cũng cần tỉnh táo để
nhận định lại yêu cầu của khách hàng, phải tìm hiểu mục đích cuối cùng của yêu cầu tư
vấn là gì để xác định một giải pháp tối ưu.
Thu thập thông tin là khâu quan trọng thứ hai của quy trình, muốn kết quả tư vấn
có tính thực tiễn, người làm tư vấn phải đảm bảo thông suốt thông tin. Hiểu rõ về
doanh nghiệp, về hoạt động quảng cáo, về thông điệp quảng cáo, về phương tiện, về thị
trường bao gồm đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, các nhà phân phối hay các thế
lực siêu thị trường. Tóm lại, họ cần phải hiểu rõ môi trường đã phát sinh ra vấn đề thì
mới có thể tìm ra nguyên nhân khắc phục những vấn đề đó nhằm đề ra giải pháp có
tính thực tế cao.
Khi đã xác định rõ yêu cầu, nắm bắt đầy đủ thông tin cần thiết, công việc tiếp theo
là phải đề xuất được một vài phương án tư vấn đảm bảo thỏa mãn yêu cầu đặt ra trước

mức độ thỏa mãn của khách hàng đối với hàng hóa dịch vụ khác, nếu những ý kiến tư
vấn thực sự đáp ứng hay vượt yêu cầu của khách hàng, những đánh giá tốt và tích cực
ấy đương nhiên sẽ góp phần làm tăng uy tín và mang lại lợi nhuận cho người làm việc
tư vấn và công ty tư vấn quảng cáo nọ.
Công việc tư vấn luôn được coi là việc của những chuyên gia quảng cáo, đây cũng
là mảnh dịch vụ mà không phải doanh nghiệp quảng cáo nào cũng có thể thực hiện
được. Tư vấn hiệu quả phải được đưa ra bởi những người thực sự có kinh nghiệm, am
hiểu hầu hết các vấn đề liên quan như về luật, các khâu và bước thực hiện của các quá
trình thực hiện quảng cáo từ nhỏ tới lớn. Họ cần phải hiểu biết về các cách thức quản lý
23
Chuyên đề tốt nghiệp
hoạt động quảng cáo và có khả năng nắm bắt thông tin nhanh, phân tích và tổng hợp
mọi nguồn thông tin để đưa ra những phương án có tính khả thi cao. Nguồn lực về còn
người đặc biệt được coi trọng, các công ty quảng cáo lớn đều có hẳn một chiến lược
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hoạt động cho bộ phận này bởi doanh thu đem lại
từ tư vấn quảng cáo lớn hơn rất nhiều so với các tiểu ngành dịch vụ khác.
Tóm lại, trong chương 1, chúng ta đã điểm qua một số những nét tổng quan về
quảng cáo và các loại hình dịch vụ chủ yếu của nó. Đó mới chỉ là những lý luận làm cơ
sở chung cho những phân tích sau đây khi đặt vào hoàn cảnh cụ thể là Công ty TNHH
quảng cáo và hội chợ Tây Hồ.Giữa lý thuyết và thực tế luôn luôn có một khoảng cách,
quan trọng là phải biết rõ mức độ khoảng cách ấy lớn ra sao từ đó mới đưa ra được
những biện pháp khắc phục sự khác biệt ấy.
Chương 2 sau đây là thực trạng kinh doanh và thực trạng dịch vụ quảng cáo tại
WELAKE. Sau khi kết thúc chương này, hi vọng chúng ta sẽ biết được câu trả lời cho
câu hỏi “ khoảng cách ấy ra sao” đã đề cập ở bên trên.
24
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 2 – ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG DỊCH VỤ QUẢNG CÁO CỦA
WELAKE
2.1 WELAKE và thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status