LỜI MỞ ĐẦU.
Năm 2006 kết thúc, nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là có những
bước phát triển nhanh chóng. Hàng loạt sự kiện kinh tế, chính trị quan trọng
đã thể hiện sự tự vươn lên của Việt Nam. Điều đó cho thấy 20 năm đổi mới đã
mang lại cho chúng ta rất nhiều điều. Nhưng hầu như tất cả những nhà kinh tế
lạc quan nhất vẫn tỏ ra lo lắng về nền kinh tế Việt Nam. Bởi lẽ sự phát triển
của chúng ta là tốt nhưng bên trong nó lại chứa những nguy cơ, thách thức
khiến cho sự phát triển không thật sự vững chắc. Một trong những thách thức
đó lại xuất phát từ chính nguồn gốc cho sự phát triển: đó là hoạt động đầu tư
của Việt Nam. Là nước có tốc độ tăng trưởng thuộc top cao nhất thế giới, có
tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP tăng nhanh qua các năm, nhưng thách thức về
hiệu quả sử dụng vốn lại là bài toán khó đối với Việt Nam. Chỉ một so sánh
nhỏ rằng Trung Quốc có tỷ lệ tăng trưởng bình quân cao hơn Việt Nam,
nhưng họ lại có tỷ lệ sử dụng vốn và nguyên vật liệu ít hơn. Hơn nữa sự phát
triển của Việt Nam lại không đi kèm với sự tăng lên tương xứng về tiềm lực
công nghệ và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý. Điều đó khiến chúng ta
không khỏi lo lắng rằng Việt Nam đang phát triển nhưng không khỏi thua kém
các nước khác một cách tương đối. Vì vậy, việc xem xét lại hoạt động đầu tư
để tìm ra những hạn chế hòng khắc phục và đẩy mạnh hiệu quảt của hoạt động
đầu tư là rất cần thiết và một điều có thể nhận thấy khá rõ ràng muốn phát
triển nhanh và vững chắc cần phải có một cơ cấu đầu tư đảm bảo cho sự phát
triển khoa học công nghệ một cách nhanh chóng. Đây chính là yêu cầu đặt ra
cho việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo
chiều sâu trên giác độ toàn bộ nền kinh tế.
Với mong muốn tìm hiểu về mối quan hệ đó, nhóm chúng tôi đã có sự
xem xét lại hoạt động đầu tư của Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau Đại
hội VII đến nay, và từ đó rút ra một số kết luận, giải pháp. Đó là nội dung của
bài thảo luận mà nhóm chúng tôi sẽ trình bày cùng các bạn hôm nay.
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
1
CHƯƠNG I: NHỮNG QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ ĐẦU TƯ THEO
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
2
Loại đầu tư này không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá
trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Với sự hoạt động của hình
thức này, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng khi cần có thể rút ra một
cách nhanh chóng, điều đó khuyến khích người có tiền đầu tư. Đây là một
nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.
Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để
mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh
lệch giá khi mua và khi bán. Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới
cho nền kinh tế( nếu không xét đến ngoại thương) mà chỉ lam tăng gia tài sản
tài chính của người đầu tư trong qúa trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền
sở hữu hàng hoa giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách
hàng của họ. Tuy nhiên đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu
thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát
triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh
doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung.
Đầu tư phát triển: đó là việc bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm
tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và
mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời
sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng
sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt thiết
bị và bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường
xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt
động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.
.
1.1.2. Phân loại các hoạt động đầu tư
Trong công tác quản lý và kế hoạch hoá hoạt động đầu tư các nhà kinh
tế phân loại hoạt động đầu tư theo các tiêu chí khác nhau. Mỗi tiêu thức phân
loại và đáp ứng nhu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế khác nhau. Những tiêu
như cũ. Loại hình tái sản xuất này thường gắn với nền sản xuất nhỏ và là đặc
trưng của nền sản xuất nhỏ.
Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn
hơn trước. Loại hình tái sản xuất này thường gắn với nền sản xuât lớn và là
đặc trưng của nền sản xuất lớn.
Trong lịch sử, việc chuyển từ tái sản xuất giản đơn lên tái sản xuất mở
rộng là một quá trình phát triển lâu dài gắn liền với việc chuyển từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn.Tái sản xuât giản đơn gắn liền với sản xuất nhỏ, năng
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
4
suất lao động thấp, chỉ đạt mức đủ nuôi sống con người, chưa có hoặc có rất ít
sản phẩm thặng dư, những sản phẩm làm ra lại đem tiêu dung hết cho cá
nhân.Tái sản xuất mở rộng đòi hỏi xã hội phải đat trình độ năng suất lao động
vượt ngưỡng cửa sản phẩm tất yếu và tạo ra sản phẩm thặng dư ngày càng
nhiều. Sản phẩm thặng dư là nguồn gốc để tích luỹ tái sản xuất mở rộng.
Tái sản xuất mở rộng gồm hai hình thức là tái sản xuất mở rộng theo
chiều rộng và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu.
Tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng là sự mở rộng quy mô sản xuất,
tăng thêm sản phẩm làm ra nhờ sử dung nhiều hơn các yếu tố đầu vào,các
nguồn lực của sản xuất, trong khi năng suât và hiệu quả của các yếu tố sản
xuất đó không đổi. Tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng chính là hình thức
đầu tư theo chiều rộng.
Tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu là sư tăng lên của sản phẩm chủ
yếu do tăng năng suât lao động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực, còn các
nguồn lực được sử dụng có thể không thay đổi, giảm hoặc tăng lên, nhưng
mức tăng của chúng nhỏ hơn mức tăng của năng suất lao động và hiệu quả sử
dụng các nguồn lực đó trong xã hội.Tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu chính
là hình thức đầu tư theo chiều sâu.
Từ những căn cứ trên chúng ta sẻ tìm hiểu rõ thêm về hai hình thức đầu
tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu cũng như mối quan hệ của chúng
thời gian thi công.
Do vốn lớn nên việc sản xuất bù đắp cho lượng vốn bỏ ra mât rất
nhiều thời gian cho nên thời gian thu hồi vốn lâu.
-Đầu tư theo chiều rộng có tính chất phức tạp và độ mao hiểm cao:
tính chất phức tạp do phải xây dựng va lắp ghép nhiều hạng mục công trình.
Trong quá trình thực hiện đầu tư, cũng do quá trình xây dựng phức tạp cộng
với vốn lớn va tác động tiêu cực của các yếu tố khách quan và chủ quan cho
nên đầu tư chiều rộng có độ mạo hiểm cao hơn.
c. Vai trò của đầu tư theo chiều rộng
Đầu tư theo chiều rộng có vai trò hết sức quan trọng.
Đối với toàn bộ nền kinh tế: đầu tư theo chiều rộng là nhân tố làm tăng
quy mô của nền kinh tế, tạo đà cho nền kinh tế tăng trưởng với quy mô lớn
hơn trước trên cơ sở xây dựng mới và mở rộng nhiều vùng kinh tế, nhiểu khu,
cụm công nghiệp trên khắp cả nước.Do đó nó còn thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu vùng kinh tế, thúc đẩy ,tạo điều kiện và hỗ trợ các vùng kinh tế
chậm phát triển, vùng sâu vùng xa được tham gia vào quá trình phát triển kinh
tế của đất nước một cách tích cực hơn, mạnh mẽ hơn.
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
6
Đối với các doanh nghiệp: Đầu tư chiều rộng đi cùng vơi việc có
thêm nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh được xây dựng thêm khiến cho quy mô
sản xuất của các doanh nghiệp được mở rộng, đưa năng suất tăng lên cho phép
khai thác hiệu quả theo quy mô. Nó còn góp phần tào ra nhiều việc làm mới,
giải quyêt công ăn việc làm cho người lao động ở các địa phương; làm tăng
doanh thu của các doanh nghiệp, góp phần làm tăng ngân sách nhà nước, đóng
góp vào đà tăng trưởng chung của nền kinh tế. Đầu tư chiều rộng có hiệu quả
càng nhiều thi doanh nghiệp càng có điều kiện về vốn, lao động tài nguyên
,công nghệ để phát triển sản xuất.
1.1.2.3. Đầu từ theo chiều sâu
a. Khái niệm
nâng cao hiệu quả đầu tư
- Khối lượng vốn đầu tư không lớn: Thông thương đầu tư chiều sâu
được thực hiện theo trọng điểm, do đó chỉ tập trung vào một số yếu tố nhât
định như đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động hoặc trang bị thêm
máy móc hoặc thay thế cac nguyên liệu đầu vào mới hay áp dụng công nghệ
mới, do đó khối lượng vốn đầu tư đòi hỏi không lớn va có thể thực hiện dễ
dàng nhanh chóng hơn so với đầu tư chiều rộng.
-Thời gian thực hiện đầu tư chiều sâu tương đối ngắn so với đầu tư
chiều rộng do khối lượng công việc ít đa dạng hơn. Do đó hình thức đầu tư
theo chiều sâu ít mao hiểm hơn và có độ rủi ro thấp hơn so với đầu tư theo
chiều rộng.
- Do chỉ tập trung đầu tư cho một số hạng mục công trình cho nên hình
thức này sẽ thuận lợi hơn cho việc quản lý; tuy nhiên do công việc có tính
phức tạp về mặt công nghệ cho nên đòi hỏi phải thi công với kỹ thuật cao.
- Đầu tư theo chiều sâu thu hồi vốn nhanh: Thông thường trong quá
trình thực hiện đầu tư việc sản suất vẫn có thể song song, thêm vào đó do khối
lượng vốn đầu tư tương đối nhỏ khiến cho việc thu hồi vốn diễn ra nhanh
chóng.
c. Vai trò của đầu tư theo chiều sâu.
Đối với nền kinh tế nói chung: Đầu tư theo chiều sâu là điều kiện không
thể thiếu được trong điều kiện ngày nay để thực hiện chiến lược công nghiệp
hoá hiện đại hoá nền kinh tế. Không chỉ mở rộng quy mô của nển kinh tế về
măt lượng tức là đầu tư theo chiều rộng mà song song với nó phải tiến hành
đầu tư theo chiều sâu để nâng cao mặt chất của nền kinh tế, tức là phải tăng
năng suất lao động trên cơ sơ cải tạo nâng cao trình độ của đội ngũ nhân công,
sử dụng có hiệu quả các nguồn nhiên liệu khan hiếm trên cơ sở tìm các loại
nguyên vật liệu mới có hiệu quả thay thế và tăng cường hàm lượng công nghệ
trong các sản phẩm của nền kinh tế trên cơ sơ đổi mới máy móc công nghệ.
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
8
nhân công để đáp ứng khối lượng yêu cầu tăng thêm của sản xuất va đào tạo
cơ bản cho họ có thể đáp ứng được công việc.
1.1.3.2. Đầu tư theo chiều sâu
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
9
- Đầu tư chiều sâu nhăm làm tăng năng suất lao động. Đó là việc cải tạo
nâng cấp, đồng bộ hoá, hiện đại hoá dây chuyền công nghệ hiện có thay thế
dây chuyền công nghệ cũ.Có thể đầu tư cho mổt trong bốn yếu tố sản xuất hay
đầu tư cho cả bốn yếu tố đó.Việc này gồm: đào tạo công nhân sẵn có để nâng
cao trình độ cho họ có thể thích ứng với công nghệ mới ( có thể đào tạo trực
tiếp tại các doanh nghiệp hoặc liên kết đào tạo với các trung tâm dạy nghề, các
trường kỹ thuật), trang bị thêm máy móc, sử dụng thêm các loại nguyên liệu
đầu vào mới hay công nghệ mới để tăng sản lương, giảm chi phí sản xuất với
đội ngũ công nhân hiện tại.
- Đầu tư chiều sâu là hoạt động phát triển nguồn nhân lực và đầu tư để
tổ chức lại bộ máy quản lý, phương pháp quản lý của doanh nghiệp. Đầu tư
chiều sâu là mặt “chât” cho nên chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả của bộ
máy quản lý là một nhân tố hết sức quan trọng, quyết định cho hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
* Xét về mặt đầu tư cho tài sản cố định: nội dung đầu tư cho chiều sâu
bao gồm:
- Đầu tư mở rộng là việc xây dựng thêm hoặc mua sắm thêm
những đối tượng tài sản cố định mới nằm trong thành phần tài sản cố định có
sẵn nhằm tăng cường khối lượng sản xuất.
- Xây dựng lại là việc đầu tư để bố trí lại toàn bộ hoặc một bộ phận
các dây chuyền sản xuất ở cơ sở cho phù hợp với điều kiện sản xuất mới.
- Hiên đại hoá là thực hiện tổng thể các biện pháp kỹ thuật nhằm
cơ khí hoá, tự động hoá các bộ phận sản xuất đang hoạt động, thay thế những
thiết bị cũ đã hao mòn hoặc lạc hậu bằng các thiết bị mới có năng suât, hiệu
quả cao hơn.
nghiệp đó sản xuất ra sẽ lạc hậu, không tiêu thụ được.
Tiêu chí dùng để phân biệt 2 hình thức đầu tư này là quan hệ giữa tốc
độ tăng vốn với tốc độ tăng năng suất lao động, là trình độ thiết bị công nghệ
đưa vào đầu tư. Đầu tư theo chiều rộng là đầu tư mới hay mở rộng sản xuất.
Trong trường hợp này, với một số vốn ban đầu nhất định sẽ làm cho lao động
tăng nhanh hơn nhưng trình độ kỹ thuật- công nghệ không tiên tiến, hoạt động
hơn kỹ thuạt công nghệ hiện có. Còn đầu tư theo chiều sâu là đầu tư được
thực hiện trên cơ sở cải tạo , mở rộng và nâng cấp, đồng bộ hóa, hiện đại hóa
cơ sở vật chất kĩ thuật hiện có hoặc có thể đầu tư một dây chuyền công nghệ ,
xây dựng một nhà máy mới, nhưng kĩ thuật công nghệ phải hiện đại hơn kĩ
thuật công nghệ hiện có hay bình quân chung của ngành, địa phương.
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa hai hình thức đầu tư này chỉ mang tính
chất tương đối bởi trong hình thức đầu tư này thường chứa đựng hình thức
đầu tư kia, và ngược lại. Khi áp dụng hình thức này sẽ không làm hạn chế
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
11
hình thức kia mà là điều kiện và tiền đề để hình thức đầu tư kia phát triển. Khi
một doanh nghiệp có kế hoạch thực hiện đầu tư, họ sẽ đứng trước một quyết
định khó khăn,đó là đầu tư vào đổi mới công nghệ tăng năng suất lao đọng
hay đầu tư mở rộng quy mô sản xuất. Tuy nhiên như đã nói ở trên hai việc này
thường đi kèm với nhau, do vậy doanh nghiệp cần phải kết hợp một cách hợp
lí nhất hai hình thức đầu tư này. Mặt khác nguồn lực đầu vào cho hoạt động
đầu tư là hạn chế, nếu đầu tư vào chiều rộng thì sẽ thôi hay giảm bớt nguồn
lực cho đầu tư theo chiều sâu và ngược lại. Hai cách thức đầu tư này có những
đặc điểm, quy trình thực hiện... tương đối giống nhau. Tuy nhiên đầu tư theo
chiều rộng mang tính chất tạo mới những điều kiện sản xuất kinh doanh trong
khi những điều kiện kĩ thuật khác giữ nguyên. Còn đầu tư theo chiều sâu thì
lại đi từ những thứ có sẵn và đổi mới, phát triển chúng lên một trình độ cao
hơn hiện tại. Tuy đối lập song hai hình thức này tạo thành một mâu thuẫn biện
chứng tồn tại trong sự thống nhất với nhau. Sự thống nhất đó thể hiện ở tác
như xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm các máy móc thiết bị , đào tạo và tuyển
dụng nguồn nhân lực. Đây là nền tảng không thể thiếu và hết sức quan trọng
nó chính là đòn bẩy là giai đoạn tiền đề giúp cho các doanh nghiệp có những
bước tiến tiếp theo. Việc tiến hành đầu tư theo chiều rộng phải đảm bảo tiến
độ, khi những điều kiện khởi đầu được hoàn thành tốt, kịp thời thì việc sản
xuất theo kế hoạch sẽ thu được những lợi thế rõ rệt. Tuy nhiên, khi quá trình
sản xuất kinh doanh đi vào ổn định , chúng ta cần đầu tư tiếp để hoàn thiện bộ
máy cho năng suất cao, ổn định.
Và ngược lại đầu tư theo chiều sâu là yếu tố quan trọng để có quyết
định đầu tư theo chiều rộng một cách cụ thể. Đầu tư theo chiều sâu là việc tiến
hành cải tạo, nâng cấp dây chuyền công nghệ, đào tạo, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực…Những biện pháp này sẽ làm tăng năng suất lao động , sản
xuât được nhiều sản phẩm với chất lượng tốt hơn, giá thành rẻ hơn. Từ đó tạo
điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tăng doanh thu, chiếm lĩnh thị
trường. Hoạt động đầu tư theo chiều rộng chỉ đem lại hiệu quả trong một giới
hạn nhất định của công nghệ , trình độ sản xuất. Nếu đầu tư theo chiều rộng
quá mức sẽ dẫn tới mâu thuẫn với trình độ quản lí , trình độ sản xuất , khả
năng công nghệ …làm cho doanh nghiệp cồng kềnh mà không đạt hiểu quả
thậm chí còn giảm năng suất.
Có thể lấy một ví dụ về việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa đầu tư theo
chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu , đó là công ty gạch ngói Mĩ Xuân. Trước
kia đây là công ty phát trỉên khoáng sản 6 thuộc tổng công ty khoáng sản 5 ,
Năm 1996 công ty phát triển khoáng sản 6 đầu tư xây dựng nhà máy Mĩ Xuân
với công suất thiết kế là 25 triệu viên sản phẩm quy chuẩn /năm , tổng vốn
đầu tư là 22,5 tỉ đồng. Một năm sau nhà máy đi vào sản xuất sản phẩm sản
xuất ra luôn trong tình trạnt “cháy” sản phẩm. Do đó năm 2001 nhà máy đã
đầu tư thêm 10,5 tỉ đồng để mở rộng công suất thiết kế lên 37 triệu viên/năm.
Nhờ việc đầu tư mở rộng này mà doanh thu liên tục tăng: năm 2004 là
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
13
thị trường. Lúc đó, phải đánh giá được nhu cầu thị trường mong muốn cũng
như khả năng đáp ứng để có kế hoạch cụ thể. Trong ngắn hạn , các nhà đầu tư
sẽ thực hiện việc đầu tư theo chiều rộng (mở rộng quy mô các yếu tố đầu vào
như nguyên liệu , lao động…) nhằm tận dụng lợi thế theo quy mô đáp ứng
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
14
nhu cầu thị trường . Bên cạnh đó để có thể đáp ứng được nhu cầu trong dài
hạn nhà đầu tư không thể không quan tâm tới việc nâng cao năng năng suất
lao động nhằm đáp ứng số lượng sản phẩm nhiều hơn với nguồn nguyên liệu
đầu vào vẫn không thay đổi. Ngược lại, nếu cầu sản phẩm thấp , hoạt động
đầu tư sẽ bắt đầu từ việc cải tiến công nghệ , tăng chất lượng sản phẩm hoặc
tìm ra sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu mới của khách hàng, hoặc có thể đầu tư
theo chiều rộng đưa sản phẩm mới ra đời tạo ra nhu cầu mới .
Tương tự như cầu, cung cũng có tác động trực tiếp đến việc quyết định
đầu tư . Việc đầu tư theo chiều rộng sẽ được áp dụng khi các nhà sản xuất
không đáp ứng đủ nhu cầu trên thị trường . Còn ngược lại, khi cung thị trường
quá cao đòi hỏi các nhà cung ứng đầu tư theo chiều sâu .
Cung và cầu là hai yếu tố quan trọng tác động đến quyết định đầu tư
theo chiều rộng hay đầu tư theo chiều sâu , chúng cũng có ảnh hưởng rất lớn
đến việc phát huy hiệu quả của hoạt động đầu tư . Dưới sự tác động qua lại
giữa cung và cầu, các nhà đầu tư phải hoạch định được sự biến đổi không
ngừng giữa chúng để có những quyết định đầu tư hiệu quả, chính xác. Có
những ý kiến cho rằng cầu có tác động quan trọng nhất, nó quyết định việc
sản xuất của mỗi doanh nghiệp. Thật vậy, khi cầu sản phẩm ở mức cao, việc
đầu tư làm tăng khối lượng (đầu tư theo chiều rộng ) hay làm tăng chất lượng
( đầu tư theo chiều sâu ) sẽ là những biện pháp tốt nhất để kích cầu, giúp các
doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm hơn, tăng doanh thu . Tuy nhiên ,
chúng ta không nên quá đề cao cầu mà quên đi sự tác động cũng hết sức quan
trọng của tình hình cung cấp hàng hóa trên thị trường. Khi cung ở mức cao,
các doanh nghiệp sẽ gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ. Nếu cạnh tranh quá găy
thọ dài thường có giá trị cao nên việc đầu tư theo chiều rộng cần kết hợp với
đầu tư theo chiều sâu để tăng tính cạnh tranh
b. Chu kì sống của sản phẩm
Do đặc tính của từng loại sản phẩm mà ta cần có hình thức đầu tư cho
phù hợp nhằm mục đích bảo đảm hiệu quả đầu tư. Với những sản phẩm có
chu kì sản phẩm ngắn việc đầu tư theo chiều sâu sẽ không đạt được hiệu quả
tối ưu, sự đầu tư đó sẽ không nhiều khả năng đem lại hiệu quả trước khi sản
phẩm đó rơi vào quên lãng . Trong khi đó những mặt hàng mang tính chất lâu
bền, tồn tại trong thời gian dài và thường có giá trị lớn hơn rất nhiều so với
các loại hành hóa nêu trên thì việc các hãng phải cạnh tranh nhau chính là về
chất lượng sản phẩm. Do đó các công ty sản xuất loại sản phẩm này sẽ chú
trọng đến các biện pháp đầu tư theo chiều sâu nhiều hơn.
Chu kì sống của sản phẩm là khoảng thời gian kể từ khi hàng hóa được
tung ra trên thị trường cho đến khi nó phải rút lui khỏi thị trường . Sự tồn tại
chu kì sống của sản phẩm là hiển nhiên, hy vọng về sự tồn tại lâu dài với hiệu
quả cao đối với mỗi loại sản phẩm là chính đáng khi ta bỏ ra nguồn lực để đầu
tư . Nhưng hy vọng đó chỉ đạt được khi doanh nghiệp biết được diễn biến của
chu kì sống , đặc điểm của nó , đồng thời có những điều chỉnh chiến lược đầu
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
16
tư cho thích hợp . Có bốn giai đoạn trong chu kì sống của sản phẩm , trong
mỗi giai đoạn có những hình thức khác nhau để gia nhập thị trường một cách
phù hợp nhằm đạt được hiệu quả đầu tư .
- Giai đoạn hình thành sản phẩm : Trong giai đoạn này, sản phẩm vừa
được tung ra thị trường, khách hàng bắt đầu làm quen với sản phẩm , chưa có
nhiều nhà cung cấp. Khi đó, đầu tư sản xuất sản phẩm này chủ yếu sử dụng
những công ngệ sẵn có chưa cần thiêt phải đổi mới.
- Giai đoạn phát triển : sau một thời gian , đã có nhiều người sử dụng và
ưa thích sản phẩm , thị trường có xu hướng cần ngày một nhiều hơn số sản
phẩm được đáp ứng, ta nên cần tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất . Ben cạnh