VỀ HIỆN TƯỢNG HÌNH SỰ HÓA CÁC QUAN HỆ
KINH TẾ, DÂN SỰ
TRONG LĨNH VỰC TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
NGUYỄN VĂN VÂN
TS., Khoa Luật Thương mại - Đại học Luật TP.HCM
Hiện tượng lạm dụng các qui định tố tụng hình sự và
các qui định pháp luật hình sự để giải quyết các quan
hệ kinh tế dân sự là một tình trạng khá phổ biến trong
đời sống xã hội và gây những hậu quả không nhỏ,
làm xói mòn niềm tin vào kỷ cương phép nước, sự
công bằng của pháp luật.
Theo thống kê của các cơ quan bảo vệ pháp luật
trong năm 1999 và 6 tháng đầu năm 2000 có 76 vụ án
và 349 bị can bị khởi tố, điều tra về các nhóm tội: Tội
phạm kinh tế, xâm phạm sở hữu nhà nước, xâm phạm
sở hữu công dân sau đó phải đình chỉ điều tra vì
không có tội, thực chất đây là các vụ việc thuộc quan
hệ dân sự, kinh tế. Cũng trong khoảng thời gian này
có 115 người bị khởi tố, điều tra truy tố và đưa ra xét
xử về các nhóm tội trên sau đó Tòa án xét xử và
tuyên bố bị cáo không phạm tội 1. Đảng, Nhà nước
và dư luận nhân dân quan tâm rất nhiều đến vấn đề
này. Vừa qua, Bộ Tư pháp kết hợp với Phòng thương
mại và công nghiệp VN tổ chức các tọa đàm ở Hà
Nội và TP Hồ Chí Minh với sự tham gia của các nhà
doanh nghiệp và đại diện các cơ quan bảo vệ pháp
luật, có nhiều ý kiến, tham luận bổ ích xung quanh
vấn đề này.
Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi không có
tham vọng nghiên cứu vấn đề một cách toàn diện cả
này chỉ tập trung ở giai đoạn áp dụng luật, là một
hành vi mang tính tiêu cực, thể hiện sự yếu kém, tiêu
cực trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và xa hơn
là sự lỏng lẻo của nhà nước trong quản lý kinh tế, là
sự tùy tiện, lộng hành của một nhóm người nắm trong
tay các công cụ quyền lực nhà nước. Chủ thể thực
hiện việc hình sự hóa là các cơ quan có thẩm quyền
thực hiện chức năng điều tra. Hình sự hóa, do đó phải
được xem là hành vi trái luật, trái đạo đức. Vì vậy
nếu hiểu hình sự hoá theo nghĩa này thì hiện tượng
hình sự hoá các quan hệ dân sự kinh tế là hiện tượng
vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng xuất
phát từ mục đích, động cơ cá nhân hoặc trình độ yếu
kém của chính cá nhân, thực hiện công tác điều tra,
truy tố…. Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này
hoàn toàn không hẳn là hệ thống pháp luật không
đồng bộ hoặc kỹ thuật lập pháp của các cơ quan soạn
thảo, ban hành pháp luật yếu kém
- Quan điểm II: là quan điểm của các nhà nghiên cứu,
tuy không phổ biến nhưng được xây dựng trên nền
tảng lý luận vững chắc. Quan điểm này cho rằng hình
sự hóa là sự chuyển hoá các quan hệ pháp luật dân
sự, kinh tế thành các quan hệ pháp luật hình sự thông
qua việc xây dựng các qui phạm pháp luật của cơ
quan có thẩm quyền 3. Trong cuộc sống xã hội, các
quan hệ xã hội hình thành, phát triển, thay đổi cả về
lượng và chất, mức độ nguy hiểm của một số hành vi
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, dân sự thay
đổi theo hướng nặng hơn. Sau khi nghiên cứu đánh
giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính
phi tội phạm hoá là xác định một loại hành vi nào đó
không là tội phạm và không cần thiết phải trừng trị
bằng pháp luật hình sự
Hình sự hoá là việc qui định hình phạt, tức là xác
định loại hình phạt, điều kiện quyết định hình phạt
đối với loại tội phạm này hay loại tội phạm khác,
ngược lại phi hình sự hoá là việc loại bỏ hay giảm
hình phạt đối với loại tội phạm này hay loại tội phạm
khác.
Như trình bày, thuật ngữ “hình sự hoá” được hiểu với
hai nghĩa hoàn toàn khác nhau, thậm chí trái ngược
nhau dưới phương diện ý nghĩa pháp lý- xã hội.
Thiết nghĩ, thuật ngữ hình sự hoá hiểu theo quan
điểm thứ I là không hợp lý, tạo ra một cách hiểu
không thống nhất, dễ nhầm lẫn giữa việc tuỳ tiện lạm
dụng pháp luật hình sự để giải quyết các quan hệ kinh
tế, dân sự như một hành vi tiêu cực với việc xác định
một tội danh mới, một hình phạt mới trong pháp luật
hình sự nhằm thực hiện chính sách hình sự như một
hành vi tích cực. Xuất phát từ nhầm lẫn trên, trong
một vài tham luận tại các tọa đàm, hội thảo không đi
tìm bản chất và nguyên nhân của hiện tượng mà chỉ
trích gay gắt Bộ luật hình sự như khởi đầu của mọi
nguyên nhân.
Thiết nghĩ, hiện tượng vẫn thường được gọi là “hình
sự hoá” theo quan điểm I cần phải được thay thế bằng
thuật ngữ “lạm dụng pháp luật hình sự trong giải
quyết các quan hệ kinh tế- dân sự”, xuất phát từ các
lý do sau:
- Thứ nhất: thuật ngữ này diễn tả được bản chất của
kinh doanh tiền tệ không chỉ nhằm mục đích tăng lợi
nhuận cho ngân hàng mà còn đảm bảo khả năng hoàn
trả cho người gửi tiền, góp phần bảo đảm an toàn hệ
thống ngân hàng, tài chính - tiền tệ quốc gia.
Hiện tượng lạm dụng pháp luật hình sự và tố tụng
hình sự trong giải quyết các tranh chấp tín dụng ngân
hàng thường biểu hiện dưới các trường hợp: Đến hạn
trả nợ, người đi vay không trả được nợ cho ngân
hàng, theo yêu cầu của ngân hàng, cơ quan điều tra
thực hiện các thủ tục khởi tố bắt giam, điều tra, xét
hỏi, theo Điều 140 BLHS Tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đọat tài sản hoặc Điều 139 BLHS Tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản.
Trong các trường hợp này, vấn đề phân định ranh
giới giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm vật chất
theo hợp đồng tín dụng đối với hành vi không trả
được nợ cho ngân hàng là rất mờ nhạt và khó xác
định.
Thông thường, hành vi không hoàn trả vốn và lãi chỉ
là vi phạm hợp đồng và chịu chế tài vật chất theo hợp
đồng như áp dụng lãi suất quá hạn, phạt vi phạm hợp
đồng, xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ… trong
trường hợp vẫn không thu hồi được nợ, TCTD có thể
yêu cầu Tòa án giải quyết, kể cả yêu cầu tuyên bố
phá sản theo pháp luật phá sản doanh nghiệp… mà
chưa thể cấu thành nên tội chiếm đoạt và áp dụng chế
tài hình sự.
Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường
hợp việc không trả nợ cho ngân hàng có dấu hiệu lạm
dụng tín nhiệm hoặc lừa đảo để chiếm đoạt tài sản
để người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài
sản. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng yếu tố lừa đảo
thường biểu hiện dưới dạng:
- Người đi vay dùng tài sản không thuộc sở hữu của
mình, tài sản đang tranh chấp, tài sản thuộc diện bảo
hiểm bắt buộc nhưng không mua bảo hiểm… để cầm
cố, thế chấp ngân hàng xin vay vốn, đến hạn trả nợ,
người đi vay không hoàn trả nợ, ngân hàng không thể
xử lý tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ.
- Nâng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố để đi vay của
ngân hàng. Hành vi này có dấu hiệu lừa đảo chỉ khi
có sự chênh lệch giữa giá trị thực của tài sản và giá trị
bên đi vay khai báo tại thời điểm nhận thế chấp thông
qua việc cố ý sửa đổi, che dấu giấy tờ, hoá đơn, sổ
sách, hoặc những hành vi tương tự lừa dối cán bộ tín
dụng hoặc Hội đồng định giá tài sản.
- Cố ý cung cấp cho ngân hàng các chứng từ, giấy tờ,
số liệu giả, không trung thực về tình hình tài chính,
về khả năng trả nợ của người đi vay, cũng như các
giấy tờ tài liệu về tính khả khi của dự án đầu tư… để
được vay tiền của ngân hàng.
- Thành lập các pháp nhân (doanh nghiệp, công ty
con…) không với mục đích kinh doanh mà chỉ dùng
tư cách pháp nhân để vay vốn ngân hàng.
- Tẩu tán, bán, chuyển nhượng tài sản đang là tài sản
thế chấp, cầm cố không được sự đồng ý của ngân
hàng nhận thế chấp, cầm cố gây khó khăn cho việc
thu hồi nợ
Như vậy, trong các tội lạm dụng tín nhiệm và lừa đảo
chiếm đoạt tài sản có hai yếu tố lạm dụng tín nhiệm
140, bởi trong thực tế có rất nhiều trường hợp bằng
cách thức lạm dụng tín nhiệm hoặc lừa đảo như khai
khống giá trị tài sản thế chấp, cầm cố, cung cấp sai
các giấy tờ chứng minh khả năng tài chính để được
vay vốn ngân hàng nhưng không với ý định chiếm
đoạt mà chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn, được sử
dụng vốn của ngân hàng với ý định sẽ hoàn trả, việc
không trả được nợ cho ngân hàng là do nguyên nhân
khách quan thì cũng không thể cấu thành tội lừa đảo
chiếm đoạt theo Điều 139, 140 BLHS và không thể
áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự để giải quyết
các quan hệ này.
Trong các tài liệu pháp lý thông thường, chiếm đoạt
được hiểu là hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái
pháp luật tài sản, quyền tài sản đang thuộc sự quản lý
của một chủ thể (nhà nước, tập thể hoặc cá nhân)
thành tài sản của mình 5. Các đặc điểm pháp lý của
hành vi chiếm đoạt bao gồm:
- Về mặt khách quan, hành vi làm cho chủ tài sản mất
khả năng thực tế thực hiện quyền sử dụng, quyền
định đoạt, quyền sở hữu đối với tài sản.
- Đối tượng chiếm đoạt là tài sản và quyền tài sản.
Trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, tài sản bị chiếm
đoạt có thể là vốn dưới hình thức tiền tệ (tiền VN
hoặc ngoại tệ), trong một số trường hợp có thể là
quyền tài sản: các công cụ thanh toán (ngân phiếu
thanh toán, séc hoặc các giấy tờ có giá bằng tiền).
Các tài sản, quyền tài sản này phải có thực, thuộc sở
hữu của người bị chiếm đoạt và chủ sở hữu không từ
chối quyền sở hữu đối với tài sản.
Thứ hai, bỏ trốn nhằm gây khó khăn cho việc thu hồi
nợ, ngoại trừ những trường hợp bỏ trốn vì sợ chủ nợ
cưỡng bức, hành hạ… những đe dọa này, nếu có,
phải có thực và nguy hiểm trực tiếp đối với con nợ.
Thứ ba, người đi vay cố ý không trả nợ, mặc dù có
khả năng trả nợ, hoặc có hành vi tẩu tán, chuyển dịch
tài sản, che dấu doanh thu, thu nhập… nhằm mục
đích trốn tránh việc trả nợ. Nguyên nhân dẫn đến việc
không trả được nợ phải được xác định rõ không phải
do kinh doanh thua lỗ, do biến động giá cả, bất ổn
của thị trường hoặc do thiên tai và các trường hợp bất
khả kháng mà là hậu quả của việc cố ý làm trái với
các qui định pháp luật hiện hành trong kinh doanh
như sử dụng vốn vay vào các hoạt động kinh doanh
pháp luật không cho phép (dùng vốn vay đi buôn lậu,
buôn bán hàng cấm, làm hàng giả, đưa hối lộ…) vi
phạm các qui định pháp luật trong lĩnh vực kinh
doanh, quản lý tài chính doanh nghiệp. Theo các tác
giả Nguyễn Văn Hiện, Đinh Văn Quế, để xác định
doanh nghiệp có thực sự thua lỗ, thông thường áp
dụng phương pháp xác định đầu ra, đầu vào tức lấy
tổng thu trừ đi tổng chi, phần chênh lệch nếu không
chứng minh được là thua lỗ thì đó là chiếm đoạt 7
Song, vấn đề đặt ra là làm thế nào để chứng minh
rằng việc không trả nợ không là hậu quả của việc
kinh doanh thua lỗ, do các biến động giá cả, thị
trường… bởi trong thực tế chưa có những qui định
pháp luật thống nhất về chế độ hoá đơn - chứng từ
trong kinh doanh, chưa có những qui định pháp luật
đồng bộ, chuẩn mực về báo cáo tài chính, phương
khi khoản nợ đến hạn…
Nếu đồng ý với quan điểm thứ hai, trong thực tế áp
dụng sẽ gặp nhiều bất cập. Bởi vì, hiện nay đa số các
hợp đồng tín dụng, điều khoản về mục đích sử dụng
vốn vay ghi rất chung chung là “kinh doanh” vì vậy
việc mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại, du lịch
nước ngoài trong một chừng mực nào đó có thể gọi là
kinh doanh hoặc gián tiếp nhằm mục đích kinh
doanh, đặc biệt là đối với các nghĩa vụ, các khoản nợ
của doanh nghiệp. Vì vậy, họ có thể sử dụng vốn vay
với các mục đích khác nhau miễn là không vi phạm
pháp luật.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, tùy thuộc vào vụ
việc cụ thể, cơ quan điều tra phải xem xét đến ý thức
trả nợ của người đi vay. Trong một số trường hợp do
sử dụng vốn sai mục đích xin vay, dẫn đến khả năng
mất trả nợ cho ngân hàng, khách hàng có xin gia hạn
khoản vay, hoặc cam kết với ngân hàng sẽ chịu mọi
chế tài do việc chậm trả nợ cho ngân hàng như áp
dụng lãi suất quá hạn, phạt vi phạm hợp đồng nhưng
ngân hàng vẫn không đồng ý gia hạn, thì không thể
truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này.
Một số trường hợp, khi người đi vay không trả được
nợ hoàn toàn do các yếu tố khách quan như bị người
khác lừa đảo, chiếm đoạt… dẫn đến mất khả năng chi