THẨM QUYỀN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH
NGUYỄN THỊ NHÀN
ThS. Giảng viên khoa Luật Hành chính - ĐH Luật
TP. HCM
Xử phạt vi phạm hành chính là một dạng hoạt động
áp dụng pháp luật hành chính, là quá trình các cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền căn cứ vào
pháp luật, tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân
người vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ… để
ban hành các quyết định xử phạt. Việc hoàn thiện các
quy định về xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC)
là đòi hỏi cấp thiết trong tình hình hiện nay nhằm
đảm bảo việc xử phạt đúng đắn. Các quy định về
XPVPHC phải được thực thi nghiêm chỉnh từ phía
các cơ quan có thẩm quyền XPVPHC, trong đó việc
xác định thẩm quyền xử phạt có ý nghĩa rất quan
trọng.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995 (Pháp lệnh
năm 1995), và các văn bản khác về XPVPHC như
các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các Bộ
trưởng là cơ sở pháp lý để xác định: cơ quan nào có
thẩm quyền xử phạt; hình thức và biện pháp xử phạt
mà cơ quan đó được áp dụng; cơ quan đó có thẩm
quyền phạt đối tượng thực hiện hành vi vi phạm hành
chính nào; mức phạt được áp dụng là bao nhiêu
v.v…. Từ đó góp phần loại trừ tình trạng hành vi vi
phạm hành chính của cá nhân, tổ chức bị xử phạt bởi
người không có thẩm quyền; người có thẩm quyền áp
dụng hình thức phạt nào đó nhưng lại vượt quá mức
cho phép, thậm chí áp dụng hình thức xử phạt mà
động thường xuyên, liên tục, cơ quan hành chính đủ
điều kiện đảm bảo xử lý nhanh chóng, có hiệu quả
các vi phạm hành chính. Hơn nữa, vi phạm hành
chính xảy ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, mà trên bất cứ địa bàn nào, dù ở cấp cơ sở cũng
đều có sự hiện diện của các cơ quan quản lý. Nhờ đó
mà các cơ quan này có điều kiện phát hiện và xử lý
kịp thời các vi phạm hành chính.
Thẩm quyền xử phạt của Tòa án nhân dân được quy
định trong một phạm vi giới hạn: Thẩm phán được
phân công chủ tọa phiên tòa có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính với hai hình thức phạt cảnh cáo
và phạt tiền đến 100.000 đồng đối với các chủ thể
thực hiện hành vi cản trở hoạt động xét xử.
Tuy xu hướng chung là giảm dần về số lượng các cơ
quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính,
nhưng để đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước, phù hợp
với tình hình kinh tế - xã hội, so với Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính năm 1989 (Pháp lệnh năm 1989),
Pháp lệnh năm 1995 đã bổ sung thêm một số chức
danh có thẩm quyền xử phạt như: Cục trưởng Cục
kiểm lâm, Cục trưởng Cục Thuế, Giám đốc công an
cấp tỉnh…. Tuy nhiên, quy định của Pháp lệnh năm
1995 về các cơ quan có thẩm quyền XPVPHC lại
không còn phù hợp với một số văn bản pháp luật ban
hành sau năm 1995 (Ví dụ: Luật Thương mại năm
1997 có quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính của cơ quan thanh tra thương mại, Nghị
định 78CP ngày 29-11-1996 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và
vi nào. Pháp lệnh năm 1995 đã phân định thẩm quyền
xử phạt dựa trên cơ sở loại hành vi, tính chất, mức độ
vi phạm. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp khác
nhau có quyền áp dụng các hình thức và mức phạt
khác nhau. Tương tự, đối với cơ quan thanh tra cũng
có sự phân định về mức phạt, hình thức phạt. Quy
định này là hợp lý vì các cơ quan quản lý nhà nước,
với vị trí pháp lý khác nhau, phạm vi thẩm quyền
khác nhau thì không thể áp dụng các hình thức phạt,
mức phạt giống nhau.
Cả hai Pháp lệnh năm 1989 và Pháp lệnh năm 1995
đều có quy định thống nhất là: nếu vi phạm hành
chính thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan thì việc
xử lý do cơ quan thụ lý đầu tiên thực hiện.
Pháp lệnh năm 1995 và các Nghị định của Chính phủ
về XPVPHC trong các lĩnh vực đã cố gắng thể hiện
sự phân định thẩm quyền xử phạt ngày càng rõ, hợp
lý hơn. Song, thực tế cho thấy: đối với một số cơ
quan thẩm quyền về XPVPHC được Nhà nước trao
chưa thực sự phù hợp.
Ví dụ: Điều 26 - Pháp lệnh năm 1995 quy định Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền phạt đến
200.000 đồng. Xuất phát từ sự khác biệt về kinh tế xã
hội của địa bàn xã, phường, mức phạt trên đối với
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là phù hợp. Song, với
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, đây là mức phạt
quá thấp, không phù hợp với đặc điểm địa bàn
phường là hoạt động sản xuất – kinh doanh – thương
mại – dịch vụ diễn ra sôi động, tình hình trật tự xã hội
phức tạp.
tượng, tính chất, mức độ vi phạm. Có nhiều vi phạm
hành chính, pháp luật quy định chỉ phạt cảnh cáo,
nhưng người có thẩm quyền lại áp dụng hình thức
phạt tiền. Chế tài phạt tiền thường quy định mức phạt
tiền tối thiểu và mức phạt tiền tối đa. Mục đích của
quy định này là để người có thẩm quyền căn cứ vào
tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm,
các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để quyết định hình
thức và mức phạt tiền cho phù hợp. Nhưng trong thực
tế đã xảy ra tình trạng: hoặc là người thụ lý đầu tiên
vụ vi phạm cố tình lựa chọn mức phạt nào thuộc
thẩm quyền của mình để ra quyết định xử phạt mà
không phải chuyển lên cấp trên, nếu Nghị định quy
định về việc xử phạt hành vi đó có quy định về trích
thưởng; hoặc ngược lại, dù mức phạt thuộc thẩm
quyền của người thụ lý đầu tiên, nhưng họ vẫn
chuyển biên bản lên cấp trên với lý do vi phạm không
thuộc thẩm quyền xử lí của mình để đùn đẩy trách
nhiệm. Do vậy, các vụ vi phạm hành chính chuyển
lên cấp trên quá nhiều dẫn đến việc xử lí không đúng
đắn, kịp thời.
Sự vi phạm về thủ tục, hình thức và mức phạt có
nhiều nguyên nhân, song chúng tôi cho rằng nguyên
nhân chủ yếu là do pháp luật hiện hành còn nhiều bất
cập.
Ví dụ: Điều 12 và Điều 13 Pháp lệnh năm 1995 quy
định về các hình thức phạt cảnh cáo và phạt tiền,
song chưa có sự phân biệt thế nào là vi phạm hành
chính nhỏ để áp dụng hình thức phạt cảnh cáo hay
phạt tiền. Quy định về mức phạt tiền tối thiểu và tối
tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm có giá trị từ
5.000.000 đồng trở lên cho Viện kiểm sát nhân dân
cùng cấp cũng cần quy định rõ thời hạn gửi là bao lâu
kể từ ngày ra quyết định xử phạt. Thực tế có những
cơ quan, sau một thời gian, với một số lượng nhất
định quyết định phạt tiền, quyết định tịch thu phương
tiện, tang vật vi phạm mới gửi cho Viện kiểm sát
nhân dân cùng cấp. Do vậy, VKSND gặp rất nhiều
khó khăn trong việc kiểm tra các quyết định gửi đến.
Thứ tư: Chất lượng đội ngũ những người có thẩm
quyền xử phạt.
Trong thực tế, nhiều người có thẩm quyền xử phạt đã
không tuân thủ các quy định của pháp luật, có người
đã “nhẹ tay có mục đích” khi XPVPHC. Do vậy, việc
XPVPHC chưa bảo đảm tính nghiêm minh, khách
quan, công bằng.
Từ những quy định pháp luật hiện hành về thẩm
quyền XPVPHC và thực tiễn thực hiện thẩm quyền
này, thiết nghĩ việc sửa đổi Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính cần quán triệt một số nội dung sau:
Một là, cần quy định hợp lý hệ thống các cơ quan có
thẩm quyền XPVPHC. Vấn đề không phải ở chỗ càng
nhiều cơ quan có thẩm quyền XPVPHC thì càng tốt.
Ví dụ: Bộ Thương mại chưa thành lập cơ quan thanh
tra chuyên ngành thương mại, và cơ quan quản lý thị
trường được Chính phủ giao chức năng thanh tra
chuyên ngành thương mại nên cần tiếp tục giao cho
cơ quan quản lý thị trường thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính. Điều này bảo đảm cho công cuộc
đấu tranh, xử lý các hành vi buôn lậu, kinh doanh trái
với tính chất, mức độ vi phạm… thì việc xác định
trách nhiệm của chủ thể ra quyết định xử phạt sẽ rất
khó khăn.
Pháp lệnh mới cần được xây dựng theo hướng khắc
phục nhược điểm của Pháp lệnh năm 1989 và Pháp
lệnh năm 1995 về việc xác định thẩm quyền xử phạt
đối với trường hợp một người thực hiện nhiều vi
phạm hành chính. Xuất phát từ thẩm quyền, từ chế độ
hoạt động của Ủy ban nhân dân, nên quy định: Nếu
một cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm
hành chính mà các hành vi vi phạm thuộc thẩm
quyền xử phạt của nhiều cơ quan khác nhau thì hồ sơ
vụ vi phạm được chuyển tới Chủ tịch Ủy ban nhân
dân để ra quyết định xử phạt.
Hai là, thẩm quyền xử phạt không chỉ thể hiện ở việc
xác định cơ quan nào có quyền phạt mà trước hết thể
hiện ở hình thức và mức phạt. Quy định về hình thức,
mức phạt mà người có thẩm quyền áp dụng phải phù
hợp với đặc thù quản lý ngành, lĩnh vực, với tình hình
thực tế. Lĩnh vực quản lý nào càng quan trọng, càng
phức tạp, hành vi vi phạm trong lĩnh vực đó càng
nguy hiểm, mức phạt phải càng cao thì mới bảo đảm
tác dụng răn đe, trừng phạt, phòng ngừa.
Pháp lệnh mới cần quy định giá trị tang vật, phương
tiện bị tịch thu cho phù hợp, nếu không sẽ vi phạm
nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính: “… phải căn
cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân, các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức, biện
pháp xử lý thích hợp”. Nếu Pháp lệnh không quy
định rõ về mức tịch thu tang vật, phương tiện vi
tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức nộp phạt
tại chỗ nếu cá nhân, tổ chức vi phạm bị phạt đến
100.000 đồng,… Quy định này sẽ khắc phục được
tình trạng do nơi nộp phạt xa kho bạc nhà nước mà
người bị xử phạt hối lộ cho người có thẩm quyền xử
phạt với suy nghĩ “đôi bên cùng có lợi”.
Hoàn thiện các quy định về XPVPHC, trong đó có
các quy định về thẩm quyền XPVPHC là nhu cầu cấp
thiết hiện nay vì vi phạm hành chính xảy ra rất phổ
biến, gây nhiều tác hại về kinh tế – xã hội. Việc xử lý
đúng đắn các vi phạm hành chính phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, một trong các yếu tố đó là những quy
định đúng đắn về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính. Cùng với việc hoàn thiện các quy định pháp
luật là trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến các văn
bản về xử phạt vi phạm hành chính, nhằm tác động
đến nhiều chủ thể gồm người có thẩm quyền xử phạt
cũng như các tổ chức, cá nhân. Những quy định về
thẩm quyền XPVPHC càng có điều kiện thực hiện tốt
trên thực tế khi có một đội ngũ những người có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính có phẩm chất,
trình độ, năng lực và ý thức, trách nhiệm cao trong
quá trình thực thi chức trách được giao.